|
Câu |
Đề Tài |
|
Lời mở đầu |
|
|
Sự sống của con người |
|
|
Lưu truyền đức tin |
|
|
Sách giáo lý này được soạn với mục đích gì? Cho ai? |
|
|
Hình thức của sách giáo lý |
|
|
Những chỉ dẫn thực hành cho việc sử dụng sách giáo lý |
|
|
Những thích nghi cần thiết |
|
|
Tuyên xưng Đức Tin |
|
|
Những con đường giúp con
người nhận biết Thiên Chúa |
|
|
Việc nhận biết Thiên Chúa |
|
|
Phải nói về Thiên Chúa thế nào? |
|
|
Tóm lược |
|
|
Thiên Chúa mạc khải kế hoạch yêu thương |
|
|
Các
giai đoạn
mạc
khải |
|
|
Chúa
Giêsu Kitô - Đấng trung gian và là sự viên mãn |
|
|
Tóm lược |
|
|
Sự
lưu truyền mạc khải của Thiên Chúa |
|
|
Tương
quan giữa thánh truyền và thánh kinh |
|
|
Giải
nghĩa kho tàng đức tin |
|
|
Tóm lược |
|
|
Thánh
Kinh |
|
|
Linh
hứng
và chân lý
Thánh Kinh |
|
|
Chúa
Thánh Thần, đấng giải thích
Thánh Kinh |
|
|
Thư
quy các sách thánh |
|
|
Thánh
Kinh trong đời sống Hội Thánh |
|
|
Tóm lược |
|
|
Con người đáp Lời Thiên Chúa |
|
|
Tin
vào một mình Thiên Chúa |
|
|
Những
đặc
tính của
Đức Tin |
|
|
Chúng
tôi tin |
|
|
Ngôn ngữ Đức Tin |
|
|
Một
Đức Tin duy nhất. |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tuyên
xưng Đức Tin Kitô Giáo |
|
|
Tôi
tin kính Đức
Chúa Trời là Cha |
|
|
Thiên
Chúa Mạc Khải Danh Ngài |
|
|
Thiên
Chúa, Đấng hiện hữu, là chân lý
và là tình
yêu |
|
|
Những
hệ
quả
của
Đức Tin vào Thiên Chúa duy nhất |
|
|
Tóm lược |
|
|
Chúa
Cha |
|
|
Mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi |
|
|
Ba
Ngôi chí Thánh trong giáo lý Đức Tin |
|
|
Các
công trình
Thần Linh và các sứ vụ
của
Ba Ngôi |
|
|
Tóm lược |
|
|
Đấng
toàn năng |
|
|
Tóm lược |
|
|
Đấng
Tạo Hoá |
|
|
Dạy
giáo lý
về
công trình
tạo
dựng |
|
|
Tạo
dựng
- công trình của Ba Ngôi Chí Thánh |
|
|
Trần gian được tạo
dựng
để
làm vinh danh
Thiên Chúa |
|
|
Mầu
nhiệm
tạo
dựng |
|
|
Thiên
Chúa Thực Hiện Kế Hoạch Của Ngài |
|
|
Tóm lược |
|
|
Trời
và đất |
|
|
Các
Thiên Thần |
|
|
Thế
giới
hữu
hình |
|
|
Tóm lược |
|
|
Con
người |
|
|
Một
hữu thể có xác có hồn |
|
|
Thiên
Chúa đã tạo dựng con người |
|
|
Con người trong vườn địa đàng |
|
|
Tóm lược |
|
|
Sự sa ngã |
|
|
Sự sa ngã của các Thiên Thần |
|
|
Tội Tổ Tông |
|
|
Cha đã không bỏ mặc con người |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô |
|
|
Đức Kitô |
|
|
Con một Thiên Chúa |
|
|
Chúa |
|
|
Tóm lược |
|
|
Con Thiên Chúa làm người |
|
|
Nhập thể |
|
|
Thiên Chúa thật và người thật |
|
|
Con Thiên Chúa làm người như thế nào? |
|
|
Tóm lược |
|
|
Người xuống thai, sinh bởi bà
Maria đồng trinh |
|
|
Tóm lược |
|
|
Các
mầu nhiệm của cuộc đời Đức Kitô |
|
|
Các mầu nhiệm của thời thơ ấu của Chúa
Giêsu |
|
|
Các mầu nhiệm của quảng đời công khai
của Chúa Giêsu |
|
|
Tóm lược |
|
|
Chúa Giêsu Kitô đã “chịu nạn
đời quan Phongtiô Philatô…” |
|
|
Chúa Giêsu và lề luật |
|
|
Chúa Giêsu và đền thờ |
|
|
Chúa Giêsu và Đức Tin của Israel |
|
|
Tóm lược |
|
|
Vụ án Chúa Giêsu |
|
|
Cái chết cứu chuộc của Đức Kitô |
|
|
Đức Kitô đã tự hiến cho Chúa Cha |
|
|
Tóm lược |
|
|
Chúa
Giêsu Kitô được táng xác |
|
|
Tóm lược |
|
|
Chúa Giêsu Kitô xuống ngục tổ
tông |
|
|
Tóm lược |
|
|
Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết
mà sống lại |
|
|
Sự Phục Sinh |
|
|
Ý nghĩa và ảnh hưởng cứu độ của
sự Phục Sinh |
|
|
Tóm lược |
|
|
Chúa Giêsu lên trời, ngự bên hữu
Đức Chúa Cha |
|
|
Người sẽ trở lại trong vinh quang |
|
|
Để phán xét kẻ sống và kể chết |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tôi
tin kính Đức Chúa Thánh Thần |
|
|
Các danh hiệu và các biểu tượng của
Chúa Thánh Thần |
|
|
Thần Khí và Lời Thiên Chúa |
|
|
Thần Khí của Đức Kitô lúc thời gian viên
mãn |
|
|
Thần Khí và Hội Thánh trong thời đại
cuối cùng |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tôi
tin Hội Thánh Công giáo |
|
|
Hội Thánh trong kế hoạch của
Thiên Chúa |
|
|
Nguồn gốc, nền tảng và sứ vụ của Hội
Thánh |
|
|
Mầu Nhiệm Hội Thánh |
|
|
Tóm lược |
|
|
Hội
Thánh |
|
|
Hội Thánh - Thân thể Đức Kitô |
|
|
Hội Thánh - Đền Thờ của Chúa Thánh Thần |
|
|
Tóm lược |
|
|
Hội Thánh duy nhất, thánh thiện,
công giáo và tông truyền |
|
|
Hội Thánh thánh thiện |
|
|
Hội Thánh Công Giáo |
|
|
Hội Thánh tông truyền |
|
|
Tóm lược |
|
|
Các
Kitô hữu: Phẩm trật, giáo dân, đời sống thánh
hiến |
|
|
Cơ cấu phẩm trật của Hội Thánh |
|
|
Các Kitô hữu giáo dân |
|
|
Đời sống Thánh hiến |
|
|
Tóm lược |
|
|
Các Thánh thông công |
|
|
Hiệp thông giữa Hội Thánh Thiên Quốc và Hội Thánh trần thế |
|
|
Tóm lược |
|
|
Đức Maria - Mẹ
Đức Kitô, Mẹ Hội Thánh |
|
|
Việc sùng kính Đức
Trinh Nữ diễm phúc |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tôi tin phép tha tội |
|
|
Quyền chìa khoá |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tôi tin xác loài người
ngày sau sống lại |
|
|
Sự phục sinh của
Đức Kitô và của chúng ta |
|
|
Chết trong Đức Kitô
Giêsu |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tôi
tin hằng sống vậy |
|
|
Thiên đàng |
|
|
Sự thanh luyện cuối
cùng hoặc luyện ngục |
|
|
Hỏa ngục |
|
|
Phán xét cuối cùng |
|
|
Hy vọng trời mới
đất mới |
|
|
Tóm lược |
|
|
Amen |
|
|
Cử hành mầu nhiệm
Kitô giáo |
|
|
Nhiệm cục Bí Tích |
|
|
Công
trình của Đức Kitô trong phụng vụ |
|
|
Chúa Thánh Thần và
Hội Thánh trong phụng vụ |
|
|
Tóm lược |
|
|
Mầu nhiệm
Vượt Qua trong các bí tích của Hội Thánh |
|
|
Các bí tích của
Hội Thánh |
|
|
Các bí tích của
Đức Tin |
|
|
Các bí tích của ơn
Cứu Độ |
|
|
Các bí tích của
đời sống vĩnh cữu |
|
|
Cử hành mầu nhiệm
vượt qua trong các bí tích |
|
|
Cử hành thế nào? |
|
|
Cử hành khi nào? |
|
|
Cử hành ở đâu? |
|
|
Tóm lược |
|
|
Sự đa dạng của phụng vụ |
|
|
Tóm lược |
|
|
Bảy bí tích của Hội Thánh |
|
|
Bí tích này được
gọi thế nào? |
|
|
Bí tích Rửa Tội
trong nhiệm cục Cứu Độ |
|
|
Bí tích Rửa Tội
được cử hành như thế nào? |
|
|
Ai có thể lãnh
nhận bí tích Rửa Tội? |
|
|
Ai có thể ban bí
tích Rửa Tội? |
|
|
Ân sủng của bí
tích Rửa Tội |
|
|
Tóm lược |
|
|
Bí tích Thêm Sức |
|
|
Các dấu chỉ và
nghi thức của bí tích Thêm Sức |
|
|
Những hiệu quả của
bí tích Thêm Sức |
|
|
Ai có thể lãnh
nhận bí tích Thêm Sức? |
|
|
Thừa tác viên bí
tích Thêm Sức |
|
|
Tóm lược |
|
|
Bí tích
Thánh Thể |
|
|
Bí tích Thánh Thể
được gọi thế nào? |
|
|
Bí tích Thánh Thể
trong nhiệm cục Cứu Độ |
|
|
Cử
hành phụng vụ Thánh Thể |
|
|
Hy
tế bí tích |
|
|
Bàn
tiệc Vượt Qua |
|
|
Bí tích Thánh Thể
– Bảo chứng cho vinh quang |
|
|
Tóm lược |
|
|
Các
bí tích chữa lành |
|
|
Tại sao cần bí
tích Giao Hòa? |
|
|
Thống
hối nội tâm |
|
|
Bí tích thống hối
và giao hoà |
|
|
Các hành vi của
hối nhân |
|
|
Thừa tác viên của
bí tích Thống Hối |
|
|
Các hiệu quả của
bí tích Thống Hối |
|
|
Các
ân xá |
|
|
Cử
hành bí tích Thống Hối |
|
|
Tóm lược |
|
|
Bí Tích Xức Dầu bệnh nhân |
|
|
Ai lãnh nhận và ai
ban bí tích Xức Dầu bệnh nhân |
|
|
Hiệu quả của bí
tích Xức Dầu bệnh nhân |
|
|
Tóm lược |
|
|
Các
bí tích phục vụ hiệp thông |
|
|
Bí tích Truyền
Chức Thánh |
|
|
Ba cấp bậc của bí
tích Truyền Chức Thánh |
|
|
Việc cử hành bí
tích Truyền Chức Thánh |
|
|
Những
hiệu quả của bí tích Truyền Chức Thánh |
|
|
Tóm lược |
|
|
Bí Tích Hôn Phối |
|
|
Cử hành bí tích
hôn phối |
|
|
Sự
ưng thuận kết hôn |
|
|
Những hiệu quả của
bí tích Hôn Phối |
|
|
Những điều thiện
hảo của tình yêu phu phụ |
|
|
Hội
Thánh tại gia |
|
|
Tóm lược |
|
|
Những cử hành
phụng vụ khác |
|
|
Lễ nghi an táng theo Kitô giáo |
|
|
Cử hành
lễ nghi an táng |
|
|
Sự sống trong Chúa Kitô |
|
|
Ơn gọi
của con người – Sống trong Thánh Thần |
|
|
Ơn gọi
hưởng vinh phúc của Ta |
|
|
Tóm lược |
|
|
Tự do của con người |
|
|
Tự do
của con người trong kế hoạch Cứu Độ |
|
|
Tóm
lược |
|
|
Tính
luân lý của các hành vi nhân linh |
|
|
Tính
luân lý của các đam mê |
|
|
Lương tâm |
|
|
Phán
đoán sai lầm |
|
|
Các nhân đức |
|
|
Các
nhân đức đối thần |
|
|
Hồng ân
vả hoa trái của Thánh Thần |
|
|
Tội
lỗi |
|
|
Các
thứ tội khác nhau |
|
|
Tội lỗi sinh sôi nảy nở |
|
|
Cộng đồng nhân loại |
|
|
Hoán
cải và xã hội |
|
|
Tham dự
vào sinh hoạt xã hội |
|
|
Công
ích |
|
|
Trách nhiệm và tham gia |
|
|
Công bằng xã hội |
|
|
Con người: Dị biệt nhưng
bình đẳng |
|
|
Tình
liên đới nhân loại |
|
|
Thiên Chúa Cứu Độ – Lề
luật và ân sủng |
|
|
Luật
luân lý tự nhiên |
|
|
Luật
cũ |
|
|
Luật
mới hay luật Tin Mừng |
|
|
Tóm lược |
|
|
Ân sủng
và sự công chính hoá |
|
|
Ân sủng |
|
|
Công phúc |
|
|
Sự
thánh thiện Kitô giáo |
|
|
Giáo Hội là mẹ và thầy |
|
|
Các
điều răn Hội Thánh |
|
|
Thưa Thầy, tôi phải làm
gì? |
|
|
Tóm lược |
|
|
Ngươi phải yêu mến Chúa |
|
|
Ngươi phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi |
|
|
Ngươi không được có thần nào khác |
|
|
Ngươi không được làm cho mình bất cứ hình tượng |
|
|
Danh
Thiên Chúa là Thánh |
|
|
Kêu danh
Thiên Chúa vô cớ |
|
|
Tóm lược |
|
|
Ngảy Sa-Bát |
|
|
Ngày
của Chúa |
|
|
Tóm
lược |
|
|
Ngươi phải yêu thương
người thân cận |
|
|
Bổn phận của các phần tử trong gia đình |
|
|
Gia đình và Nước Trời |
|
|
Tóm lược |
|
|
Điều răn thứ năm |
|
|
Tôn
trọng phẩm giá con người |
|
|
Bảo vệ
hoà bình |
|
|
Tóm lược |
|
|
Điều
răn thứ sáu |
|
|
Ơn gọi sống khiết tịnh |
|
|
Tình
yêu vợ chồng |
|
|
Những
xúc phạm đến phẩm giá hôn nhân |
|
|
Điều răn thứ bảy |
|
|
Tôn
trọng con người và tài sản |
|
|
Học thuyết xã hội |
|
|
Hoạt
động kinh tế và công bằng xã hội |
|
|
Công
bằng và tình liên đới giữa các quốc gia |
|
|
Yêu
thương người nghèo |
|
|
Điều
răn thứ tám |
|
|
Làm chứng cho chân lý |
|
|
Những
xúc phạm đến chân lý |
|
|
Tôn
trọng chân lý |
|
|
Sử dụng những phương tiện truyền thông |
|
|
Tóm lược |
|
|
Điều răn thứ chín |
|
|
Chiến
đấu để sống trong sạch |
|
|
Điề răn thứ mười |
|
|
Ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh
Thần |
|
|
Tôi muốn thấy Thiên Chúa |
|
|
Việc cầu nguyện Kitô giáo |
|
|
Mặc
khải về cầu nguyện |
|
|
Khi thời gian đã viên mãn |
|
|
Trong thời gian của Giáo Hội |
|
|
Khẩn
cầu |
|
|
Kinh
nguyện chuyển cầu |
|
|
Truyền thống cầu nguyện |
|
|
Con
đường cầu nguyện |
|
|
Dẫn
đến kinh nguyện |
|
|
Đời
sống cầu nguyện |
|
|
Suy gẫm |
|
|
Cầu
nguyện là một chiến đấu |
|
|
Tâm hồn khiêm tốn và tỉnh thức |
|
|
Lòng tin tưởng của người con |
|
|
Kiên
trì trong tình yêu |
|
|
Kinh nguyện của Đức Giêsu vào giờ của
Người |
|
|
Lời kinh Chúa dạy |
|
|
Lời cầu nguyện của Hội Thánh |
|
|
Lạy Cha
chúng con ở trên trời |
|
|
Lạy Cha chúng con |
|
|
Ở
trên trời |
|
|
Bảy
lời cầu xin |
|
|
Nước Cha trị đến |
|
|
Ý
Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời |
|
|
Xin Cha
cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày |
|
|
Xin tha nợ chúng con |
|
|
Xin chớ
để chúng con sa chước cám dỗ |
|
|
Vinh tụng ca kế̉
thúc |
|
|
Tóm lược |
“Lạy Cha,…sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17,3). “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,3-4) “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12), ngoài Danh Chúa Giêsu. [Back]
. .
Sự sống của con người
Nhận biết Thiên Chúa và yêu mến Ngài
Thiên Chúa, tự bản thể là Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ý định hoàn toàn do lòng nhân hậu, Ngài đã tự ý tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài. Do đó, trong mọi thời và mọi nơi, Ngài đã đến gần với con người. Thiên Chúa kêu gọi con người, giúp họ tìm kiếm Ngài, nhận biết và đem hết tâm lực yêu mến Ngài. Thiên Chúa triệu tập mọi người, vốn đã bị phân tán vì tội lỗi, để hợp nhất thành gia đình của Ngài là Hội Thánh. Để thực hiện điều này, khi thời gian tới hồi viên mãn, Ngài đã sai Con Ngài đến làm Đấng Chuộc Tội và Cứu Độ. Trong và nhờ Người Con ấy, Thiên Chúa kêu gọi loài người để trong Chúa Thánh Thần, họ trở nên dưỡng tử của Ngài và do đó, được thừa hưởng sự sống hạnh phúc của Ngài. [Back]
0002
Để tiếng gọi ấy vang vọng trên
toàn cõi địa cầu, Đức Kitô đã sai phái các Tông
Đồ do Người tuyển chọn, trao cho các ông nhiệm vụ
loan báo Tin Mừng: “Vậy anh em hãy đi, và làm cho muôn dân
trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và
Con, và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi
điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở
cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20). Các Tông Đồ, nhờ sức
mạnh của lời sai phái ấy, “ra đi rao giảng khắp
nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông và dùng những dấu
lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16,20). [Back]
0003
Những ai, nhờ ơn Chúa giúp, đã đón nhận
lời kêu gọi này của Đức Kitô và tự nguyện
đáp ứng, cũng được tình yêu Đức Kitô thúc đẩy
đi loan báo Tin Mừng khắp nơi trên thế giới. Kho tàng
này, những vị kế nhiệm đã lãnh nhận
từ các Tông Đồ, và bảo toàn một cách trung tín. Mọi
Kitô hữu cũng được kêu gọi lưu truyền kho tàng ấy
từ đời nọ đến đời kia, bằng lời rao
giảng đức tin, bằng cách sống đức tin trong sự
hiệp thông huynh đệ, và bằng việc cử hành đức
tin đó trong phụng vụ và kinh nguyện. [Back]
Lưu truyền
đức tin – Việc dạy
giáo lý
Từ rất sớm, thuật ngữ Dạy
Giáo Lý đã được dùng để gọi toàn bộ các nỗ
lực của Hội Thánh nhằm đào tạo các môn đệ,
nhằm giúp người ta tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và nhờ
tin như vậy mà được sống nhân danh Người, nhằm
giáo dục và huấn luyện họ trong cuộc sống đời
này, và như vậy, xây dựng Thân Thể Đức Kitô. [Back]
0005
“Cách chung, có thể khẳng định dạy giáo lý là giáo dục đức tin cho trẻ em, thanh niên và người lớn, đặc biệt qua việc giảng dạy giáo lý Kitô giáo, thông thường được tiến hành một cách có tổ chức và hệ thống, với mục đích dẫn đưa tín hữu đến cuộc sống Kitô hữu sung mãn” (CT 18). [Back]
0006
Dạy giáo lý có liên hệ với một
số yếu tố khác trong sứ mạng mục vụ của
Hội Thánh, mặc dầu không lẫn lộn với những
yếu tố đó. Những yếu tố này mang ít nhiều
tính chất của việc dạy giáo lý, chuẩn bị
cho việc dạy giáo lý hoặc bắt nguồn từ
đó. Đó là: việc sơ khởi loan báo Tin Mừng, cũng gọi
là rao giảng truyền giáo nhằm khơi dậy đức tin;
việc tìm kiếm những lý chứng để
tin; kinh nghiệm sống cuộc đời Kitô hữu; việc
cử hành các bí tích; việc gia nhập cộng đoàn Hội
Thánh; việc làm chứng bằng hoạt động tông đồ
và truyền giáo. [Back]
0007
“Quả thật, việc dạy giáo lý
được kết hợp và liên quan mật thiết với
toàn bộ đời sống của Hội Thánh. Chính nhờ
việc dạy giáo lý, Hội Thánh không những lan rộng
về địa dư và gia tăng về số lượng mà nhất
là còn tăng trưởng từ bên trong và đáp ứng với kế
hoạch của Thiên Chúa” ” (CT 13). [Back]
0008
Những thời kỳ Hội Thánh được
canh tân cũng là những thời kỳ mạnh về việc
dạy giáo lý. Thật vậy, vào thời hoàng kim của
các Giáo phụ, người ta thấy có những Thánh Giám mục
dành nhiều phần quan trọng trong thừa tác vụ của
các ngài cho việc dạy giáo lý. Đó là thánh Cyrillô
Giêrusalem, thánh Gioan Kim Khẩu, thánh Ambrôsiô, thánh Augustinô, và nhiều
Giáo phụ khác. Các ngài đã để lại những tác phẩm
dạy giáo lý mẫu mực. [Back]
0009
Thừa tác vụ dạy giáo lý luôn nhận
được những nguồn năng lực mới từ các Công đồng.
Về điểm này, Công đồng Triđentinô là một thí dụ
điển hình:
– Công đồng đã dành phần ưu tiên cho việc dạy
giáo lý trong các văn kiện của mình.
– Công đồng là nguồn gốc của Sách Giáo Lý Rôma (Catechismus Romanus), một cuốn
sách mang danh Công đồng; đây là một tác phẩm tuyệt vời
với tính cách là bản toát yếu giáo lý Kitô giáo.
– Công đồng đã khơi dậy trong Hội Thánh một mối quan tâm đáng kể đối với việc dạy giáo lý.
– Công đồng đã thúc đẩy việc soạn thảo nhiều bộ sách giáo lý, là công trình của các Thánh Giám mục và thần học gia, như thánh Phêrô Canisiô, thánh Carôlô Bôrômêô, thánh Turibiô Môgrôvejô, thánh Rôbertô Bellarminô. [Back]
0010
Vì thế, không lạ gì sau Công đồng Vaticanô II (mà Đức Thánh Cha Phaolô VI coi như cuốn sách giáo lý vĩ đại của thời hiện đại), việc dạy giáo lý trong Hội Thánh lại được quan tâm. Các văn kiện sau đây làm chứng điều đó: Chỉ thị tổng quát về việc dạy giáo lý ban hành năm 1971, các khóa họp Thượng Hội đồng Giám mục về Phúc âm hoá và về việc dạy giáo lý, các tông huấn Evangelii nuntiandi và Catechesi tradendae tổng kết các khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục nói trên. Khóa họp bất thường của Thượng Hội đồng Giám mục, cử hành năm 1985, yêu cầu: Ước nguyện chung là có một sách giáo lý hay một bản toát yếu tóm lược toàn bộ đạo lý công giáo, cả về đức tin lẫn luân lý. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhất trí với ước nguyện của Thượng Hội đồng Giám mục, ngài nhìn nhận rằng: “Ước nguyện đó nói lên một nhu cầu thiết thực của Hội Thánh toàn cầu cũng như của các Giáo Hội địa phương”. Ngài đã cẩn thận quan tâm để ước nguyện đó của các Nghị phụ được thực hiện. [Back]
Sách
giáo lý này được soạn với mục đích gì?
Mục tiêu của Sách Giáo Lý này là trình bày một cách mạch lạc và tổng hợp những nội dung cốt yếu và căn bản của giáo lý công giáo về đức tin và luân lý, dưới ánh sáng Công đồng Vaticanô II và toàn bộ Thánh Truyền của Hội Thánh. Những nguồn mạch chính của sách này là Thánh Kinh, các Thánh Giáo phụ, phụng vụ và Huấn quyền của Hội Thánh. Sách được soạn thảo để làm “như điểm quy chiếu cho các sách giáo lý hay bản toát yếu sẽ được soạn thảo trong các miền khác nhau” (E Civitate Vaticana 1985). [Back]
0012
Sách Giáo Lý này chủ yếu được dành cho các vị có trách nhiệm dạy giáo lý: trước hết là các Giám mục, trong tư cách là thầy dạy đức tin và Mục tử của Hội Thánh. Sách được trao cho các ngài như một dụng cụ giúp các ngài chu toàn nhiệm vụ dạy dỗ Dân Thiên Chúa. Qua các Giám mục, sách được gửi đến những người soạn sách giáo lý, đến các linh mục và các giáo lý viên. Đọc sách này cũng sẽ hữu ích cho mọi Kitô hữu khác. [Back]
Hình thức Sách Giáo Lý này dựa theo truyền thống cổ điển của các sách giáo lý, được soạn xoay quanh bốn “trụ căn bản”: tuyên xưng đức tin trong Phép Rửa, các bí tích của đức tin, đời sống theo đức tin (các Điều Răn), và kinh nguyện của tín hữu (kinh Lạy Cha). [Back]
0014
Phần thứ
nhất: Tuyên xưng đức tin
Những ai thuộc về Đức Kitô nhờ đức tin và Phép Rửa đều phải tuyên xưng đức tin của Phép Rửa trước mặt mọi người (Mt 10:32; Rm 10:9). Vì thế, Sách Giáo Lý này trước hết trình bày nội dung của mạc khải và đức tin: qua mạc khải, Thiên Chúa đến với con người và ban chính mình Ngài cho con người; nhờ đức tin, con người đáp lại Thiên Chúa. Kinh Tin Kính tóm lược những hồng ân mà Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc mọi điều thiện hảo, là Đấng Cứu chuộc, là Đấng Thánh hoá, đã ban cho con người. Các hồng ân trên được sắp đặt trong “ba chương” về Phép Rửa, đó là tin vào một Thiên Chúa duy nhất: Chúa Cha toàn năng, Đấng Tạo Hoá; Chúa Giêsu Kitô, Con của Ngài, là Chúa và là Đấng Cứu độ chúng ta; và Chúa Thánh Thần, trong Hội Thánh. [Back]
0015
Phần thứ
hai: Các bí tích đức tin
Phần thứ hai trình bày ơn cứu độ của Thiên Chúa, đã được Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần thực hiện một lần cho mãi mãi, nay được hiện tại hoá như thế nào trong các hành động thánh thiêng của phụng vụ Hội Thánh, đặc biệt trong bảy bí tích. [Back]
0016
Phần thứ
ba: Đời sống đức tin
Phần thứ ba nêu lên cùng đích tối hậu của con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, là vinh phúc, và những con đường để đạt tới vinh phúc đó: nhờ hành động ngay chính và tự do, với sự trợ giúp của Luật và ân sủng Chúa; nhờ thực thi mệnh lệnh song hành “mến Chúa, yêu người”, được triển khai trong Mười Điều Răn của Thiên Chúa. [Back]
0017
Phần thứ tư: Kinh nguyện trong đời sống đức tin
Phần cuối cùng của Sách Giáo Lý nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của kinh nguyện trong đời sống các tín hữu, kết thúc bằng việc giải thích vắn tắt bảy lời cầu xin trong kinh Lạy Cha. Nơi những lời cầu xin này, chúng ta thấy đúc kết mọi điều thiện hảo mà chúng ta phải hy vọng và Cha chúng ta ở trên trời muốn ban cho chúng ta. [Back]
Những
chỉ dẫn thực hành cho việc sử dụng sách giáo lý này
Sách Giáo Lý này được coi là một bản trình bày mạch lạc về toàn bộ đức tin công giáo. Vậy phải đọc sách này như một khối thống nhất. Qua các chỉ dẫn ghi ngoài lề bản văn và qua bảng mục lục phân tích được đặt ở cuối sách, người đọc có thể thấy được sự liên hệ của mỗi chủ đề với toàn bộ đức tin. [Back]
0019
Thường các đoạn văn Thánh Kinh không được trích nguyên văn, nhưng chỉ ghi xuất xứ ở cước chú (bằng ký hiệu “X.”). Để hiểu các đoạn văn ấy cách sâu xa hơn, cần phải tìm đến chính các bản văn. Các tham chiếu Thánh Kinh này là công cụ làm việc cho việc dạy giáo lý. [Back]
0020
Những đoạn in chữ nhỏ ở một số chỗ là những ghi chú về mặt sử học, minh giáo, hoặc là những trình bày bổ sung về tín lý. [Back]
0021
Các đoạn trích dẫn in chữ nhỏ, trích từ tác phẩm của các Giáo phụ, các bản văn phụng vụ, các văn kiện của Huấn quyền và từ Hạnh các Thánh, được dùng để làm phong phú thêm cho việc trình bày giáo lý. Những bản văn ấy được chọn thường để sử dụng trực tiếp trong việc dạy giáo lý. [Back]
0022
Cuối mỗi nội dung có chung đề tài, có một số câu ngắn gọn tóm lược các điểm chính yếu của giáo lý. Những câu Tóm Lược ấy nhằm đề xuất những công thức tổng hợp và dễ nhớ, cho việc dạy giáo lý ở các địa phương. [Back]
Những thích nghi cần thiết
Sách Giáo Lý này nhấn mạnh việc
trình bày giáo lý. Sách nhằm mục đích giúp hiểu
biết đức tin cách sâu xa hơn. Nhờ đó, đức tin được
trưởng thành, đâm rễ sâu hơn vào cuộc sống và chiếu
toả trong đời sống chứng nhân. [Back]
0024
Chính vì nhằm mục đích đó, Sách Giáo Lý này không tìm cách đưa ra những thích nghi, trong cách trình bày giáo lý cũng như những phương pháp dạy giáo lý, theo những đòi hỏi do khác biệt về văn hóa, tuổi tác, mức trưởng thành tinh thần, tập quán xã hội và giáo hội, nơi những người học giáo lý. Những thích nghi cần thiết ấy là việc của các sách giáo lý địa phương, và nhất là của những vị giảng dạy các Kitô hữu. “Người có nhiệm vụ giảng dạy, phải trở nên tất cả cho mọi người, để chinh phục mọi người cho Đức Kitô…. Và đừng nghĩ rằng những người được giao cho mình, về đức tin, chỉ là một loại người duy nhất, cho nên có thể giảng dạy bằng một đường lối và phương pháp, và có thể hướng dẫn mọi tín hữu đến lòng đạo chân thật theo cùng một cách như nhau: nhưng vì có một số người giống như trẻ sơ sinh, một số khác đang bắt đầu lớn lên trong Đức Kitô, một số khác nữa một cách nào đó đã trưởng thành, nên cần phải cẩn thận xem ai cần sữa, ai cần thức ăn cứng hơn…. Đó là điều Thánh Tông Đồ đã truyền cho những ai được gọi vào tác vụ này, để khi dạy các mầu nhiệm đức tin và các quy luật sống, họ biết thích nghi với tinh thần và trí hiểu của người nghe. [Back]
0025
Để kết thúc phần trình bày này, thiết tưởng nên nhắc lại nguyên tắc mục vụ đã được Sách Giáo Lý Rôma nêu ra: “Hẳn nhiên đường lối tuyệt hảo hơn, mà Thánh Tông Đồ đã dạy, đó là hướng tất cả nội dung của đạo lý và giáo huấn tới đức mến, là điều không bao giờ mất được. Vì vậy khi trình bày một điều hoặc phải tin, hoặc phải hy vọng hoặc phải làm, thì luôn luôn phải làm nổi bật tình yêu của Chúa chúng ta trong điều đó, để ai ai cũng hiểu rằng mọi hành vi nhân đức trọn hảo Kitô giáo không có nguồn gốc nào khác ngoài tình yêu và không có mục đích nào khác ngoài tình yêu” (Catechismus Romanus). [Back]
Phần I: Tuyên xưng Đức Tin Đoạn I: Tôi tin, chúng tôi tin
Khi tuyên xưng đức tin, chúng ta khởi đầu bằng thuật từ: “Tôi tin” hoặc “Chúng tôi tin”. Trước khi trình bày đức tin của Hội Thánh, như được tuyên xưng trong Tín biểu, được cử hành trong phụng vụ, được thể hiện trong cuộc sống bằng việc tuân giữ các Điều Răn và bằng việc cầu nguyện, chúng ta hãy tự hỏi xem “tin” nghĩa là gì. Đức tin là việc con người đáp lại Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải và hiến mình cho con người, đồng thời ban ánh sáng chứa chan cho con người đang đi tìm ý nghĩa tối hậu của đời mình. Do đó, trước hết chúng ta sẽ bàn về cuộc tìm kiếm của con người, kế đến bàn về mạc khải của Thiên Chúa, qua đó Thiên Chúa đến với con người, và cuối cùng, bàn về việc con người đáp lại bằng đức tin. [Back]
0027
Chương I: Khả năng con người đón nhận Thiên
Chúa; Con người khao khát Thiên Chúa
Niềm khao khát Thiên Chúa được ghi khắc
trong trái tim con người bởi vì con người được tạo
dựng bởi Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa. Thiên Chúa
không ngừng lôi kéo con người đến với Ngài, và chỉ
nơi Thiên Chúa, con người mới gặp được chân lý
và hạnh phúc mà họ không ngừng tìm kiếm: “Khía cạnh cao quý nhất của
phẩm giá con người là con người được kêu gọi hiệp
thông với Thiên Chúa. Ngay từ lúc mới sinh ra, con người
đã được mời gọi đối thoại với Thiên
Chúa: thật vậy, con người đã chẳng hiện hữu,
nếu, một khi đã được Thiên Chúa vì tình
yêu mà tạo dựng, nó không được Thiên Chúa vì
tình yêu mà luôn luôn bảo tồn; và con người cũng
chẳng sống theo chân lý cách trọn vẹn, nếu
nó không tự nguyện nhìn nhận tình yêu ấy
và phó mình cho Đấng Tạo Hoá của mình” (CĐ Vaticanô II, GS 19). [Back]
0028
Trong lịch
sử của mình mãi đến ngày nay, loài người
đã diễn tả việc tìm kiếm Thiên Chúa của
mình bằng nhiều cách, qua các tín ngưỡng và các hành
vi tôn giáo (cầu kinh, tế lễ, phụng tự, suy niệm,
v.v...). Các hình thức diễn tả này, mặc dù có thể
kéo theo chúng những nét hàm hồ, vẫn là rất phổ
quát đến nỗi con người có thể được gọi là một
hữu thể có tôn giáo: “Từ một người duy nhất,
Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại, để họ
ở trên khắp mặt đất; Ngài đã vạch ra những
thời kỳ nhất định và những ranh giới cho
nơi ở của họ. Như vậy là để họ tìm
kiếm Thiên Chúa; may ra họ dò dẫm mà tìm thấy
Ngài, tuy rằng thật sự Ngài không ở xa mỗi người
chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Ngài mà chúng ta sống,
cử động và hiện hữu” (Cv 17,26-28). [Back]
0029
Tuy nhiên, “sự liên kết thân mật và sống động này với Thiên Chúa” [CĐ Vaticanô II, GS 19] có thể bị con người bỏ quên, sao lãng và thậm chí minh nhiên gạt bỏ. Những thái độ như thế có thể phát xuất do những nguyên nhân rất khác nhau [GS 19-21]: do bất mãn trước sự dữ trên thế giới, do không hiểu biết hoặc thờ ơ về tôn giáo, do lo toan về thế gian và tiền của [Mt 13,22], do gương xấu của các tín hữu, do những trào lưu tư tưởng chống tôn giáo, cuối cùng là do thái độ của con người tội lỗi, vì sợ hãi mà lẩn tránh Thiên Chúa [St 3,8-10] và chạy trốn khi nghe tiếng gọi của Ngài [Ga 1,3]. [Back]
0030
“Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỉ !” (Tv 105,3). Dù con người có thể quên lãng hay chối từ Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mọi người tìm kiếm Ngài để họ được sống và đạt được hạnh phúc. Nhưng việc tìm kiếm này đòi hỏi con người phải có nỗ lực của trí tuệ, sự ngay thẳng của ý chí, “một tấm lòng thành”, và phải có cả chứng từ của những người khác để dạy con người tìm kiếm Thiên Chúa.
“Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và rất đáng ca tụng: quyền năng của Chúa cao cả và sự khôn ngoan của Chúa thật khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, con người trong thân phận phải chết, mang nơi mình chứng tích của tội lỗi mình và chứng tích việc Chúa chống lại kẻ kiêu căng: vậy mà con người như vậy, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, muốn ca tụng Chúa. Chính Chúa thúc giục để con người vui thích ca tụng Chúa, bởi vì Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con không yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” [St. Augustine, Conf. I, I, I: PL 32, 659-661]. [Back]
Những con đường giúp con người nhận biết Thiên Chúa
Được tạo dựng theo hình ảnh
Thiên Chúa, được mời gọi nhận biết và yêu mến
Thiên Chúa, con người tìm kiếm Thiên Chúa sẽ khám phá
ra một số “con đường” giúp nhận biết Ngài. Những con đường này còn
được gọi là “những lý chứng về sự hiện
hữu của Thiên Chúa”, nhưng không theo nghĩa lý chứng
của các khoa học tự nhiên, mà theo nghĩa những
“lý chứng đồng quy
và có sức thuyết phục”, giúp con người đạt tới
những sự chắc chắn thật sự. Những “con đường” để đến
với Thiên Chúa như thế có khởi điểm là các thụ tạo:
thế giới vật chất và con người. [Back]
0032
Vũ trụ: Thiên Chúa có thể được nhận biết
như là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ, căn cứ
vào sự vận hành và chuyển biến của vũ trụ,
vào tính cách bất tất, vào trật tự và vẻ đẹp
của vũ trụ.
Về người ngoại giáo, thánh Phaolô khẳng định: “Những
gì người ta có thể biết về Thiên Chúa thì
thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính
Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những
gì người ta không thể nhìn thấy được nơi
Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần
tính của Ngài, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ
trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được
qua những công trình của Ngài” (Rm 1,19-20).
Còn thánh Augustinô thì nói: “Bạn hãy hỏi vẻ đẹp của trái đất, hãy hỏi vẻ đẹp của biển khơi, hãy hỏi vẻ đẹp của không khí đang dãn nở và lan tỏa, hãy hỏi vẻ đẹp của bầu trời,… hãy hỏi những thực tại ấy. Tất cả sẽ trả lời bạn: Này bạn xem, chúng tôi quả là đẹp. Vẻ đẹp của chúng là lời tuyên xưng của chúng. Ai đã làm nên những vẻ đẹp có thể thay đổi đó, nếu không phải là Đấng Toàn Mỹ không bao giờ thay đổi?” [Back]
0033
Con người: với sự cởi mở đón nhận chân lý và vẻ đẹp, với lương tri, với sự tự do và tiếng nói của lương tâm, với niềm khát vọng sự vô biên và hạnh phúc, con người tự hỏi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nhìn vào tất cả những điều kể trên, con người nhận ra những dấu chỉ của linh hồn thiêng liêng của mình. Là “hạt giống của sự vĩnh cửu mà con người mang nơi mình, và không thể giản lược vào vật chất mà thôi” (CĐ Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes), nên linh hồn con người không thể có một nguồn gốc nào khác ngoài một mình Thiên Chúa. [Back]
0034
Vũ trụ
và con người minh chứng rằng chúng không phải là nguyên
lý tiên khởi và cứu cánh tối hậu của chính
mình, nhưng thông phần với “Hữu Thể Tự Tại”,
vô thủy vô chung. Như vậy, qua những “con đường” khác
nhau đó, con người có thể đạt tới việc nhận
biết sự hiện hữu của một thực tại
là nguyên lý tiên khởi và là cứu cánh tối hậu của
mọi sự, “mà mọi người gọi là Thiên Chúa” (Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae). [Back]
0035
Các tài năng của con người làm cho con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một Thiên Chúa có ngôi vị. Nhưng để con người có thể tiến đến chỗ thân mật với Ngài, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình Ngài cho con người và ban cho họ ân sủng để nhờ đó họ có thể đón nhận mạc khải này trong đức tin. Tuy nhiên, các “lý chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa” có thể chuẩn bị cho đức tin và giúp người ta thấy rằng đức tin không đối nghịch với lý trí của con người. [Back]
Việc nhận biết Thiên Chúa theo quan niệm Hội
Thánh
“Mẹ Hội Thánh khẳng định và dạy
rằng: Từ những loài thụ tạo, nhờ ánh sáng tự
nhiên của lý trí con người, con người có thể nhận
biết cách chắc chắn về Thiên Chúa như là nguyên
lý và cùng đích của mọi loài” (CĐ
Vaticanô I, Hiến chế tín lý Dei Filius). Không có khả
năng này, con người không thể đón nhận mạc khải của
Thiên Chúa. Con người có được khả năng đó là vì
đã được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên
Chúa” (St 1,27). [Back]
0037
Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh lịch sử mà con người đã trải qua, con người gặp nhiều khó khăn trong việc nhận biết Thiên Chúa nếu chỉ dựa vào ánh sáng của lý trí. “Nói một cách đơn giản, mặc dầu lý trí con người, nhờ sức lực và ánh sáng tự nhiên của mình, thật sự có thể đạt tới sự nhận biết đích thực và chắc chắn về một Thiên Chúa có ngôi vị, Đấng bảo vệ và cai quản vũ trụ bằng sự quan phòng của Ngài, cũng như nhận biết một luật tự nhiên được Đấng Tạo Hoá đặt trong tâm hồn chúng ta, nhưng có không ít những chướng ngại vật ngăn cản lý trí sử dụng khả năng bẩm sinh đó của nó một cách hữu hiệu. Vì những chân lý liên quan đến Thiên Chúa, liên quan đến mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người, là những điều hoàn toàn vượt quá lãnh vực những sự vật hữu hình, và khi những chân lý đó được diễn ra bằng hành động và tác động đến đời sống thì chúng đòi con người phải hiến thân và từ bỏ mình. Để đạt được những chân lý như vậy, trí tuệ con người phải làm việc một cách khó khăn, một đàng vì sự thúc đẩy của các giác quan và trí tưởng tượng, đàng khác vì những dục vọng do nguyên tội gây nên. Cho nên trong những vấn đề đó, con người dễ cho là dối trá hoặc ít nhất là mơ hồ, những điều họ không muốn đó là những sự thật” [ ĐGH Piô XII, Thông điệp Humani generis]. [Back]
0038
Vì lý do đó, con người cần được mạc khải của Thiên Chúa soi dẫn, không những trong những gì vượt quá trí khôn, mà cả trong “những chân lý tôn giáo và luân lý tự chúng vốn không vượt quá khả năng lý trí, để trong tình trạng hiện thời của nhân loại, mọi người có thể biết được cách dễ dàng, chắc chắn và không lẫn lộn sai lầm. [Back]
Phải nói về Thiên Chúa thế nào
Khi bênh vực khả năng của lý trí
con người trong việc nhận biết Thiên Chúa, Hội
Thánh tin tưởng rằng mình có thể nói về Thiên
Chúa cho mọi người và với mọi người. Niềm
xác tín này là khởi điểm cho việc đối thoại của
Hội Thánh với các tôn giáo khác, với triết học và
khoa học, và cả với những người vô tín ngưỡng
và những người vô thần. [Back]
0040
Vì sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa có giới hạn, nên ngôn ngữ chúng ta dùng để nói về Thiên Chúa cũng bị giới hạn. Chúng ta chỉ có thể nói về Thiên Chúa dựa vào những gì chúng ta biết về các thụ tạo và theo cách hiểu biết và suy nghĩ hạn hẹp của loài người chúng ta. [Back]
0041
Mọi thụ tạo đều có một nét nào đó giống Thiên Chúa, đặc biệt là con người được tạo dựng theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài. Nhiều điều hoàn hảo của các thụ tạo (tính chân, thiện, mỹ của chúng) phản chiếu sự hoàn hảo vô biên của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta có thể nói về Thiên Chúa từ những sự hoàn hảo nơi các thụ tạo của Ngài, “vì các thụ tạo càng lớn lao đẹp đẽ thì càng giúp nhận ra Đấng tạo thành” (Kn 13,5). [Back]
0042
Thiên Chúa siêu việt trên mọi thụ tạo. Vì vậy chúng ta phải không ngừng thanh luyện ngôn ngữ của chúng ta khỏi những gì là hạn hẹp, lệ thuộc vào hình ảnh, và bất toàn, để Thiên Chúa, Đấng loài người “không thể diễn tả được, không thể hiểu thấu được, không thể nhìn thấy được, không thể suy tới được” [Liturgy of St. John Chrysostom, Anaphora], không bị lẫn lộn với những kiểu trình bày phàm nhân của chúng ta. Ngôn ngữ phàm nhân của chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô tận của Thiên Chúa. [Back]
0043
Khi nói như vậy về Thiên Chúa, ngôn ngữ của chúng ta diễn đạt theo cách phàm nhân, nhưng thật sự đạt tới chính Thiên Chúa, dù không thể diễn tả được Ngài trong tính đơn thuần vô biên của Ngài. Chúng ta phải nhớ rằng “giữa Đấng Tạo Hoá và thụ tạo, không thể ghi nhận sự giống nhau, mà không bao hàm rằng sự khác nhau còn lớn hơn nhiều” [Lateran Council IV]; hơn nữa, “chúng ta không thể nắm bắt được Thiên Chúa là gì, nhưng chỉ có thể biết được Ngài không phải là gì, và các hữu thể khác liên hệ với Ngài như thế nào” [St. Thomas Aquinas]. [Back]
Tóm lược
Tự bản tính và do ơn gọi, con người là một hữu thể có tôn giáo. Vì phát sinh từ Thiên Chúa và quy hướng về Thiên Chúa, con người chỉ sống cuộc sống nhân linh một cách đầy đủ khi tự nguyện sống liên kết với Thiên Chúa. [Back]
0045
Con người được tạo dựng để sống hiệp thông với Thiên Chúa. Nơi Ngài, họ tìm được hạnh phúc. “Khi con gắn bó hết mình với Chúa, con sẽ không bao giờ còn phải đau đớn và vất vả nữa, và được tràn đầy Chúa, đời con sẽ trở nên sống động.” (St. Augustine). [Back]
0046
Khi lắng nghe sứ điệp của các thụ tạo và tiếng nói của lương tâm, con người có thể đạt đến việc nhận biết chắc chắn về sự hiện hữu của Thiên Chúa, là nguyên nhân và cùng đích của mọi sự. [Back]
0047
Hội Thánh dạy rằng, con người có thể
nhận biết cách chắc chắn về Thiên Chúa duy nhất
và chân thật, là Đấng Tạo Hóa và Chúa của chúng ta, qua
các công trình của Ngài, nhờ ánh sáng tự nhiên của
lý trí con người. (cf.
Vatican Council I). [Back]
0048
Chúng ta thật sự có thể nói về Thiên Chúa dựa trên những nét hoàn hảo đa dạng của các thụ tạo, vì đó là những điểm giống với sự hoàn hảo vô biên của Thiên Chúa, mặc dầu ngôn ngữ hạn hẹp của chúng ta không diễn tả được hết mầu nhiệm của Ngài. [Back]
0049
“Các thụ tạo tan biến nếu không có Đấng Tạo Hoá” [GS 36]. Vì thế, tín hữu biết rằng mình được tình yêu Chúa Kitô thúc bách phải mang ánh sáng của Thiên Chúa hằng sống đến cho những ai không biết Ngài hoặc chối từ Ngài. [Back]
Chương II: Thiên Chúa đến gặp con người
Con người có thể dùng lý trí tự
nhiên để nhận biết Thiên Chúa một cách chắc chắn,
dựa vào những công trình của Ngài. Nhưng còn có
một lãnh vực nhận biết khác, mà con người
không thể đạt tới bằng sức lực của
mình, đó là lãnh vực của Mạc khải thần
linh. Thiên Chúa, bằng một quyết định hoàn toàn tự
do, tự mạc khải và ban chính mình Ngài cho con người.
Thiên Chúa làm điều đó khi mạc khải cho mọi người
mầu nhiệm của Ngài, kế hoạch yêu thương của
Ngài vốn đã có từ muôn thuở trong Đức Kitô.
Thiên Chúa đã mạc khải trọn vẹn kế hoạch
của Ngài khi sai Con chí ái của Ngài, là Đức Giêsu Kitô Chúa
chúng ta, và sai Chúa Thánh Thần. [Back]
0051
Thiên Chúa mạc
khải kế hoạch yêu thương
Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm của ý muốn Ngài; nhờ mầu nhiệm đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa” [Dei Verbum, 2]. [Back]
0052
Thiên Chúa, Đấng “ngự trong ánh sáng siêu phàm” (1 Tm 6,16), muốn truyền thông sự
sống thần linh của Ngài cho loài người mà Ngài
đã tự ý tạo dựng, để cho họ được
trở nên nghĩa tử trong Con Một của Ngài [Ep 1,4-5]. Khi tự mạc khải,
Thiên Chúa muốn làm cho loài người có khả năng đáp lại
Ngài, nhận biết và yêu mến Ngài vượt quá những gì
họ có thể làm được tự sức mình. [Back]
0053
Kế hoạch của Thiên Chúa về Mạc
Khải được thể hiện cùng một lúc bằng các việc
làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, và
soi sáng cho nhau. Kế hoạch đó bao hàm một đường lối
sư phạm thần linh đặc biệt: Thiên Chúa truyền
thông chính mình cho con người một cách tiệm tiến.
Ngài chuẩn bị con người qua nhiều giai đoạn để
đón nhận mạc khải siêu nhiên về chính bản thân
Ngài. Mạc khải này sẽ đạt tới tột đỉnh
nơi Ngôi Vị và nơi sứ vụ của Ngôi Lời nhập
thể, là Chúa Giêsu Kitô. [Back]
Các giai
đoạn mạc khải
Từ khởi thủy, Thiên Chúa tự mạc khải
cho con người
Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và bảo tồn
mọi sự nhờ Ngôi Lời, không ngừng làm chứng
cho loài người về chính mình nơi các thụ tạo;
hơn nữa, vì muốn mở ra con đường cứu độ
cao vời, ngay từ khởi thủy, Ngài đã tỏ mình ra cho nguyên tổ biết.
Ngài đã mời gọi nguyên tổ của chúng ta sống
hiệp thông thân mật với Ngài, khi ban cho họ ân sủng
và đức công chính rạng ngời. [Back]
0055
Mạc khải này không bị tội nguyên tổ
làm gián đoạn. Quả vậy, sau khi tổ tông sa ngã,
bằng việc hứa ban ơn cứu chuộc, Ngài đã
nâng họ dậy hướng tới niềm hy vọng cứu
độ. Ngài đã không ngừng săn sóc nhân loại, để ban
sự sống đời đời cho tất cả những ai
tìm kiếm ơn cứu độ bằng cách kiên tâm làm việc
lành. Và khi con người đã mất tình nghĩa với
Cha vì bất phục tùng, Cha đã không bỏ mặc
con người dưới quyền lực sự chết... Nhiều
lần Cha đã giao ước với loài người. [Back]
0056
Giao ước với ông Nôê
Khi sự hợp nhất của nhân loại
bị tội lỗi phá vỡ, Thiên Chúa lập tức có
ý định cứu độ nhân loại khi can thiệp qua
từng nhóm người. Giao ước với ông Nôê sau cơn lụt
đại hồng thủy [St 9:9]
nói lên nguyên tắc của Nhiệm cục thần linh đối
với các dân tộc, nghĩa là đối với những người
quy tụ lại “theo tiếng nói, dòng họ và dân tộc
của mình” (St 10:5; St 10:20-31]. [Back]
0057
Trật tự đa dân tộc này, vừa có tính
vũ trụ, vừa có tính xã hội và tôn giáo [Cv 17,26-27], nhằm hạn chế
tính kiêu căng của một nhân loại đã sa ngã, muốn
đồng lòng trong sự ngoan cố của mình [Kn 10,5], muốn tự mình gầy
dựng sự hợp nhất theo kiểu xây tháp Babel [St 11,4-6]. Nhưng vì tội lỗi
[Rm 1,18-25], nên thuyết đa thần
cũng như việc tôn thờ các ngẫu tượng là dân tộc
và lãnh tụ của mình, đã không ngừng đe
doạ biến Nhiệm cục tạm thời này thành sự
gian tà ngoại đạo. [Back]
0058
Giao ước với ông Nôê có hiệu lực
trong suốt thời gian của các dân tộc [Lc 21,24], cho tới khi Tin Mừng được
loan báo một cách phổ quát. Thánh Kinh tôn kính một số
vĩ nhân của “các dân tộc”, như “Abel, người công chính”,
vua tư tế Melchisêđê [St 14,18],
ông này là hình bóng của Đức Kitô [Dt 7,3], hoặc các người công chính “Nôê, Đaniel và
Job” (Ed 14,14). Như vậy Thánh Kinh
nói lên mức độ thánh thiện cao vời mà những người
sống theo Giao ước Nôê có thể đạt tới, đang khi
mong đợi Đức Kitô “quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản
mác khắp nơi về một mối” (Ga
11,52). [Back]
0059
Thiên Chúa chọn ông Abraham
Để quy tụ loài người đang tản mác về
một mối, Thiên Chúa chọn ông Abram và phán với ông:
“Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha
ngươi” (St 12,1); với ý định
làm cho ông thành Abraham, nghĩa là “cha của vô số dân tộc”
(St 17,5): “Nhờ ngươi, mọi
gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3; Gl 3,8). [Back]
0060
Dân tộc phát sinh từ ông Abraham sẽ được
thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa với các tổ phụ,
tức là dân được Ngài tuyển chọn [Rm 11,28], họ được gọi để chuẩn bị
cho việc quy tụ trong tương lai mọi con cái Thiên Chúa trong
sự duy nhất của Hội Thánh [Ga
11,52; 10,16]; dân tộc này sẽ là gốc rễ mà các
dân ngoại khi tin vào Thiên Chúa sẽ được tháp ghép vào [Rm 11,17-18.24]. [Back]
0061
Các tổ phụ, các tiên tri và những vĩ
nhân khác của Cựu ước đã và sẽ luôn được
tôn kính như những vị Thánh trong tất cả các truyền
thống phụng vụ của Hội Thánh. [Back]
0062
Thiên Chúa lập
dân Israel của Ngài
Sau thời các Tổ phụ, Thiên Chúa lập
Israel làm dân của Ngài khi cứu họ khỏi ách nô lệ
Ai cập. Ngài lập Giao ước Sinai với dân và ban Lề
Luật của Ngài cho họ qua ông Môisen, để họ nhận
biết và phụng sự Ngài với tư cách là Thiên Chúa duy nhất
hằng sống và chân thật, là Cha quan phòng và là thẩm
phán chí công, và để họ mong đợi Đấng Cứu Độ
mà Ngài đã hứa ban. [Back]
0063
Israel là dân tư tế của Thiên Chúa [Xh 19,6], được “mang danh Đức
Chúa” (Đnl 28,10). Đó là dân của những
người đầu tiên được nghe lời Chúa phán dạy, dân của
những người làm anh trong đức tin của tổ phụ
Abraham. [Back]
0064
Qua các tiên tri, Thiên Chúa đào tạo dân Ngài trong niềm
hy vọng ơn cứu độ, trong sự mong đợi Giao ước
mới và vĩnh cửu dành cho tất cả mọi người,
Giao ước đó sẽ được ghi khắc trong các trái tim. Các
Tiên tri loan báo ơn cứu chuộc triệt để cho dân của
Thiên Chúa, ơn thanh tẩy khỏi mọi bất trung của họ,
và ơn cứu độ ấy sẽ bao gồm tất cả các
dân tộc. Đặc biệt những người nghèo khó và khiêm
nhu của Chúa sẽ ấp ủ niềm hy vọng này. Những
phụ nữ thánh thiện như các bà Sara, Rêbecca, Rachel, Miryam,
Đêbora, Anna, Juđitha và Esther, đã gìn giữ cho niềm
hy vọng cứu độ ấy của Israel luôn sống động.
Hình ảnh tinh tuyền nhất của niềm hy vọng
này là Đức Maria.
Chúa Giêsu Kitô - Đấng trung gian và là sự
viên mãn của toàn bộ Mạc Khải
Thiên Chúa đã phán dạy mọi sự
trong Ngôi Lời của Ngài
“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách,
Thiên Chúa đã phán dạy cha ông ta qua các tiên tri ; nhưng vào thời
sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử”
(Dt 1,1-2). Đức Kitô, Con Thiên
Chúa làm người, là Lời duy nhất, hoàn hảo và cao cả
nhất của Chúa Cha. Nơi Người, Thiên Chúa đã nói tất
cả, và sẽ không có lời nào khác ngoài Lời đó. Sau bao vị
khác, thánh Gioan Thánh giá đã diễn tả điều này một
cách rõ ràng, khi chú giải câu Dt 1,1-2: “Từ khi Thiên Chúa
ban cho chúng ta Con Ngài, Đấng là Lời duy nhất và dứt
khoát của Ngài, Thiên Chúa đã nói với chúng ta một lần
duy nhất trong Lời này và Ngài không còn gì để
nói thêm nữa. Những gì trước kia Ngài chỉ nói từng
phần qua các tiên tri, thì nay Ngài đã nói hết trong
Đấng mà Ngài đã trao ban trọn vẹn cho chúng ta, tức
là Con của Ngài. Do đó, bây giờ mà có ai còn muốn hỏi
Thiên Chúa điều gì hoặc nài xin Ngài một thị kiến
hay mạc khải nào nữa, thì người ấy chẳng
những làm một chuyện điên rồ, mà xem ra còn xúc
phạm đến Thiên Chúa, bởi không chăm chú nhìn vào Đức
Kitô mà lại tìm kiếm một cái gì khác hoặc
một điều mới lạ ngoài Đức Kitô” [Thánh Gioan Thánh giá, Subida del monte Carmelo]. [Back]
0066
Sẽ không
có mạc khải nào khác nữa
Vậy nhiệm cục Kitô giáo sẽ không bao
giờ mai một, vì là giao ước mới và vĩnh cửu.
Chúng ta không phải chờ đợi một mạc khải
công khai mới nào khác nữa trước ngày Đức Giêsu Kitô
Chúa chúng ta tỏ mình ra trong vinh quang [DV
4; 1 Tim 6:14; Titus 2:13.]. Tuy nhiên, mặc
dù mạc khải đã hoàn tất, nhưng nó vẫn chưa được
giải thích trọn vẹn; vì thế đức tin Kitô
giáo còn phải dần dần, qua dòng thời gian,
tìm hiểu tất cả sự cao siêu của mạc
khải. [Back]
0067
Theo dòng lịch sử, đã xuất
hiện những điều gọi là “mạc khải tư”, một
số trong đó được thẩm quyền Hội Thánh công nhận.
Tuy vậy, những mạc khải đó không thuộc kho tàng đức
tin. Chức năng của chúng không phải là “cải thiện”
hoặc “bổ sung” mạc khải vĩnh viễn của
Đức Kitô, nhưng để giúp người ta, vào một thời điểm
lịch sử nào đó, sống mạc khải của Đức
Kitô cách trọn vẹn hơn. Cảm thức đức tin của
các tín hữu, dưới sự hướng dẫn của Huấn
quyền Hội Thánh, có khả năng phân định và đón nhận
trong các mạc khải đó những gì là lời khuyến
dụ đích thực của Đức Kitô hoặc của các
Thánh gởi đến cho Hội Thánh.
Đức tin Kitô giáo không thể tiếp nhận “những
mạc khải” nào muốn vượt cao hơn hay sửa đổi
mạc khải đã được hoàn tất trong Đức Kitô.
Một số tôn giáo ngoài Kitô giáo và một số giáo phái được
sáng lập gần đây đặt nền tảng trên “những mạc
khải” như thế. [Back]
Tóm lược
Vì tình
yêu, Thiên Chúa đã tự mạc khải và ban chính
mình Ngài cho con người. Qua đó, Ngài mang lại lời giải
đáp vĩnh viễn và dư đầy cho những vấn nạn mà
con người tự đặt ra cho mình về ý nghĩa
và cùng đích cuộc đời họ. [Back]
0069
Thiên Chúa
đã tự mạc khải cho con người, bằng việc
dần dần dùng lời nói và việc làm mà truyền thông
mầu nhiệm riêng của Ngài. [Back]
0070
Ngoài những
chứng từ mà Thiên Chúa nêu lên về chính mình Ngài qua
các thụ tạo, Thiên Chúa còn đích thân tỏ mình
cho nguyên tổ chúng ta. Ngài đã nói với các vị, và sau
khi các vị sa ngã, Ngài đã hứa ơn cứu độ [St 3,15] và ban Giao Ước của Ngài cho
các vị. [Back]
0071
Thiên Chúa lập
với ông Nôê một Giao ước vĩnh cửu giữa Ngài
và mọi sinh linh [St 9,16]. Giao ước
này sẽ tồn tại bao lâu thế gian còn tồn tại.
[Back]
0072
Thiên Chúa
đã tuyển chọn ông Abraham và đề xướng một
Giao ước với ông và dòng dõi ông. Từ đó, Thiên
Chúa thiết lập dân Ngài và mạc khải Lề Luật
của Ngài cho họ qua ông Môisen. Nhờ các tiên tri, Thiên Chúa
đã chuẩn bị cho dân ấy đón nhận ơn cứu độ
dành cho toàn thể nhân loại. [Back]
0073
Thiên Chúa đã tự mạc khải trọn vẹn
khi sai chính Con Ngài đến trần gian; nơi Chúa Con, Thiên Chúa
đã thiết lập Giao ước của Ngài đến muôn đời.
Con Thiên Chúa là Lời tối hậu của Chúa Cha nói với
nhân loại, sau Người, không còn một mạc khải
nào khác. [Back]
Sự Lưu
Truyền Mạc Khải Của Thiên Chúa
Thiên Chúa “muốn
cho mọi người được cứu độ và nhận biết
chân lý” (1 Tm 2:4), nghĩa
là, nhận biết Đức Kitô Giêsu (Ga 14,6). Vì vậy Đức Kitô phải được
rao giảng cho mọi dân tộc và mọi người, và mạc
khải phải được loan truyền đến tận cùng thế
giới: “Những gì Thiên Chúa đã mạc khải để
cứu rỗi muôn dân, Ngài đã ân cần sắp đặt để
luôn được bảo toàn và lưu truyền nguyên vẹn cho mọi
thế hệ (Cor 1:20; 3:16-4:6). [Back]
0075
Truyền
thống các tông đồ
Chúa Kitô, nơi Người, Thiên Chúa tối cao hoàn tất trọn vẹn mạc khải, đã truyền dạy các Tông Đồ rao giảng cho mọi người Tin Mừng đã được hứa trước qua miệng các tiên tri, và được chính Người thực hiện và công bố; các ngài rao giảng Tin Mừng như nguồn mọi chân lý cứu độ và luật lệ luân lý, đồng thời truyền thông cho họ các hồng ân của Thiên Chúa. [Back]
0076
Lời rao giảng của các Tông Đồ
Theo mệnh lệnh của Chúa, việc lưu truyền Tin Mừng đã được thực hiện bằng hai cách:
- Bằng truyền khẩu: một phần do các Tông Đồ: qua lời giảng dạy, gương lành và các định chế, các ngài đã truyền lại những gì đã nhận lãnh từ miệng Đức Kitô khi chung sống với Người và thấy Người hành động, hoặc đã học biết được nhờ Chúa Thánh Thần gợi ý;
- Bằng văn tự:“một phần do chính các ngài và những người phụ tá các ngài đã viết lại sứ điệp cứu độ dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh Thần. [Back]
0077
Lời rao giảng của các Tông Đồ… được
tiếp nối do những người kế nhiệm các Tông Đồ
Để Tin Mừng được giữ gìn toàn
vẹn và sống động mãi trong Hội Thánh, các Tông Đồ
đã để lại những người kế vị là các
giám mục và ‘trao lại cho họ quyền giáo huấn của
các ngài. Thật vậy, những lời giảng dạy của
các Tông Đồ được đặc biệt ghi lại trong các sách
linh hứng, phải được bảo tồn và liên tục
lưu truyền cho đến tận thế. [Back]
0078
Việc lưu truyền sống động này, được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, được gọi là Thánh Truyền, để phân biệt với Thánh Kinh, mặc dù nó có liên hệ chặt chẽ với Thánh Kinh. Nhờ Thánh Truyền, Hội Thánh, qua giáo lý, đời sống và việc phượng tự của mình, bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình, và tất cả những gì mình tin. Lời các Thánh Giáo phụ chứng thực sự có mặt sống động của Thánh Truyền; và sự phong phú của Thánh Truyền đã thâm nhập vào thực hành và đời sống của Hội Thánh, một Hội Thánh luôn tin và cầu nguyện. [Back]
0079
Như vậy, việc Chúa Cha truyền thông chính
mình, nhờ Ngôi Lời và trong Chúa Thánh Thần, vẫn
tiếp diễn và tác động trong Hội Thánh: “Thiên Chúa, Đấng
xưa đã phán dạy, nay vẫn không ngừng ngỏ lời
với Hiền Thê của Con yêu dấu mình; và Thánh Thần,
Đấng làm cho tiếng nói sống động của Tin Mừng
vang dội trong Hội Thánh, và nhờ Hội Thánh làm vang dội
trong thế giới, hướng dẫn các tín hữu nhận
biết toàn thể chân lý và làm cho lời Chúa Kitô tràn ngập
lòng họ” [Col 3:16]. [Back]
Tương quan giữa thánh truyền và thánh kinh
Cùng một nguồn mạch
Thánh Truyền và Thánh Kinh được nối kết và thông giao với nhau cách chặt chẽ. Thật thế, do cả hai đều phát xuất từ một nguồn mạch thần linh, có thể nói cả hai kết hợp thành một và cùng quy hướng về một mục đích . Cả hai đều làm cho mầu nhiệm Đức Kitô được hiện diện và sinh hoa trái trong Hội Thánh, theo như chính Người đã hứa ở lại với các môn đệ “mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). [Back]
0081
Nhưng hai cách lưu truyền khác biệt
Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa nói, xét theo tư cách được
ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.
Còn Thánh Truyền thì truyền đạt nguyên vẹn
cho các đấng kế vị các Tông Đồ Lời Thiên Chúa
đã được Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ký thác cho các
Tông Đồ, để các đấng kế vị đó, nhờ Thần
chân lý soi sáng, trung thành gìn giữ, trình bày và
phổ biến Lời ấy bằng việc rao giảng. [Back]
0082
Do đó, Hội Thánh, vì được ủy thác
nhiệm vụ lưu truyền và giải thích mạc khải,
có được sự chắc chắn về tất cả các điều
được mạc khải không chỉ nhờ riêng vào Thánh Kinh.
Chính vì thế, cả Thánh Kinh lẫn Thánh Truyền đều
phải được đón nhận và tôn kính bằng một tâm
tình yêu mến và kính trọng như nhau. [Back]
0083
Truyền thống Tông Đồ và các truyền
thống trong Hội Thánh
Truyền Thống mà chúng ta nói đây xuất phát
từ các Tông Đồ và lưu truyền những gì chính các
ngài đã lãnh nhận từ giáo huấn và gương mẫu
của Chúa Giêsu cũng như những gì các ngài học được
nhờ Chúa Thánh Thần. Thật vậy, thế hệ các
Kitô hữu đầu tiên chưa có một Tân Ước thành văn, và
chính bản văn Tân ước chứng thực tiến trình
của Truyền Thống sống động này.
Chúng ta phải phân biệt “Truyền Thống các Tông Đồ”
với “các truyền thống” thuộc các lãnh vực
thần học, kỷ luật, phụng vụ hoặc sùng
kính đã phát sinh theo thời gian trong các Giáo Hội địa
phương. Đó là những hình thức riêng biệt, qua đó Thánh
Truyền phổ quát đón nhận những lối diễn tả
đã được thích nghi cho những địa phương khác nhau vào
những thời đại khác nhau. Các truyền thống này có
thể được giữ lại, sửa đổi hay thậm
chí bị loại bỏ, dưới ánh sáng Truyền Thống
các Tông Đồ, theo sự hướng dẫn của Huấn quyền
Hội Thánh. [Back]
Giải Nghĩa Kho Tàng Đức Tin.
Kho tàng đức tin được giao phó cho toàn thể
Hội Thánh.
“Kho tàng đức tin” (Depositum fidei) , chứa đựng trong Thánh Truyền và Thánh Kinh, đã được giao phó cho toàn thể Hội Thánh nhờ các Tông Đồ. “Khi gắn bó với kho tàng ấy, toàn thể dân Thánh, quy tụ quanh các vị chủ chăn, chuyên cần với giáo huấn của các Tông Đồ, với tình hiệp thông, với việc bẻ bánh và kinh nguyện, nên giữa các thủ lãnh và các tín hữu có sự nhất trí lạ lùng trong việc nắm giữ, thực hành và tuyên xưng đức tin đã được truyền lại.” [Back]
0085
Truyền
thống Tông Đồ và các truyền thống trong Hội Thánh.
Nhiệm vụ chính thức giải thích Lời Thiên Chúa đã được ghi chép hay truyền lại, nhiệm vụ này đã được ủy thác riêng cho Huấn quyền sống động của Hội Thánh, quyền này được thi hành nhân danh Chúa Giêsu Kitô , nghĩa là được ủy thác cho các Giám mục hiệp thông với vị kế nhiệm thánh Phêrô, là Giám mục Rôma. [Back]
0086
Tuy nhiên, Huấn quyền này không ở trên Lời Chúa, nhưng phục vụ Lời Chúa vì chỉ giảng dạy những điều đã được truyền lại; bởi vì do mệnh lệnh của Thiên Chúa và nhờ ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Huấn quyền kính mến lắng nghe, thành kính gìn giữ và trung thành trình bày Lời đó, đồng thời từ kho tàng đức tin duy nhất ấy, Huấn quyền kín múc ra tất cả mọi điều mà đề nghị cho giáo dân tin như là những điều đã được Thiên Chúa mạc khải. [Back]
0087
Vì ghi nhớ lời Đức Kitô đã nói với các Tông Đồ: “Ai nghe anh em là nghe Thầy” (Lc l0,16), các tín hữu ngoan ngoãn nhận lãnh các giáo huấn và chỉ thị mà các mục tử ban cho họ dưới những hình thức khác nhau. [Back]
0088
Các tín điều đức tin.
Huấn quyền Hội Thánh thực thi trọn vẹn quyền bính nhận từ Đức Kitô khi ấn định các tín điều, tức là khi công bố, dưới hình thức buộc dân Kitô giáo phải tin, những chân lý được chứa đựng trong mạc khải của Thiên Chúa, hoặc cả khi công bố một cách dứt khoát những chân lý có liên hệ tất yếu với các chân lý đó. [Back]
0089
Giữa đời sống thiêng liêng của chúng ta với các tín điều có một mối liên hệ chặt chẽ. Tín điều là những ánh sáng trên con đường đức tin của chúng ta, soi sáng và làm cho con đường đức tin ấy được an toàn. Ngược lại, nếu chúng ta sống ngay thẳng, trí tuệ và tâm hồn chúng ta sẽ mở rộng đón nhận ánh sáng các tín điều. [Back]
0090
Những mối dây liên kết lẫn nhau và sự gắn bó chặt chẽ giữa các tín điều có thể gặp thấy trong toàn bộ mạc khải về mầu nhiệm Đức Kitô . Phải nhớ rằng có một trật tự hoặc ‘một phẩm trật’ các chân lý của giáo lý Công giáo, vì tương quan khác nhau của chúng với nền tảng đức tin Kitô giáo. [Back]
0091
Cảm thức siêu nhiên về đức tin.
Mọi Kitô hữu đều tham dự vào ơn hiểu biết và việc lưu truyền chân lý mạc khải. Họ được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, là Đấng dạy dỗ họ và dẫn họ “tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Toàn thể các tín hữu… không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ phẩm tính đặc biệt ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi ‘từ các Giám mục cho đến những giáo dân rốt hết’ đều đồng ý cách phổ quát về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa. [Back]
0092
Toàn thể các tín hữu… không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ phẩm tính đặc biệt ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi ‘từ các Giám mục cho đến những giáo dân rốt hết’ đều đồng ý cách phổ quát về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa. [Back]
0093
“Thật vậy, nhờ cảm thức về đức tin được Thánh Thần chân lý khơi dậy và nâng đỡ, và dưới sự hướng dẫn của Huấn quyền, dân Thiên Chúa gắn bó cách kiên trì với đức tin đã được lưu truyền duy chỉ một lần cho các Thánh, hiểu biết đức tin ấy cách sâu sắc hơn nhờ suy xét đúng, và áp dụng đức tin ấy cách đầy đủ hơn trong đời sống” [LG 12]. [Back]
0094
Sự tăng trưởng trong hiểu biết về đức
tin.
Nhờ Chúa Thánh Thần trợ giúp, sự hiểu biết về các sự việc và các lời nói thuộc kho tàng đức tin có thể được tiến triển trong đời sống Hội Thánh:
– “hoặc nhờ các tín hữu chiêm ngưỡng
và học hỏi, khi đã ghi nhớ các điều đó trong
lòng”, đặc biệt “việc nghiên cứu thần học
giúp đào sâu hiểu biết về chân lý được mạc
khải”;
– “hoặc nhờ họ đã thông hiểu
những điều thiêng liêng họ cảm nghiệm được”;
“Lời Chúa lớn lên cùng với người đọc”;
– “hoặc nhờ việc giảng dạy
của những người lãnh nhận một đặc sủng
chắc chắn về chân lý do việc kế nhiệm
trong chức Giám mục.” [Back]
0095
Như thế, đã rõ là do ý định hết sức khôn ngoan của Thiên Chúa, Thánh Truyền, Thánh Kinh và Huấn quyền của Hội Thánh được nối kết và liên đới với nhau đến nỗi không một cái nào có thể đứng vững một mình không cần hai cái kia; và dưới tác động của một Chúa Thánh Thần duy nhất, cả ba cùng góp phần hữu hiệu vào việc cứu độ các linh hồn, mỗi bên theo phương cách riêng. [Back]
Tóm lược.
Điều Đức
Kitô đã ủy thác cho các Tông Đồ, các ngài đã truyền
lại bằng lời rao giảng và bằng văn tự, dưới
sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, cho tất cả
mọi thế hệ, cho đến ngày Đức Kitô trở lại
trong vinh quang. [Back]
0097
Thánh Truyền
và Thánh Kinh làm thành một kho tàng thánh thiêng duy nhất lưu trữ
Lời Chúa, trong đó, như trong một tấm gương, Hội Thánh
lữ hành chiêm ngắm Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi
sự phong phú của mình. [Back]
0098
Hội Thánh qua
giáo lý, đời sống và việc phượng tự của
mình, bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ
tất cả thực chất của mình và tất cả
những gì mình tin. [Back]
0099
Nhờ cảm
thức siêu nhiên về đức tin, toàn thể dân Thiên Chúa
không ngừng đón nhận hồng ân là sự mạc khải
của Thiên Chúa, tìm hiểu nó cách sâu sắc hơn, và sống
nhờ hồng ân đó cách đầy đủ hơn. [Back]
0100
Nhiệm vụ
giải thích Lời Thiên Chúa một cách đúng nghĩa được
ủy thác riêng cho Huấn quyền của Hội Thánh, tức
là cho Đức Giáo Hoàng và cho các Giám mục hiệp thông với
ngài. [Back]
Đức Kitô – Lời duy nhất của
Thánh Kinh.
Thiên Chúa, trong sự hạ cố do lòng
nhân hậu của Ngài, để tự mạc khải cho loài
người, đã dùng ngôn ngữ phàm nhân mà nói với họ:
Các lời của Thiên Chúa, được diễn tả bằng
ngôn ngữ loài người, đã trở nên tương tự với
lời nói loài người, cũng như khi xưa Lời của Chúa
Cha vĩnh cửu đã mặc lấy xác thịt yếu
đuối của loài người, đã trở nên giống như
loài người. [Back]
0102
Qua tất cả các lời ở trong Thánh
Kinh, Thiên Chúa chỉ nói một Lời, là (Ngôi) Lời duy nhất
của Ngài. Trong Ngôi Lời, Thiên Chúa bày tỏ tất cả
về chính mình Ngài [Dt 1:1-3]:
“Anh em hãy nhớ rằng một Lời duy nhất của
Thiên Chúa được trải ra trong toàn bộ Thánh Kinh, một Lời
duy nhất vang trên môi miệng của các Thánh. Lời này lúc
khởi đầu là Thiên Chúa hướng về Thiên Chúa, lúc ấy
Lời không có các âm vận, bởi vì Ngài không lệ
thuộc thời gian” [Thánh Augustinô]. [Back]
0103
Vì lý do đó, Hội Thánh đã luôn
tôn kính Thánh Kinh như đã tôn kính chính Thân Thể [Mình Thánh] Chúa. Hội Thánh không
ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời
Chúa cũng như bàn tiệc Thân Thể [Mình Thánh] Chúa Kitô
mà trao ban cho các tín hữu. [Back]
0104
Hội Thánh không ngừng tìm thấy
lương thực và sức mạnh cho mình trong Thánh Kinh [Th 2:13], vì nơi đó, Hội Thánh
không chỉ tiếp nhận một lời phàm nhân, nhưng thực
sự là Lời của Thiên Chúa. Quả thật, trong các
sách thánh, Cha trên trời âu yếm đến gặp con cái và
trò chuyện với họ. [Back]
Linh hứng và chân lý Thánh Kinh.
Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh. Những
gì Thiên Chúa mạc khải mà Thánh Kinh chứa đựng
và trình bày, đều được viết ra dưới sự
linh hứng của Chúa Thánh Thần.
Thật vậy, Hội Thánh, Mẹ thánh chúng ta, nhờ đức
tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ các sách Cựu
Ước cũng như Tân Ước với tất cả các phần
đoạn đều là Sách Thánh và được ghi vào bản thư quy
Thánh Kinh: bởi lẽ được viết ra dưới sự
linh hứng của Chúa Thánh Thần, các sách ấy có tác giả
là chính Thiên Chúa và được truyền lại cho chính Hội
Thánh với tư cách đó. [Back]
0106
Thiên Chúa đã linh hứng cho các tác giả
phàm nhân viết ra các Sách Thánh. Để viết ra các Sách Thánh,
Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ
trong tài năng và sức lực của họ, để khi chính
Ngài hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như
những tác giả đích thật tất cả những
gì Chúa muốn, và chỉ những điều đó thôi. [Back]
0107
Các sách được linh hứng giảng dạy sự
thật. Vì phải xem mọi lời tác giả được
linh hứng, tức các thánh sử, viết ra, là những điều
Chúa Thánh Thần xác quyết, nên phải tuyên xưng rằng
Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm,
chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại nhằm
cứu độ chúng ta. [Back]
0108
Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo không phải là một
“tôn giáo của Sách vở”. Kitô giáo là tôn giáo của “Lời”
Thiên Chúa: Lời đó “không phải là lời được viết
ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và sống
động” [Thánh Bênađô Clairvaux]. Cần
thiết là phải có Đức Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu
của Thiên Chúa hằng sống, nhờ Chúa Thánh Thần, mở
trí cho chúng ta, thì chúng ta mới hiểu được Thánh
Kinh [Lc 24:45], nếu không
thì các sách đó chỉ là văn tự chết. [Back]
Chúa Thánh Thần, Đấng giải thích Thánh Kinh.
Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa nói với con người
theo cách thức loài người. Vì vậy, để giải
thích Thánh Kinh cho đúng, phải cẩn thận tìm hiểu
điều các tác giả phàm nhân thật sự có ý khẳng
định và điều Thiên Chúa muốn tỏ bày cho chúng ta qua lời
lẽ của các ngài. [Back]
0110
Để thấy được ý của các vị
thánh sử, cần lưu ý đến các điều kiện về
thời đại và văn hoá của các ngài, đến các “văn thể”
được dùng trong thời đó, đến cách cảm nghĩ, nói
năng và tường thuật, thường được dùng vào thời đại
của thánh sử. Vì chân lý được trình bày
và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể
văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể
văn diễn tả khác. [Back]
0111
Nhưng bởi vì Thánh Kinh được linh hứng,
nên có một nguyên tắc khác để giải thích cho đúng.
Nguyên tắc này không kém quan trọng so với nguyên tắc
trên và nếu không có nguyên tắc này thì Thánh Kinh chỉ
là văn tự chết: Bởi vì Thánh Kinh đã được
viết ra bởi Chúa Thánh Thần, thì cũng phải
được đọc và giải thích nhờ chính Thánh Thần.
Công đồng Vaticanô II đưa ra ba tiêu chuẩn để giải
thích Thánh Kinh theo Chúa Thánh Thần, Đấng đã linh hứng
Thánh Kinh. [Back]
0112
Phải hết sức chú ý đến “nội
dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh”. Mặc
dầu các sách hợp thành bộ Thánh Kinh có khác biệt nhau
mấy đi nữa, Thánh Kinh vẫn là một, bởi kế
hoạch của Thiên Chúa chỉ có một và Đức Kitô Giêsu
là trung tâm và trái tim của kế hoạch ấy, một
trái tim đã rộng mở sau cuộc Vượt Qua của
Người [Lc 24:25-27].
“Hình ảnh ‘Trái tim Đức Kitô’ [Tv 22,15] được hiểu về Thánh Kinh, vì
Thánh Kinh bộc lộ trái tim của Người. Trước cuộc
khổ nạn, trái tim này còn đóng kín, bởi vì
Thánh Kinh còn tối nghĩa. Nhưng sau cuộc khổ nạn,
Thánh Kinh đã được mở ra, bởi vì từ lúc
đó những ai hiểu Thánh Kinh sẽ biết suy xét và phân định
các sấm ngôn phải được giải thích như thế nào” [Thánh Tôma Aquinô]. [Back]
0113
Phải đọc Thánh Kinh trong “Thánh Truyền sống
động của Hội Thánh”. Theo châm ngôn của các Giáo phụ,
Thánh Kinh được viết chủ yếu trên trái tim của Hội
Thánh hơn là trên những vật liệu thể chất. Thật
vậy, Hội Thánh lưu giữ ký ức sống động
về Lời Thiên Chúa trong Thánh Truyền của mình,
và Chúa Thánh Thần ban cho Hội Thánh khả năng giải
thích Thánh Kinh theo cách thiêng liêng. [Back]
0114
Phải chú ý đến “tính tương hợp của
đức tin” [Rm 12,6]. Thuật ngữ
“tính tương hợp của đức tin” có nghĩa là sự liên hệ
hài hoà giữa các chân lý đức tin với nhau và trong
toàn bộ chương trình mạc khải. [Back]
0115
Theo một truyền thống cổ xưa, có thể
phân biệt hai nghĩa của Thánh Kinh: nghĩa văn tự và
nghĩa thiêng liêng. Nghĩa thiêng liêng lại được chia
thành nghĩa ẩn dụ, nghĩa luân lý và nghĩa dẫn
đường. Sự hòa hợp sâu xa của bốn nghĩa
này đem lại cho việc đọc Thánh Kinh cách sống động
trong Hội Thánh tất cả sự phong phú của nó. [Back]
0116
Nghĩa văn tự: Đây là nghĩa được các lời
của Thánh Kinh nói lên và được khoa chú giải nhận ra dựa
trên những quy tắc giải thích đúng đắn. “Tất cả
các nghĩa của Thánh Kinh đều đặt nền tảng
trên nghĩa văn tự” [Thánh Tôma
Aquinô, Summa theologiae]. [Back]
0117
Nghĩa thiêng
liêng: Vì tính thống nhất của kế hoạch của
Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả những
sự việc và biến cố được bản văn nói tới,
đều có thể là những dấu chỉ.
1) Nghĩa ẩn dụ: Chúng ta có thể hiểu biết
các biến cố một cách sâu xa hơn khi nhận ra ý
nghĩa của chúng trong Đức Kitô. Thí dụ cuộc vượt
qua Biển Đỏ là dấu chỉ cuộc chiến thắng
của Đức Kitô, và do đó cũng là dấu chỉ của
bí tích Rửa Tội [1 Cr 10:2].
2) Nghĩa luân lý: Các biến cố được Thánh Kinh
thuật lại phải dẫn đưa chúng ta đến hành động
chính trực. Các biến cố đó được viết ra “để
răn dạy chúng ta” (1 Cr 10:11).
3) Nghĩa dẫn đường: Chúng ta cũng có thể
nhìn các sự việc và các biến cố trong ý
nghĩa vĩnh cửu của chúng, theo nghĩa chúng dẫn
đường (tiếng Hy lạp: anagoge, nghĩa là dẫn đường)
cho chúng ta về Quê trời. Thí dụ Hội Thánh nơi trần
thế là dấu chỉ Giêrusalem thiên quốc [Kh 21,1-22,5]. [Back]
0118
Có một câu thơ thời Trung Cổ tóm tắt
bốn nghĩa ấy như sau: “Nghĩa văn tự dạy về
biến cố, nghĩa ẩn dụ dạy điều phải
tin, nghĩa luân lý dạy điều phải làm, nghĩa
dẫn đường dạy điều phải vươn tới” [Augustinô de Dacia, Rotulus pugillaris I]. [Back]
0119
Các nhà chú giải có nhiệm vụ dựa
theo những quy tắc đó mà cố gắng hiểu thấu
và trình bày ý nghĩa Thánh Kinh cách sâu sắc hơn,
ngõ hầu nhờ sự học hỏi có thể gọi
là chuẩn bị đó, phán quyết của Hội Thánh được
chín chắn. Quả vậy, mọi điều liên hệ đến
việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải lệ
thuộc vào phán quyết của Hội Thánh, vì Hội
Thánh đã nhận từ Thiên Chúa mệnh lệnh và nhiệm
vụ gìn giữ và giải thích Lời Thiên Chúa.
“Tôi sẽ không tin Tin Mừng, nếu không có quyền
bính của Hội Thánh Công giáo thúc đẩy tôi” [Thánh Augustinô]. [Back]
Thư quy các sách thánh.
Truyền Thống các Tông Đồ giúp Hội
Thánh phân định những văn bản nào phải được kể
vào danh mục các Sách Thánh. Danh mục đầy đủ này được
gọi là “Thư quy” Thánh Kinh. Thánh Kinh gồm 46 bản văn Cựu
Ước (hoặc
45, nếu gom Giêrêmia và Ai Ca thành một) và 27 bản văn Tân Ước. Đó là:
Phần Cựu Ước gồm các sách: Sáng Thế, Xuất
Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật, Giôsuê, Thủ
Lãnh, Rút, l và 2 Samuen, l và 2 Các Vua, 1 và 2 Sử Biên Niên,
Étra và Nơkhemia, Tôbia, Giuđitha, Étte, l và 2 Macabê, Gióp, Thánh Vịnh,
Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Isaia,
Giêrêmia, Ai Ca, Barúc, Êdêkien, Đanien, Hôsê, Giôen, Amốt, Ôvađia,
Giôna, Mikha, Nakhum, Khabacúc, Xôphônia, Khácgai, Dacaria, Malakhi.
Phần Tân Ước gồm các sách: các sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu, theo thánh Máccô, theo thánh Luca, theo thánh Gioan, Công vụ Tông Đồ, Thư Rôma, Thư 1 và 2 Côrintô, Thư Galát, Thư Êphêxô, Thư Philípphê, Thư Côlôxê, Thư l và 2 Thêxalônica, Thư 1 và 2 Timôthê, Thư Titô, Thư Philêmôn, Thư Do thái, Thư thánh Giacôbê, Thư l và 2 của thánh Phêrô, Thư 1, 2 và 3 của thánh Gioan, Thư thánh Giuđa, Khải Huyền. [Back]
0121
Cựu Ước là một phần không thể
thiếu được của Thánh Kinh. Tất cả các tác phẩm
của Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng nên có một
giá trị trường tồn, bởi vì Giao Ước cũ
không hề bị thu hồi. [Back]
0122
Thật vậy, “Nhiệm cục Cựu Ước
được bố trí với mục đích chính yếu là để
chuẩn bị cho ngày quang lâm của Chúa Kitô, Đấng Cứu
Độ muôn loài”. Các sách Cựu Ước, “tuy có nhiều bất
toàn và tạm bợ”, vẫn làm chứng về phương pháp
giáo dục của tình yêu cứu độ của Thiên
Chúa: các sách ấy “diễn tả một cảm thức sâu
sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn
cao siêu về Ngài, một khoa khôn ngoan hữu ích về đời
sống con người, và những kho tàng kinh nguyện tuyệt
diệu; sau cùng, trong đó ẩn chứa mầu nhiệm ơn cứu
độ chúng ta. [Back]
0123
Các Kitô hữu tôn kính Cựu Ước với
tính cách Lời đích thực của Thiên Chúa. Hội Thánh luôn
cực lực chống lại ý kiến đòi gạt
bỏ Cựu Ước, viện cớ là Tân Ước đã
làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (chủ thuyết Marcion). [Back]
0124
Trong các sách Tân Ước, Lời Thiên Chúa là quyền
năng của Thiên Chúa để cứu rỗi mọi tín hữu,
được trình bày và biểu dương sức mạnh cách trổi
vượt. Các sách ấy trao cho chúng ta chân lý tối hậu
được Thiên Chúa mạc khải. Đối tượng trung tâm của
Tân Ước là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể, các việc
làm và giáo huấn của Người, cuộc khổ nạn và
việc tôn vinh Người, cũng như những bước đầu
của Hội Thánh Người dưới tác động của Chúa
Thánh Thần. [Back]
0125
Các sách Tin Mừng là tâm điểm của tất
cả các sách Thánh Kinh vì là chứng tích chính yếu về
đời sống và giáo huấn của Ngôi Lời nhập thể,
Đấng Cứu Chuộc chúng ta. [Back]
0126
Trong việc
hình thành các sách Tin Mừng, người ta có thể phân biệt
ba giai đoạn:
1) Cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu. Hội
Thánh quả quyết cách mạnh mẽ rằng bốn sách
Tin Mừng mà Hội Thánh không ngần ngại khẳng định
lịch sử tính, trung thành lưu truyền những gì
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, khi sống giữa loài người, thật
sự đã làm và đã dạy nhằm phần rỗi đời
đời của họ, cho tới ngày Người được đưa lên
trời.
2) Giáo huấn truyền khẩu. Thật vậy, sau khi Chúa
lên trời, các Tông Đồ đã truyền lại cho những
người nghe những điều Người đã nói và đã
làm với sự thông hiểu đầy đủ hơn mà chính các
ngài có nhờ học được từ các biến cố vinh hiển
của Chúa Kitô và nhờ ánh sáng Thần chân lý dạy dỗ.
3) Các sách Tin Mừng. Vậy các thánh sử đã viết bốn
sách Tin Mừng: các ngài chọn một số trong nhiều
điều đã được truyền lại bằng miệng
hay đã được chép ra rồi, tóm tắt hoặc giải
thích một số điều tuỳ theo tình trạng của
các Giáo hội, sau cùng các ngài vẫn giữ hình thức
lời giảng, mà bao giờ cũng nhằm truyền đạt
cho chúng ta những điều xác thực và chân thành về Chúa
Giêsu [CĐ Vaticanô II, DV 19]. [Back]
0127
Bốn sách Tin Mừng giữ một địa
vị độc nhất trong Hội Thánh, như có thể thấy
được qua lòng tôn kính mà phụng vụ dành cho Tin Mừng
và qua sức thu hút không gì sánh bằng của Tin Mừng
đối với các Thánh trong mọi thời đại.
“Không có giáo lý nào cao trọng hơn, tốt hơn,
quý hơn và sáng chói hơn bản văn Tin Mừng. Anh chị em
hãy xem và hãy ghi nhớ những gì Chúa và Thầy
của chúng ta là Đức Kitô đã giảng dạy bằng
lời nói và thực hiện bằng gương sáng của Người”
[Thánh Cêsaria Juniô, Epistula ad Richildam et
Radegundem].
“Trên hết mọi sự, chính Tin Mừng nuôi dưỡng
tôi trong các kinh nguyện của tôi; nơi Tin Mừng tôi gặp
được tất cả những gì cần thiết cho
linh hồn hèn mọn của tôi. Trong đó tôi luôn khám phá ra những
ánh sáng mới, những ý nghĩa còn ẩn giấu
và huyền nhiệm” [Thánh Têrêsa Hài Đồng
Giêsu, Manuscrit A, 83v]. [Back]
0128
Tính thống nhất giữa Cựu và Tân Ước.
Ngay từ thời các Tông Đồ [Cr 10,6.11; Dt 10,1; 1 Pr 3,21] rồi sau
đó trong suốt Truyền Thống của mình, Hội Thánh
luôn làm sáng tỏ tính thống nhất của kế hoạch
của Thiên Chúa trong hai Giao Ước nhờ cách đọc tiên
trưng. Cách đọc này nhận ra trong các công trình của
Thiên Chúa dưới thời Cựu Ước những “hình ảnh
báo trước” điều Thiên Chúa sẽ thực hiện lúc thời
gian đến hồi viên mãn, nơi Người Con nhập thể
của Ngài. [Back]
0129
Do đó các Kitô hữu
đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Kitô, Đấng
đã chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm
tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước.
Tuy nhiên không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá
trị riêng của nó trong mạc khải, mà chính Chúa chúng ta
đã xác nhận [Mc 12,29-31]. Đàng khác, Tân Ước cũng cần phải được đọc
dưới ánh sáng Cựu Ước. Việc dạy giáo lý
Kitô giáo thời sơ khai đã luôn trở về với Cựu
Ước [1
Cr 5,6-8; 10,1-11]. Theo một
châm ngôn cổ, Tân Ước được ẩn tàng trong Cựu Ước,
còn Cựu Ước được tỏ bày trong Tân Ước:
“cái Mới tiềm ẩn trong cái Cũ, còn cái Cũ xuất
hiện trong cái Mới” [Thánh Augustinô, Quaestiones in Heptateucum, 2, 73]. [Back]
0130
Cách đọc tiên trưng cho thấy tính năng động
hướng tới việc hoàn thành kế hoạch của
Thiên Chúa, lúc “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). Như vậy, thí dụ, việc
kêu gọi các tổ phụ và cuộc Xuất Hành khỏi
Ai cập vẫn không mất đi giá trị riêng của chúng
trong kế hoạch của Thiên Chúa, mặc dầu đồng
thời, chúng là những giai đoạn trung gian trong kế hoạch
ấy. [Back]
Thánh Kinh
Trong Đời Sống Hội Thánh.
“Trong Lời Thiên Chúa, có năng lực lớn lao
có thể nâng đỡ và ban sinh lực cho Hội Thánh,
còn đối với con cái Hội Thánh thì thành sức
mạnh cho đức tin, lương thực cho linh hồn, nguồn
sống tinh tuyền và trường tồn cho đời sống
thiêng liêng” [CĐ Vat. II, DV 21].
Vì vậy, “lối vào Thánh Kinh cần phải được
rộng mở cho các Kitô hữu” [CĐ
Vat. II, DV 22]. [Back]
0132
“Việc nghiên cứu Thánh Kinh phải là như
linh hồn của khoa Thần học. Nhờ chính lời
Thánh Kinh này, thừa tác vụ Lời Chúa, gồm có việc
giảng thuyết của các vị chủ chăn, việc dạy
giáo lý và toàn thể giáo huấn Kitô giáo, trong đó bài diễn
giảng trong phụng vụ phải chiếm ưu thế, được
nuôi dưỡng lành mạnh và tăng cường sinh lực thánh thiện.”
[Back]
0133
Hội Thánh
“nhiệt liệt và đặc biệt khuyến khích mọi
Kitô hữu… học được ‘mối lợi tuyệt vời,
là được biết Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. "Thật
vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô” [CĐ Vat. II, DV 25]. [Back]
Tóm lược
Toàn bộ Thánh
Kinh là một cuốn sách duy nhất, và cuốn sách duy nhất
ấy chính là Chúa Kitô, “bởi vì toàn bộ Thánh Kinh nói
về Chúa Kitô và toàn bộ Thánh Kinh được hoàn tất trong
Chúa Kitô” [Hugo de Sancto Victore, De
Arca Noe, 2, 8; x. Ibid. 2, 9]. [Back]
0135
“Thánh Kinh chứa
đựng Lời Thiên Chúa và vì được linh hứng nên thật
sự là Lời Thiên Chúa” [CĐ
Vat. II, DV 24]. [Back]
0136
Thiên Chúa là Tác
giả của Thánh Kinh vì Ngài linh hứng các tác giả
phàm nhân; chính Ngài hành động trong họ và nhờ họ. Như
vậy, Ngài bảo đảm rằng các tác phẩm của họ
giảng dạy chân lý cứu độ một cách không
sai lầm [X. CĐ Vat. II, DV 11]. [Back]
0137
Việc giải
thích các Sách Thánh đã được linh hứng trước hết
phải đạt đến điều Thiên Chúa muốn mạc khải
qua các thánh sử, để cứu độ chúng ta. Điều
gì đến từ Chúa Thánh Thần, chỉ được hiểu
cách đầy đủ nhờ tác động của Chúa Thánh. [Back]
0138
Hội Thánh
lãnh nhận và tôn kính 46 sách của Cựu Ước và 27
sách của Tân Ước, với tính cách là những sách được
linh hứng. [Back]
0139
Bốn sách Tin
Mừng giữ một vị trí trung tâm, vì Chúa Kitô
Giêsu là tâm điểm của các sách đó. [Back]
0140
Tính thống nhất
của hai Giao Ước bắt nguồn từ sự duy nhất
của kế hoạch và mạc khải của Thiên Chúa. Cựu
Ước chuẩn bị cho Tân Ước, còn Tân Ước làm
hoàn thành Cựu Ước; cả hai soi sáng cho nhau, cả hai đều
thật sự là Lời Thiên Chúa. [Back]
0141
Hội Thánh
đã luôn tôn kính Thánh Kinh như đã tôn kính chính Thân Thể
[Mình Thánh] Chúa” [CĐ Vat. II, DV 2]: cả
hai nuôi dưỡng và chi phối toàn bộ đời sống Kitô
hữu. “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh
sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105).
[Back]
Con người đáp Lời Thiên Chúa.
Qua mạc khải, “Thiên Chúa vô hình, do
tình thương chan hoà của Ngài, đã ngỏ lời với
loài người như với bạn hữu và liên lạc với
họ để mời gọi họ và chấp nhận cho họ
đi vào cuộc sống của chính Ngài” [CĐ
Vat, II, DV 2]. Đức tin là sự đáp lại thích đáng đối
với lời mời gọi ấy. [Back]
0143
Bằng đức tin, con người đem trí khôn và
ý chí của mình quy phục Thiên Chúa cách trọn vẹn.
Con người đặt trọn bản thân quy thuận Thiên Chúa,
Đấng mạc khải [CĐ Vat, II, DV
5]. Thánh Kinh gọi việc đáp lại này của con người
đối với Thiên Chúa, Đấng mạc khải, là “sự
vâng phục của đức tin” [X. Rm
l,5; 16,26]. [Back]
0144
Sự vâng phục
của Đức
Tin.
Vâng phục (ob-audire: nghe, lắng nghe) bằng
đức tin là tự nguyện quy thuận lời đã
nghe, bởi vì chân lý của lời đó được
Thiên Chúa là chính Chân Lý, bảo đảm. Thánh Kinh trưng dẫn
tổ phụ Abraham như gương mẫu của sự vâng phục
đó. Còn Đức Trinh Nữ Maria là người thể hiện
sự vâng phục đó cách hoàn hảo. [Back]
0145
Ông Abraham – Tổ phụ của tất cả những người
tin.
Thư gửi tín hữu Do thái, trong bài tán dương đức
tin của các bậc tổ tiên, đã đặc biệt nhấn
mạnh đến đức tin của ông Abraham: “Nhờ đức
tin, ông Abraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến
một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp,
và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 11,8). Nhờ đức tin, ông
đã sống như kẻ mới nhập cư và người lữ
hành trong Đất hứa [X. St 23,4].
Nhờ đức tin, bà Sara đã thụ thai người con của
lời hứa. Cuối cùng, nhờ đức tin, ông Abraham
đã dâng hiến con một mình làm hy lễ [X. Dt 11,17]. [Back]
0146
Như vậy, ông Abraham đã thực hiện
điều Thư gửi tín hữu Do thái định nghĩa về đức
tin: “Đức tin là bảo đảm cho những điều hy vọng,
là bằng chứng của những điều ta không thấy”
(Dt 11,1). “Ông Abraham đã tin
Thiên Chúa, và vì thế được kể là người công
chính” (Rm 4,3) [X. St 15,6]. “Nhờ
niềm tin, ông đã nên vững mạnh” (Rm 4,20), ông Abraham trở thành “tổ
phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11.18) [X. St 15,5]. [Back]
0147
Cựu Ước rất phong phú về các chứng
từ của đức tin ấy. Thư gửi tín hữu Do thái
tán tụng đức tin gương mẫu, “nhờ đức tin ấy,
các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám” (Dt 11,2.39). Tuy nhiên, “Thiên Chúa đã
trù liệu cho chúng ta một phần phúc tốt hơn”: đó là ơn
được tin vào Con của Ngài, là “Chúa Giêsu, Đấng khai mở
và kiện toàn lòng tin” (Dt 11,40;
12,2). [Back]
0148
Đức Maria – Phúc thay người đã tin.
Đức Trinh Nữ Maria thể hiện cách trọn
hảo sự vâng phục của đức tin. Trong đức
tin, Đức Maria đón nhận lời sứ thần Gabriel loan
báo và đoan hứa, vì ngài tin rằng “đối với Thiên
Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37), và ngài bày tỏ lòng quy
phục: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ
làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc
1,38). Bà Êlisabét chào Đức Maria bằng những lời
này: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ
thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1,45). Chính vì đức tin này mà
Đức Maria sẽ được mọi đời khen là diễm phúc
[X. Lc 1,48]. [Back]
0149
Trong suốt cuộc đời của Đức
Maria, và cho đến cuộc thử thách tột bậc [X. Lc 2,35], khi Chúa Giêsu Con ngài chết
trên thập giá, đức tin của ngài đã không hề lay
chuyển. Đức Maria không ngừng tin rằng lời Chúa sẽ
“được thực hiện”. Vì vậy Hội Thánh tôn
kính Đức Maria là người đã thể hiện đức
tin một cách tinh tuyền nhất. [Back]
Tin vào một mình Thiên Chúa.
Tin trước hết là gắn bó bản thân con
người với Thiên Chúa, đồng thời và không thể tách
biệt, là tự nguyện chấp nhận tất cả
chân lý được Thiên Chúa mạc khải. Bởi vừa
là gắn bó bản thân với Thiên Chúa, vừa là chấp nhận
chân lý do Thiên Chúa mạc khải, nên đức tin Kitô giáo
khác với việc tin một người phàm. Thật là tốt
đẹp và phải đạo khi hoàn toàn tin tưởng ở Thiên
Chúa và tuyệt đối tin điều Ngài đã nói. Thật vô
ích và lầm lạc khi đặt một niềm tin như vậy
vào một thụ tạo [X. Gr 17,5-6;
Tv 40,5; 146,3-4]. [Back]
0151
Tin vào Chúa
Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.
Đối với Kitô hữu, tin vào Thiên Chúa không
thể tách rời khỏi việc tin vào Đấng Ngài
đã sai đến, tức là Con chí ái của Ngài, đẹp
lòng Ngài mọi đàng [X. Mc 1,11].
Thiên Chúa đã dạy chúng ta phải nghe lời Con của
Ngài [X. Mc 9,7]. Chính Chúa Giêsu
đã nói với các môn đệ Người: “Hãy tin vào Thiên
Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,l).
Chúng ta có thể tin vào Chúa Giêsu Kitô, vì chính Người là
Thiên Chúa, là Ngôi Lời nhập thể: “Thiên Chúa, chưa bao giờ
có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng
hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ
cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Bởi
vì Người “đã thấy Chúa Cha” (Ga 6,46), nên chỉ một mình Người biết
Chúa Cha và có thẩm quyền mạc khải Chúa Cha cho chúng
ta [X. Mt 11,27]. [Back]
0152
Tin vào Chúa Thánh Thần.
Không thể tin vào Chúa Giêsu Kitô mà không thông phần
vào Thần Khí của Người. Chính Chúa Thánh Thần mạc
khải cho loài người biết Chúa Giêsu là ai. “Không ai có thể
nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không
ở trong Thần Khí” (l Cr 12,3).
“Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự,
ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa... Không ai
biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải
là Thần Khí của Thiên Chúa” (1 Cr
2,10-11). Chỉ mình Thiên Chúa mới biết một
cách trọn vẹn về Thiên Chúa. Chúng ta tin vào Chúa Thánh Thần,
vì Ngài là Thiên Chúa. Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức
tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh
Thần. [Back]
Những đặc tính
của Đức
Tin.
Đức tin là một ân sủng.
Khi thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con
Thiên Chúa hằng sống, Chúa Giêsu nói với ông rằng không
phải huyết nhục mạc khải cho ông điều ấy,
nhưng là Cha của Người, “Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17) [X. Gl 1,15-16; Mt 11,25]. Đức
tin là một hồng ân của Thiên Chúa, là một nhân đức
siêu nhiên do Thiên Chúa tuôn ban. “Để có được đức tin này, cần
có ân sủng Thiên Chúa đến trước giúp đỡ và sự trợ
giúp bên trong của Chúa Thánh Thần: Ngài đánh động và quy hướng
con tim về cùng Thiên Chúa, Ngài mở mắt lý trí và cho
‘mọi người cảm thấy dịu ngọt khi ưng thuận
và tin vào chân lý’” [CĐ Vaticanô II, DV
5]. [Back]
0154
Đức tin là một hành vi nhân linh.
Chỉ có thể tin nhờ ân sủng và những
trợ giúp nội tâm của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, tin vẫn
thật sự là một hành vi nhân linh. Tin vào Thiên Chúa và gắn
bó với những chân lý do Ngài mạc khải không đi
ngược với tự do và trí khôn con người. Ngay trong các
giao tiếp giữa người với người, không có
gì đi ngược với phẩm giá của chúng ta khi chúng
ta tin những gì người khác nói về bản thân họ
hoặc ý định của họ, và khi tin vào những lời
hứa của họ (chẳng hạn những cam kết
hôn nhân), và như vậy con người có thể hiệp thông với
nhau. Do đó, càng không có gì đi ngược với phẩm giá của
chúng ta, khi chúng ta “bằng đức tin, dâng lên Thiên Chúa, Đấng
mạc khải, sự quy phục trọn vẹn của
lý trí và ý chí” [CĐ Vat. I, Dei
Filius, c. 3], và như vậy, chúng ta được hiệp thông
thân mật với Ngài. [Back]
0155
Trong đức
tin, lý trí và ý chí con người cộng tác với ân
sủng của Thiên Chúa: “Tin là một hành vi của lý
trí chấp nhận chân lý của Thiên Chúa theo lệnh của
ý chí được Thiên Chúa tác động nhờ ân sủng” [Thánh Tôma Aquinô, Summa
theologiae, II-II, q. 2, a. 9, c]. [Back]
0156
Đức tin và lý trí.
Động lực khiến chúng ta tin không phải
là vì các chân lý được mạc khải tỏ hiện
là xác thật và có thể hiểu được đối với ánh
sáng của lý trí tự nhiên của chúng ta. Chúng ta tin
“vì uy quyền của chính Thiên Chúa, Đấng mạc khải,
Đấng không thể sai lầm cũng như không thể lừa
dối chúng ta” [CĐ Vat. I Dei Filius, c. 3].
“Tuy nhiên, để đức tin của chúng ta ‘quy phục phù hợp
với lý trí’, Thiên Chúa đã muốn có những bằng
chứng bên ngoài về mạc khải của Ngài kèm theo sự
trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần” [CĐ Vat. I, Dei Filius, c. 3]. Chẳng hạn,
các phép lạ của Đức Kitô và của các Thánh [X. Mc 16,20; Dt 2,4], các lời tiên tri,
sự phát triển và thánh thiện cũng như sự phong phú
và vững bền của Hội Thánh, đó “là những dấu
chỉ chắc chắn nhất của mạc khải của
Thiên Chúa, những dấu chỉ đó phù hợp với
lý trí của mọi người” [CĐ
Vat. I, Dei Filius, c. 3], đó là những động lực khiến
chúng ta tin, những động lực đó cho thấy “sự ưng
thuận của đức tin hoàn toàn không phải là một
hành vi mù quáng của tâm trí” [DS 3010].
[Back]
0157
Đức tin thì chắc chắn, chắc
chắn hơn mọi hiểu biết phàm nhân, bởi vì đức
tin dựa trên chính Lời của Thiên Chúa, Đấng không thể
nói dối. Các chân lý được mạc khải có thể
bị coi là tối tăm đối với cả lý trí lẫn
kinh nghiệm phàm nhân, nhưng “sự chắc chắn nhờ
ánh sáng của Thiên Chúa thì lớn hơn sự chắc chắn
nhờ ánh sáng của lý trí tự nhiên” [Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae, II-II, q. 171,
a.5, 3um]. “Mười ngàn nỗi khó khăn không làm thành một
sự hồ nghi” [John Henry Newman,
Apologia pro vitasua, c. 5]. [Back]
0158
“Đức tin tìm hiểu biết” [Thánh Anselmô, Proslogion, Prooemium]: gắn
liền với đức tin là việc người tin muốn biết
rõ hơn về Đấng mình đã tin và hiểu
rõ hơn về điều Ngài đã mạc khải; về
phần mình, một hiểu biết sâu xa hơn sẽ dẫn
đến một đức tin lớn lao hơn, luôn thấm đượm
tình yêu hơn. Ơn đức tin mở “con mắt của trái
tim” (Ep 1,18) để có một hiểu
biết sống động về các nội dung của mạc
khải, nghĩa là về toàn bộ kế hoạch của
Thiên Chúa và các mầu nhiệm đức tin, tương quan giữa
các mầu nhiệm với nhau và với Đức Kitô, tâm điểm
của các mầu nhiệm được mạc khải. “Và để
người ta hiểu biết mạc khải sâu xa thêm
mãi…, Chúa Thánh Thần không ngừng ban các hồng ân mà
kiện toàn đức tin” [CĐ Vat. II, DV
5]. Đúng như câu châm ngôn của thánh Augustinô: “Bạn
hãy hiểu để tin; bạn hãy tin để hiểu”
[Thánh Augustinô, Sermo,43,7,9]. [Back]
0159
Đức tin và khoa học. “Mặc dù đức tin vượt trên lý trí, nhưng không
bao giờ có thể có mâu thuẫn thật sự giữa đức
tin và lý trí: vì cùng một Thiên Chúa, Đấng mạc
khải các mầu nhiệm và tuôn đổ đức tin, cũng
là Đấng ban ánh sáng lý trí cho tâm hồn con người, mà
Thiên Chúa không thể tự phủ nhận chính mình
Ngài, cũng như điều chân thật không bao giờ nghịch
lại điều chân thật” [CĐ Vat. I, Dei Filius, c. 4]. “Bởi vậy, việc nghiên cứu
có phương pháp trong mọi ngành, nếu được tiến hành một
cách thật sự khoa học và theo đúng các chuẩn mực
luân lý, sẽ không bao giờ thật sự đối nghịch
với đức tin, bởi vì các thực tại trần
thế và các thực tại đức tin đều có nguồn gốc
là bởi cùng một Thiên Chúa. Hơn nữa, ai khiêm tốn và
kiên nhẫn cố gắng nghiên cứu những bí ẩn của
các sự vật, thì mặc dù họ không ý thức,
họ vẫn như được dẫn đưa bởi bàn tay của
Thiên Chúa, Đấng đang nâng đỡ vạn vật, Ngài làm cho hiện
hữu những gì đang hiện hữu” [CĐ Vat. II, GS 36]. [Back]
0160
Đức tin là một hành vi tự do.
Để việc
đáp lại của đức tin là một hành vi nhân linh, “con người
phải đáp lại Thiên Chúa bằng việc tin một cách tự
nguyện. Do đó, không được cưỡng ép ai phải chấp
nhận đức tin trái với ý muốn của họ.
Thật vậy, tự bản chất của nó, đức tin
là một hành vi tự nguyện” [CĐ Vat. II, Dignitatis humanae,
10]. “Thiên Chúa mời gọi
con người phục vụ Ngài trong tinh thần và chân
lý; con người phải theo lương tâm đáp lại lời mời
gọi ấy, nhưng không bị ép buộc…. Điều này ta thấy
rõ ràng nhất nơi Đức Kitô” [CĐ Vat. II, Dignitatis humanae,
11]. Thật vậy, Đức
Kitô mời gọi người ta tin và hối cải, nhưng Người
không hề cưỡng ép ai. “Người đã làm chứng cho
chân lý, nhưng không muốn dùng sức mạnh để áp đặt
chân lý đối với những kẻ chống đối.
Nước Người … tăng triển bằng tình yêu,
tình yêu đó là Đức Kitô đã chịu giương cao trên thập
giá để lôi kéo người ta đến với mình” [CĐ Vat. II, Dignitatis humanae, 11]. [Back]
0161
Sự cần thiết của đức tin.
Tin vào Chúa
Giêsu Kitô và Đấng đã sai Người đến cứu độ
chúng ta, là điều cần thiết để đạt được ơn
cứu độ đó [X. Mc 16,16; Ga 3,36; 6,40]. “Mà ‘không có đức
tin, thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa’ (Dt 11,6) và cũng không thể đạt tới
chức vị làm con cái Thiên Chúa, nên không ai được công chính
hóa nếu không có đức tin, và không ai đạt tới cuộc
sống muôn đời nếu không ‘bền chí đến cùng’ (Mt 10,22; 24,13) trong đức tin” [CĐ Vat. I, Dei Filius, c. 3]. [Back]
0162
Sự kiên trì trong đức tin.
Đức tin là một hồng ân nhưng không, Thiên
Chúa ban tặng cho con người. Chúng ta có thể đánh mất hồng
ân vô giá đó. Thánh Phaolô cảnh giác ông Timôthê về nguy cơ này:
“Đây là chỉ thị tôi trao cho anh … để anh dựa vào đó mà
chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp này, với
đức tin và lương tâm ngay thẳng. Một số người
đã vứt bỏ lương tâm ngay thẳng đó, nên đức tin của
họ đã bị chết chìm” (1 Tm 1,18-19). Để sống, lớn lên và kiên
trì đến cùng trong đức tin, chúng ta phải nuôi dưỡng
đức tin bằng Lời Thiên Chúa; chúng ta phải cầu
xin Chúa gia tăng đức tin cho chúng ta [X.
Mc 9,24; Lc 17,5; 22,32]; đức tin ấy phải hành động
“nhờ đức mến” (Gl 5, 6) [X. Gc
2,14-26], phải được nâng đỡ bằng đức cậy
[X. Rm 15,13] và phải đâm rễ
trong đức tin của Hội Thánh. [Back]
0163
Đức tin – khởi đầu của sự sống
muôn đời.
Đức tin làm cho chúng ta như được nếm trước
niềm hoan lạc và ánh sáng của ơn hưởng kiến hồng
phúc (visio beatifica), ơn đó là mục đích của cuộc lữ
hành trần gian này của chúng ta. Lúc đó chúng ta sẽ
nhìn thấy Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12), và “Ngài thế nào chúng ta sẽ
thấy Ngài như vậy” (1 Ga 3,2).
Vì vậy đức tin đã là khởi đầu của sự
sống muôn đời:
“Khi chúng ta chiêm ngưỡng, như nhìn trong gương, ân sủng
là những điều thiện hảo còn xa vời được
hứa ban cho chúng ta, mà nhờ đức tin chúng ta mong chờ
được hưởng, thì y như những điều đó đã có
đây rồi” [Thánh Basiliô Cả, Liber de
Spiritu Sancto, 15, 36]. [Back]
0164
Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta “tiến bước
nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy
Chúa” (2 Cr 5,7), và chúng ta nhận
biết Thiên Chúa “lờ mờ như trong một tấm gương,
có ngần, có hạn” (1 Cr 13,12).
Mặc dù đức tin sáng tỏ nhờ Đấng chúng ta tin,
nhưng đời sống đức tin lại thường tối tăm.
Đức tin có thể bị thử thách. Trần gian mà chúng
ta đang sống thường được coi như xa vời với những
gì đức tin tuyên xưng; những kinh nghiệm về sự
dữ và đau khổ, về những bất công và cái chết,
dường như mâu thuẫn với Tin Mừng; những điều
đó có thể làm cho đức tin bị nao núng và trở thành một
cám dỗ đối với đức tin. [Back]
0165
Chính lúc đó chúng ta phải hướng về các
nhân chứng đức tin: về ông Abraham, là người “mặc
dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn
trông cậy và vững tin” (Rm 4,18);
về Đức Trinh Nữ Maria, là người, “trong cuộc lữ
hành đức tin” [CĐ Vat. II, LG 58],
đã tiến đến tận “đêm tối của đức
tin” [X. ĐGH Gioan Phaolô II, Redemptoris Mater,
17] khi tham dự vào đêm tối là cuộc khổ
hình thập giá của Con ngài, và đêm tối là phần mộ
của Người [X. ĐGH Gioan Phaolô II,
Redemptoris Mater, 18]; và chúng ta phải hướng về biết
bao nhiêu nhân chứng đức tin khác nữa: “Được ngần
ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta
hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi
đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy
trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Chúa Giêsu là
Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 12,1-2). [Back]
Đức tin là
một hành vi cá nhân: là lời đáp lại cách tự nguyện
của con người trước lời mời gọi của
Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải. Nhưng đức tin không
phải là một hành vi đơn độc. Không ai có thể tin một
mình, cũng như không ai có thể sống một
mình. Không ai tự ban đức tin cho mình, cũng như
không ai tự ban sự sống cho mình. Người tin nhận
được đức tin từ những kẻ khác và phải thông
truyền đức tin đó cho những kẻ khác. Tình yêu của
chúng ta đối với Chúa Giêsu và đối với tha nhân, thúc
giục chúng ta nói về đức tin của chúng ta cho những
người khác. Mỗi người tin là như một mắt xích
trong một xâu chuỗi rộng lớn các kẻ tin. Tôi
không thể tin nếu không được nâng đỡ bằng đức
tin của những người khác, và bằng đức tin của
tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của những
người khác. [Back]
0167
“Tôi tin” [Tín biểu các Tông Đồ]: đây là đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữu đích thân tuyên xưng, đặc biệt lúc chịu phép Rửa Tội. “Chúng tôi tin” [Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli]: đây là đức tin của Hội Thánh, được các Giám mục họp Công đồng tuyên xưng, hoặc thông thường hơn, được cộng đoàn tín hữu cử hành phụng vụ tuyên xưng. “Tôi tin”: đây cũng là Hội Thánh, Mẹ chúng ta, đang lấy đức tin của mình mà đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta nói: “Tôi tin”, “Chúng tôi tin”. [Back]
0168
Lạy
Chúa, xin nhìn đến Đức Tin của
Hội Thánh Chúa
Trước hết
Hội Thánh tin, và như vậy hướng dẫn, nuôi dưỡng
và nâng đỡ đức tin của tôi. Trước hết Hội
Thánh tuyên xưng Chúa ở khắp nơi (như chúng ta hát trong kinh Te
Deum: “Và trải rộng khắp nơi trần thế, Hội
Thánh Ngài hoan hỷ tuyên xưng”), rồi cùng với Hội Thánh và trong Hội Thánh, chúng
ta được thúc đẩy và hướng dẫn để chúng ta cũng
tuyên xưng: “Tôi tin”, “Chúng tôi tin”. Chính từ Hội Thánh mà chúng
ta lãnh nhận đức tin và đời sống mới trong
Đức Kitô nhờ bí tích Rửa Tội. Trong sách Nghi thức
Rôma, thừa tác viên cử hành bí tích Rửa Tội hỏi
người dự tòng: “Con xin gì cùng Hội Thánh Chúa?
Thưa: “Con xin đức tin”, “Đức tin sinh ơn ích gì cho
con?”, “Thưa đức tin đem lại
cho con sự sống đời đời” [Nghi thức gia nhập
Kitô giáo cho người lớn, 75]. [Back]
0169
Ơn cứu độ
đến từ một mình Thiên Chúa, nhưng bởi vì
chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin nhờ Hội
Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta: “Chúng tôi tin Hội Thánh
như người mẹ cho chúng tôi được tái sinh, chứ chúng tôi
không tin vào Hội Thánh như là tác giả của ơn cứu độ”
[Faustus
Reiensis, De Spiritu Sancto, 1,2]. Bởi vì là mẹ chúng ta, nên Hội Thánh cũng
là người giáo dục đức tin của chúng ta. [Back]
Ngôn ngữ
Đức Tin.
Chúng ta không
tin vào những công thức, nhưng tin vào những thực tại
mà các công thức đó diễn tả, những thực tại
mà đức tin cho phép chúng ta “đụng chạm tới”. “Hành vi
[đức tin] của tín hữu không dừng lại ở lời
phát biểu, mà ở thực tại [được phát biểu]” [Thánh Tôma Aquinô, Summa
theologiae,, II-II, q. 1, a. 2, ad 2]. Tuy nhiên, chúng ta tiếp cận những thực tại
đó nhờ sự trợ giúp của những công thức diễn
tả đức tin. Những công thức này cho phép diễn tả
và lưu truyền đức tin, cử hành đức tin trong cộng
đoàn, làm cho tín hữu thấm nhuần và sống đức tin
mỗi ngày một hơn. [Back]
0171
Hội Thánh, là “cột trụ và điểm tựa
của chân lý” (1 Tm 3,15),
trung thành bảo toàn đức tin đã được truyền lại
cho dân thánh một lần cho mãi mãi [X. Gđ 1,3]. Chính Hội Thánh ghi nhớ
những Lời của Đức Kitô và lưu truyền từ đời
nọ đến đời kia lời tuyên xưng đức tin của
các Tông Đồ. Cũng như một người mẹ dạy con
mình nói, và qua đó dạy con hiểu biết và giao tiếp
với những người khác, Hội Thánh, Mẹ chúng ta, cũng
dạy chúng ta ngôn ngữ đức tin để dẫn dắt
chúng ta hiểu biết đức tin và sống đức tin. [Back]
Một Đức Tin duy nhất.
Từ nhiều thế kỷ, qua biết bao
ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc và quốc gia, Hội Thánh không
ngừng tuyên xưng đức tin duy nhất của mình, đức
tin đó Hội Thánh đã lãnh nhận từ một Chúa
duy nhất, đức tin đó được lưu truyền nhờ một
Phép Rửa duy nhất, đức tin đó bén rễ trong niềm
xác tín rằng tất cả mọi người chỉ có một
Thiên Chúa duy nhất và là Cha duy nhất [X.
Ep 4,4-6]. Thánh Irênê Lyon, chứng nhân của đức tin ấy,
đã tuyên bố: [Back]
0173
“Hội Thánh được gieo trồng trên khắp
thế giới cho đến tận cùng cõi đất,
đã lãnh nhận đức tin từ các Tông Đồ và
các môn đệ của các ngài... Hội Thánh chuyên cần bảo
tồn lời rao giảng đó và đức tin đó như đang sống
trong cùng một ngôi nhà, và tin những điều đó một cách
giống nhau, như chỉ có một linh hồn và một trái
tim, và đồng thanh rao giảng, dạy dỗ và lưu truyền
đức tin ấy, như chỉ có một miệng lưỡi” [Thánh Irênê, Adversus haereses, 1, 10, 1-2]. [Back]
0174
“Mặc dầu trên trần gian có những
ngôn ngữ khác nhau, nhưng nội dung của Thánh Truyền là
một và y nguyên. Các Giáo Hội được thiết lập tại
Đức không tin một cách nào khác hoặc lưu truyền một
cách nào khác, và các Giáo Hội ở vùng Ibêria, các Giáo Hội ở
vùng Celtô, các Giáo Hội ở Đông phương, ở Ai Cập, ở
Libya hay tại trung tâm thế giới cũng vậy…” [Thánh Irênê, Adversus haereses, 1, 10, 2]. “Quả
vậy, lời rao giảng của Hội Thánh có tính chất
chân thật và vững bền, nơi Hội Thánh, một con đường
cứu độ duy nhất được tỏ bày cho khắp trần
gian” [Thánh Irênê, Adversus haereses, 5,20,1]. [Back]
0175
“Chúng ta gìn giữ đức tin mà chúng ta
đã lãnh nhận từ Hội Thánh, và đức tin đó,
luôn nhờ Thần Khí của Thiên Chúa, là như một kho tàng
quý giá luôn tươi trẻ được chứa đựng trong cái
bình tốt, và đức tin đó làm tươi trẻ chính cái
bình chứa đựng nó” [Thánh
Irênê, Adversus haereses, 3,24,1]. [Back]
0176
Tóm Lược
Đức tin là sự
gắn bó cá nhân của toàn thể con người mình với
Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải. Đức tin bao hàm sự
gắn bó của lý trí và ý chí với mạc khải
mà Thiên Chúa đã bày tỏ về chính Ngài qua các việc làm
và lời nói. [Back]
0177
Vì vậy
“tin” có hai tương quan: với chủ vị và với chân
lý; với chân lý vì tin vào chủ vị là Đấng
làm chứng cho chân lý đó. [Back]
0178
Chúng ta không được
tin vào ai khác ngoài Thiên Chúa, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. [Back]
0179
Đức tin là một
hồng ân siêu nhiên của Thiên Chúa. Để tin, con người cần
đến những trợ lực bên trong của Chúa Thánh Thần. [Back]
0180
“Tin” là một
hành vi nhân linh, có ý thức và tự do, xứng hợp
với phẩm giá con người. [Back]
0181
“Tin” là một
hành vi có chiều kích Hội Thánh. Đức tin của Hội
Thánh có trước, sinh ra, nâng đỡ và dưỡng nuôi đức tin
của chúng ta. Hội Thánh là Mẹ của mọi tín hữu.
“Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội
Thánh là Mẹ” [Thánh Cyprianô, De Ecclesiae catholicae unitate, 6]. [Back]
0182
Chúng ta tin tất
cả những gì chứa đựng trong Lời Thiên
Chúa, được viết thành văn hoặc được lưu truyền,
và được Hội Thánh dạy phải tin như là những điều. [Back]
0183
Đức tin là cần
thiết để được cứu độ. Chính Chúa đã khẳng
định: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu
độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”
(Mc 16,16). [Back]
0184
Đức tin là một cách nếm trước sự hiểu
biết sẽ làm cho chúng ta hạnh phúc trong tương lai” [Thánh Tôma Aquinô, Compendium theologiae,1,2]. [Back]
Các Tín Biểu
Ai nói “Tôi tin”, tức là nói “Tôi gắn bó với
những điều chúng tôi cùng tin”. Sự hiệp thông trong đức
tin đòi hỏi một ngôn ngữ chung của đức
tin, làm chuẩn mực cho mọi người và liên kết mọi
người trong cùng một lời tuyên xưng đức tin. [Back]
0186
gay từ đầu, Hội Thánh thời các Tông
Đồ đã diễn tả và lưu truyền đức tin của
mình bằng những công thức ngắn và có giá trị
chuẩn mực đối với mọi người [X. Rm 10,9; 1 Cr 15,3-5]. Không lâu sau đó, Hội
Thánh lại muốn thu thập những điểm cốt yếu
của đức tin vào những bản tóm lược mạch lạc
và rõ ràng, chủ yếu dành cho những người chuẩn
bị lãnh bí tích Rửa Tội.
“Bản tóm lược đức tin này được soạn thảo
không phải để làm vừa lòng người ta; nhưng trong
toàn bộ Thánh Kinh, đã chọn lấy những điều
quan trọng nhất để làm thành một giáo huấn đức
tin duy nhất. Như trong một hạt cải nhỏ bé
đã chứa đựng nhiều cành lá, cũng vậy trong
một ít lời, bản tóm lược đức tin này chứa đựng
toàn bộ tri thức đạo đức của cả Cựu Ước
lẫn Tân Ước” [Thánh Cyrillô
Giêrusalem, Catecheses illuminandorum, 5, 12]. [Back]
0187
Các bản tổng hợp đức tin đó được
gọi là các “Bản tuyên xưng đức tin”, vì chúng tóm lược
đức tin mà các Kitô hữu tuyên xưng. Chúng được gọi là
“Kinh Tin Kính” vì thường bắt đầu bằng thuật
ngữ “Tôi tin kính.” Chúng cũng còn được gọi là các
“Tín biểu” (Symbola fidei). [Back]
0188
Symbolon là một từ Hy Lạp dùng để
chỉ phân nửa của một vật được bẻ ra (chẳng hạn, của một ấn
tín) mà người ta đưa ra làm dấu chỉ để nhận
ra nhau. Những phần đã bị bẻ ra được đặt
khớp lại với nhau để xác minh căn tính của người
mang nó. Tín biểu (Symbolum fidei)
là một dấu chỉ để các tín hữu nhận ra nhau,
hiệp thông với nhau. Symbolon sau đó được dùng để chỉ
một bản toát yếu, bản sưu tập, hoặc bản
tóm lược. Tín biểu là bản toát yếu những chân
lý chủ yếu của đức tin. Từ đó, nó được
coi là điểm đầu tiên và căn bản mà việc dạy giáo
lý phải quy chiếu. [Back]
0189
Việc “tuyên xưng đức tin” đầu tiên được
thực hiện khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội.
“Tín biểu” trước hết là Tín biểu của Phép Rửa.
Bởi vì Phép Rửa được ban “nhân danh Cha, và Con, và
Thánh Thần” (Mt 28,19), nên các
chân lý đức tin được tuyên xưng trong Phép Rửa
đã được sắp xếp theo tương quan của chúng với
Ba Ngôi Chí Thánh. [Back]
0190
Do đó Tín biểu được chia làm ba phần: “Phần
đầu nói về Thiên Chúa Ngôi Thứ Nhất và về công
trình tạo dựng kỳ diệu; phần tiếp
sau nói về Ngôi Hai và về mầu nhiệm Cứu chuộc
loài người; phần cuối cùng nói về Ngôi Ba, là nguyên
lý và nguồn mạch của việc thánh hóa chúng ta” [Catechismus Romanus, 1,1,4]. Đó là “ba chương
của ấn tín [rửa tội]
của chúng ta” [Thánh Irênê, Demonstratio
apostolicae predicationis, 100]. [Back]
0191
Tín biểu “được chia làm ba phần, gồm
những câu khác biệt nhưng liên kết rất chặt chẽ
với nhau. Dựa theo một hình ảnh các Giáo phụ
quen dùng, chúng ta gọi các câu đó là articuli [nghĩa đen là các
khúc, ở đây dịch là “mục”]. Như các chi thể trong một
thân thể được phân chia thành nhiều khúc, thì cũng
vậy, trong việc tuyên xưng đức tin, từng điều
riêng rẽ chúng ta phải tin cũng được gọi cách
thích hợp và chính đáng là một articulum” [Catechismus Romanus, 1,1,4]. Theo một truyền thống
cổ xưa, được thánh Ambrôsiô xác nhận, người ta quen liệt
kê mười hai mục trong kinh Tin Kính, để nói lên một
cách tượng trưng, dựa theo số các Tông Đồ, kinh đó bao
gồm đức tin tông truyền [X.
Thánh Ambrôsiô, Explanatio Symboli, 8]. [Back]
0192
Qua các thế kỷ, để đáp ứng những
nhu cầu của các thời đại khác nhau, đã có nhiều
Bản tuyên xưng đức tin hoặc Tín biểu: những Tín
biểu của các Giáo Hội thời các Tông Đồ và thời
cổ xưa [X. Symbola fidei ab Ecclesia
antiqua recepta: DS 1-64], Tín biểu “Quicumque” được coi là
của thánh Athanasiô [X. DS 75-76],
những Bản tuyên xưng đức tin của một số
Công đồng như Tôlêđô [CĐ Tôlêđô XI: DS
525-541]; Latêranô [CĐ Latêranô IV: DS
800-802]; Lyon [CĐ Lyon II: DS 851-861];
Triđentinô [Professio fidei Tridentina: DS
1862-1870], hay của một số vị Giáo Hoàng như “Bản
tuyên xưng đức tin” của Đức Giáo Hoàng Đamasô [X. DS 71-72], hoặc “Kinh Tin Kính của
dân Thiên Chúa” do Đức Phaolô VI soạn thảo (1968) [ĐGH Phaolô VI, Solemnis Professio fidei]. [Back]
0193
Không một Tín biểu nào xuất phát từ
những thời đại khác nhau của đời sống Hội
Thánh có thể bị coi là lỗi thời và vô ích. Các Tín biểu
này giúp chúng ta ngày nay biết được và thấu hiểu đức
tin ngàn đời của Hội Thánh, thông qua các bản tóm lược
đã được thực hiện. Trong tất cả các Tín biểu,
có hai bản chiếm một địa vị rất đặc
biệt trong đời sống Hội Thánh. [Back]
0194
Tín biểu của các Tông Đồ: bản
này được gọi như vậy bởi vì được coi, một
cách chính xác, như bản tóm lược trung thành đức tin của
các Tông Đồ. Đây là Tín biểu dùng khi rửa tội, được
Giáo Hội Rôma sử dụng từ thời xa xưa. Do đó, bản
này có một uy thế lớn lao: “Đây là Tín biểu mà Giáo Hội
Rôma bảo tồn, đó là nơi thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông
Đồ, đã đặt tông tòa và là nơi ngài đã đem đức
tin chung của Hội Thánh đến” [Thánh
Ambrôsiô, Explanatio Symboli, 7]. [Back]
0195
Tín biểu được gọi là Nicêa-Constantinôpôli
có một uy thế lớn lao vì phát xuất từ hai
Công đồng chung đầu tiên (năm 325 và
năm 381). Cho đến nay, bản này vẫn còn là gia sản
chung của tất cả các Giáo Hội lớn của Đông
phương và Tây phương. [Back]
0196
Sách Giáo Lý này trình bày đức tin theo Tín
biểu của các Tông Đồ, vì bản này có thể
nói được là “giáo lý Rôma cổ xưa nhất”. Tuy nhiên, phần
trình bày sẽ được bổ túc bằng cách thường
xuyên tham chiếu Tín biểu Nicêa–Constantinôpôli vì bản
này thường rõ ràng và chi tiết hơn. [Back]
0197
Cũng như trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa
Tội, khi trọn cuộc sống của chúng ta được ủy
thác cho “quy luật đạo lý” (Rm
6,17), chúng ta hãy đón nhận Tín biểu, để nhờ
đó chúng ta được sống. Khi đọc kinh Tin Kính với
lòng tin, chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần, và cũng được hiệp thông với
Hội Thánh phổ quát, là người lưu truyền đức tin
cho chúng ta, và chính trong lòng Hội Thánh mà chúng ta tin:
“Tín biểu là dấu ấn thiêng liêng, là điều chúng
ta tâm niệm, và như là người canh giữ luôn hiện diện,
chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta” [Thánh Ambrôsiô, Explanatio Symboli, 1]. [Back]
Tôi tin
kính Đức Chúa Trời
là Cha.
Bản tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt
đầu bằng Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là “khởi
nguyên và cùng tận” (Is 44,6), là
khởi đầu và cùng đích của hết mọi loài. Kinh Tin
Kính bắt đầu từ Thiên Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha
là Ngôi Thứ Nhất trong Ba Ngôi Chí Thánh; Tín biểu của
chúng ta bắt đầu bằng việc tạo dựng trời
đất, bởi vì việc tạo dựng là khởi đầu
và là nền tảng của mọi công trình của
Thiên Chúa. [Back]
0199
Tôi Tin Kính Đức Chúa Trời.
“Tôi tin kính Đức Chúa Trời”: lời xác quyết
đầu tiên của bản tuyên xưng đức tin cũng là điều
quan trọng nhất. Toàn bộ Tín biểu đều nói về
Thiên Chúa, và nếu có nói về con người và về trần
gian, thì cũng nói trong tương quan với Thiên Chúa. Tất
cả các mục trong bản Tuyên xưng đức tin đều lệ
thuộc vào mục thứ nhất này, cũng như các giới
răn của Thiên Chúa đều nhằm giải thích giới răn
thứ nhất. Những mục khác giúp chúng ta hiểu biết
Thiên Chúa hơn, theo mức độ Ngài đã từng bước tự
mạc khải cho con người. “Vì vậy, một cách
đúng đắn, các tín hữu trước tiên tuyên xưng họ tin vào
Thiên Chúa” [Catechismus Romanus, 1, 2, 6]. [Back]
0200
Tôi Tin Kính Một Thiên Chúa.
Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli bắt đầu bằng
những lời trên đây. Việc tuyên xưng chỉ có một
Thiên Chúa duy nhất bắt nguồn từ mạc khải của
Thiên Chúa trong Cựu Ước. Việc tuyên xưng này không thể
tách biệt khỏi việc tuyên xưng về sự hiện hữu
của Thiên Chúa, và cũng có giá trị hết sức căn bản.
Thiên Chúa là Đấng duy nhất: chỉ có một Thiên Chúa.
“Vì vậy đức tin Kitô giáo tin và tuyên xưng chỉ có một
Thiên Chúa, xét theo bản tính, bản thể và yếu tính” [Catechismus Romanus, 1, 2, 8]. [Back]
0201
Thiên Chúa tự mạc khải cho Israel, dân
Ngài chọn, rằng Ngài là Đấng Duy Nhất: “Nghe đây, hỡi
Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất.
Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết
lòng, hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4-5). Qua các Tiên tri, Thiên Chúa kêu gọi
Israel và các dân tộc trở lại với Ngài, là Đấng
Duy Nhất: “Nào muôn dân khắp cõi địa cầu,
hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu
độ, vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác… Trước
mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối, và mở
miệng thề rằng: Chỉ mình Đức Chúa mới
cứu độ và làm cho mạnh sức” (Is 45,22-24) [X. Pl 2,10-11]. [Back]
0202
Chính Chúa Giêsu xác quyết rằng Thiên Chúa là “Chúa Duy Nhất”, và phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí và hết sức lực [X. Mc 12,29-30]. Đồng thời, Người cũng minh định rằng chính Người là “Chúa” [X. Mc 12,35-37]. Tuyên xưng “Đức Giêsu là Chúa” là nét đặc thù của đức tin Kitô giáo. Điều này không trái ngược với đức tin vào một Thiên Chúa Duy Nhất. Tin vào Chúa Thánh Thần là “Chúa và là Đấng ban sự sống” không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa Duy Nhất:
Chúng tôi tin cách vững vàng và tuyên xưng cách đơn sơ
rằng chỉ có Một Thiên Chúa chân thật, vĩnh cửu,
vô hạn và bất biến, vô phương thấu hiểu, toàn
năng và khôn tả, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần: Ba
Ngôi Vị, nhưng chỉ có một yếu tính, một bản
thể hoặc một bản tính hoàn toàn đơn nhất” [CĐ Latêranô IV,C.1, De fide Catholica]. [Back]
Thiên Chúa mạc khải
danh Ngài.
Thiên Chúa tự mạc khải cho Israel, dân của
Ngài, tỏ cho họ biết Danh Ngài. Tên gọi diễn tả
yếu tính, căn tính của một người và ý nghĩa
cuộc đời của người đó. Thiên Chúa có một tên gọi.
Ngài không phải là một sức mạnh vô danh. Cho biết
tên gọi của mình là cho những người khác nhận
biết mình, một cách nào đó là tự trao mình, để
người ta có thể tiếp xúc với mình, có thể
hiểu biết mình cách thân mật hơn, và thật sự
có thể gọi mình một cách cá vị. [Back]
0204
Thiên Chúa đã tự mạc khải cho dân
Ngài một cách tiệm tiến và dưới nhiều danh xưng
khác nhau. Tuy nhiên, việc mạc khải tôn danh Thiên Chúa cho
ông Môisen trong cuộc thần hiện nơi bụi gai cháy bừng,
để dẫn đến cuộc Xuất Hành và Giao Ước
Sinai, được coi như một mạc khải căn bản cho cả
Cựu và Tân Ước. [Back]
0205
Thiên Chúa hằng
sống.
Thiên Chúa gọi ông Môisen từ giữa bụi gai cháy bừng nhưng không tàn lụi. Thiên Chúa nói với ông Môisen: “Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob” (Xh 3,6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của tổ tiên, Đấng đã kêu gọi và hướng dẫn các Tổ phụ trong các cuộc lữ hành của họ. Ngài là Thiên Chúa trung tín và thương xót, Đấng nhớ tới họ và nhớ các lời Ngài đã hứa; Ngài đến để giải thoát con cháu họ khỏi ách nô lệ. Ngài là Thiên Chúa, Đấng, vượt quá thời gian và không gian, có khả năng và ý muốn làm điều đó, và là Đấng sẽ dùng sự toàn năng của mình để thực hiện kế hoạch này.
“Ta là Đấng Hiện Hữu”.
“Ông Môisen thưa với Thiên Chúa: ‘Bây giờ, con đến gặp con
cái Israel và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai
tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên
Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ
làm sao?’ Thiên Chúa phán với ông Môisen: ‘Ta là Đấng Hiện Hữu’.
Ngài phán: ‘Ngươi nói với con cái Israel thế này: “Đấng Hiện
Hữu” sai tôi đến với anh em… Đó là danh Ta cho đến muôn
thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ
đời nọ đến đời kia’” (Xh 3,13-l5). [Back]
0206
Ta là Đấng hiện hữu.
Khi mạc khải Danh thánh bí nhiệm YHWH của
Ngài, nghĩa là, “Ta là Đấng Hiện Hữu”
hoặc “Ta là Đấng Ta là”, hoặc “Ta chính là Ta”, Thiên Chúa nói Ngài là ai và phải
gọi tên Ngài như thế nào. Danh thánh này có tính chất huyền
nhiệm cũng như Thiên Chúa là mầu nhiệm. Đó vừa là
Danh được mạc khải, vừa như là từ chối một
Danh xưng, và vì vậy, Danh này diễn tả Thiên Chúa một
cách tốt nhất, vì Ngài là Đấng vô cùng vượt quá
tất cả những gì chúng ta có thể hiểu biết
và nói lên: Ngài là “Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45,15), Danh thánh Ngài không thể gọi được
[X. Tl 13,18], và vị Thiên Chúa đó
là Đấng tự làm cho mình nên gần gũi với con
người. [Back]
0207
Khi mạc khải Danh
Ngài, Thiên Chúa đồng thời mạc khải lòng trung
tín của Ngài, một lòng trung tín có từ muôn thuở
và cho tới muôn đời, một lòng trung tín có giá trị
trong quá khứ (“Ta
là Thiên Chúa của cha ngươi”, Xh 3,6) cũng
như trong tương lai (“Ta
sẽ ở với ngươi”, Xh 3,12).
Thiên Chúa, Đấng mạc khải Danh Ngài là “Đấng Hiện
Hữu”, đã tự mạc khải mình là vị
Thiên Chúa luôn có mặt, luôn hiện diện với dân Ngài để
cứu độ họ. [Back]
0208
Trước sự hiện diện cuốn hút và
huyền nhiệm của Thiên Chúa, con người nhận ra sự
nhỏ bé của mình. Trước bụi gai cháy bừng,
ông Môisen cởi dép và che mặt trước tôn nhan Thiên Chúa chí
thánh [X. Xh 3,5-6]. Trước vinh
quang của Thiên Chúa ba lần thánh, tiên tri Isaia thốt lên:
“Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người
môi miệng ô uế” (Is 6,5). Trước
những dấu chỉ thần linh Chúa Giêsu thực hiện,
ông Phêrô thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ
tội lỗi” (Lc 5,8). Nhưng bởi
vì Thiên Chúa là Đấng Thánh, nên Ngài có thể tha thứ
cho kẻ nhận biết mình là tội nhân trước mặt
Ngài: “Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận…, vì
Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa
ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Hs 11,9).
Tông đồ Gioan cũng sẽ nói tương tự: “Chúng ta sẽ
được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu
lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả
hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (1 Ga 3,19-20), có mặt, luôn hiện
diện với dân Ngài để cứu độ họ. [Back]
0209
Vì tôn kính sự thánh thiện của
Thiên Chúa, dân Israel không gọi Danh của Ngài. Khi đọc Thánh
Kinh, người ta thay thế Danh được mạc khải (YHWH) bằng tước
hiệu thần linh là “Chúa” (Adonai, tiếng Hy lạp
là Kyrios). Thần tính của Chúa
Giêsu sẽ được tuyên xưng bằng tước hiệu này: “Đức
Giêsu là Chúa”. [Back]
0210
Thiên Chúa nhân hậu và từ bi.
Sau khi dân Israel phạm tội, chối bỏ
Thiên Chúa để quay sang thờ con bê bằng vàng [X. Xh 32], Thiên Chúa đã nghe lời
chuyển cầu của ông Môisen và chấp nhận đồng
hành giữa đám dân bất trung, qua đó biểu lộ tình
yêu của Ngài [X. Xh 33,12-17]. Khi
ông Môisen xin được thấy vinh quang Thiên Chúa, Ngài trả lời:
“Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước
mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là Chúa [YHWH] trước mặt
ngươi" (Xh 33,18-l9). Và Chúa đi qua
trước mặt ông Môisen và hô to: “Chúa, Chúa, Thiên Chúa nhân hậu
và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,5-6). Lúc đó ông Môisen tuyên xưng Chúa
là Thiên Chúa hay tha thứ [X. Xh 34,9]. [Back]
0211
Thánh Danh “Ta Hiện Hữu” hoặc “Đấng Hiện Hữu” diễn tả sự
trung tín của Thiên Chúa, Đấng “giữ lòng nhân nghĩa
với muôn ngàn thế hệ” (Xh
34,7) cho dù con người có bất trung, tội lỗi,
đáng phải trừng phạt. Thiên Chúa mạc khải rằng
Ngài “giàu lòng thương xót” (Ep 2,4),
đến nỗi trao ban chính Con Một của Ngài. Chúa Giêsu,
khi hiến mạng sống mình để giải thoát
chúng ta khỏi tội lỗi, sẽ mạc khải rằng
chính Người mang danh thánh của Thiên Chúa: “Khi các ông giương cao
Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là ‘Tôi Hiện
Hữu’” (Ga 8,28). [Back]
0212
Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng hiện
hữu.
Trải qua các thế kỷ, đức tin của
Israel đã có thể khai triển và đào sâu hơn nữa các
ý nghĩa phong phú chứa đựng trong việc mạc
khải Danh thánh của Thiên Chúa.
Thiên Chúa là duy nhất, ngoài Ngài ra không có thần nào hết [X. Is 44,6]. Ngài siêu việt trên vũ trụ và lịch
sử. Chính Ngài tạo dựng trời đất. “Chúng tiêu
tan, Chúa còn hoài; chúng như áo cũ thảy rồi mòn
hao… Nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên; tháng năm Ngài vẫn
triền miên” (Tv
102,27-28). Nơi Ngài, “không hề có
sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần
khi tối khi sáng” (Gc
1,17). Ngài là “Đấng Hiện Hữu”
từ muôn thuở đến muôn đời và như vậy Ngài là Đấng
luôn trung tín với chính mình Ngài và với các lời hứa
của Ngài. [Back]
0213
Vì vậy việc mạc khải Danh
khôn tả “Ta là Đấng Ta là” chứa
đựng chân lý này: chỉ mình Thiên Chúa là ĐẤNG
HIỆN HỮU. Bản dịch Bảy Mươi và kế đó là
Truyền thống Hội Thánh đã hiểu Danh thánh của
Thiên Chúa theo nghĩa đó: Thiên Chúa là sự viên mãn của
sự Hiện Hữu và của mọi trọn hảo,
không có khởi đầu, và cũng chẳng có cùng tận.
Trong khi tất cả mọi thụ tạo đều
lãnh nhận từ Thiên Chúa tất cả những
gì chúng là và những gì chúng có, thì duy chỉ
mình Ngài là tự mình hiện hữu và Ngài là
gì đều do chính Ngài. [Back]
Thiên
Chúa, Đấng Hiện
Hữu, là Chân Lý và
là Tình Yêu.
Thiên
Chúa, “Đấng Hiện Hữu”, đã tự mạc khải
cho Israel như Đấng “giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Hai từ ngữ ấy diễn
tả một cách cô đọng những sự phong phú của
Danh Thiên Chúa. Trong mọi công trình của Ngài, Thiên Chúa
biểu lộ lòng quảng đại, sự tốt lành,
ân sủng và tình yêu của Ngài; Ngài cũng cho thấy
Ngài là Đấng đáng được tin tưởng, là Đấng bền vững,
trung tín, chân thật: “Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn
thành tín yêu thương” (Tv 138,2) [X. Tv 85,11].
Ngài là Chân Lý, vì “Thiên Chúa là
Ánh Sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5); Ngài là “Tình
Yêu” (1 Ga 4,8), như thánh Tông Đồ
Gioan dạy. [Back]
0215
Thiên Chúa là Chân Lý.
“Căn nguyên lời Ngài là chân lý, mọi quyết
định công minh của Ngài tồn tại muôn năm” (Tv 119,160). “Lạy Chúa là Chúa Thượng,
chính Ngài là Thiên Chúa, những lời Ngài phán là chân lý” (2 Sm 7,28); vì vậy những lời
Thiên Chúa hứa luôn luôn được thực hiện [X. Đnl 7,9]. Thiên Chúa là chính Chân
Lý, những lời của Ngài không thể là sai lầm.
Vì vậy người ta có thể, một cách hoàn toàn tin
tưởng, phó mình cho sự thật và sự trung tín của
lời Ngài trong mọi sự. Khởi đầu của tội
lỗi và của sự sa ngã của loài người là lời
dối trá của Tên Cám Dỗ, nó dẫn con người đến
chỗ nghi ngờ lời Thiên Chúa, nghi ngờ lòng nhân
hậu và sự trung tín của Ngài. [Back]
0216
Chân lý của Thiên Chúa là sự khôn ngoan của
Ngài, chỉ huy toàn bộ trật tự của việc tạo
dựng và việc điều hành trần gian [X. Kn 13,1-9]. Một mình Thiên
Chúa đã tạo dựng trời đất [X. Tv 115,15], nên duy một mình
Ngài có thể ban sự hiểu biết đích thực về mọi
thụ tạo trong tương quan của chúng với Ngài [X. Kn 7,17-21]. [Back]
0217
Thiên Chúa cũng là Đấng chân thật khi Ngài
tự mạc khải: giáo huấn đến từ Thiên Chúa là
“Luật của chân lý” (Ml 2,6).
Ngài sai Con của Ngài “đến thế gian,” chính là để “làm
chứng cho sự thật” (Ga 18,37).
“Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và ban cho
chúng ta trí khôn để biết Thiên Chúa thật” (l Ga 5,20) [X. Ga 17,3]. [Back]
0218
Thiên Chúa là Tình Yêu.
Theo dòng lịch sử của mình,
Israel đã có thể khám phá ra rằng Thiên Chúa chỉ có một
động lực duy nhất khiến Ngài tự mạc khải
cho họ và chọn họ giữa mọi dân để họ
là dân của Ngài: đó là tình yêu
nhưng không của Ngài [X. Đnl 4,37;
7,8; 10,15]. Nhờ các Tiên tri, Israel hiểu rằng, cũng
vì tình yêu mà Thiên Chúa đã không ngừng giải
cứu họ [X. Is 43,1-7] và tha
thứ cho sự bất trung và tội lỗi của họ
[X. Hs 2]. [Back]
0219
Tình yêu của Thiên Chúa đối với Israel được so sánh với tình yêu của
một người cha đối với con mình [X. Hs 11,1]. Tình yêu đó
còn mạnh hơn tình yêu của một người mẹ
dành cho con cái mình [X. Is 49,14-15]. Thiên Chúa yêu dân Ngài hơn người
chồng yêu người vợ yêu dấu của mình [X. Is
62,4-5]. Tình yêu đó cũng sẽ chiến thắng những
bất trung thậm chí tồi tệ nhất [X. Ed 16; Hs 11],
và sẽ đi đến chỗ ban tặng hồng ân quý giá
nhất: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban
Con Một Ngài” (Ga 3,16). [Back]
0220
Tình yêu của
Thiên Chúa “tồn tại muôn đời” (Is
54,8): “Núi có dời có đổi,
đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối
với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,l0). “Ta đã yêu ngươi bằng mối
tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót
thương” (Gr
31,3). [Back]
0221
Thánh Gioan còn đi xa hơn nữa khi làm chứng
rằng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8.16): Chính Hữu Thể của
Thiên Chúa là tình yêu. Khi sai Con Một của Ngài và Thánh Thần
Tình Yêu lúc thời gian đến hồi viên mãn, Thiên
Chúa mạc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của
Ngài [X. 1 Cr 2,7-16; Ep 3,9-12]: chính
Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu: Chúa Cha,
Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã tiền định cho
chúng ta được dự phần vào sự trao đổi tình
yêu đó. [Back]
Những hệ quả
của Đức
Tin vào Thiên Chúa duy nhất.
Tin vào Thiên Chúa, Đấng duy nhất, và yêu mến
Ngài hết mình, có những hệ quả rất quan trọng
cho toàn bộ cuộc sống của chúng ta. [Back]
0223
Đó là nhận biết sự vĩ đại và
quyền năng của Thiên Chúa: “Hãy xem, Thiên Chúa cao vời,
làm sao ta hiểu thấu” (G 36,26).
Vì vậy Thiên Chúa phải là Đấng “được phục
vụ trước hết” [Thánh Jeanne
d’Arc, Dictum: Procès de condamnation]. [Back]
0224
Đó là sống
trong tâm tình cảm tạ: nếu Thiên Chúa là Đấng
duy nhất, thì chúng ta là gì, và có gì, đều là
bởi Ngài: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận
lãnh?” (1 Cr 4,7). “Biết lấy
chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Ngài
đã ban cho?” (Tv 116,12). [Back]
0225
Đó là nhận biết sự hợp nhất và
phẩm giá đích thực của mọi người: Mọi người
đều được dựng nên “theo hình ảnh và giống
như” Thiên Chúa (St 1,26). [Back]
0226
Đó là sử dụng các thụ tạo cách đúng
đắn: đức tin vào Thiên Chúa Duy Nhất hướng dẫn
chúng ta sử dụng mọi vật không phải là Thiên Chúa
nếu chúng đưa chúng ta đến với Ngài, và xa tránh các thụ
tạo nếu chúng ngăn cách chúng ta khỏi Thiên Chúa [X. Mt 5,29-30; 16,24; 19,23-24]:
“Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin cất khỏi con những
gì làm con xa Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin ban
cho con những gì đưa con đến với Chúa. Lạy Chúa
là Thiên Chúa của con, xin giải thoát con khỏi chính
mình con và ban cho con được hoàn toàn thuộc về Chúa” [Thánh Nicôla Flue]. [Back]
0227
Đó là luôn tin tưởng vào Thiên Chúa, cả khi gặp nghịch cảnh. Một lời kinh của thánh Têrêsa Giêsu diễn tả ý đó một cách tuyệt vời:
“Đừng để điều gì làm cho bạn xao xuyến;/ Đừng để điều gì làm cho bạn lo sợ. / Mọi sự đều qua đi, Thiên Chúa không thay đổi! / Kiên nhẫn sẽ được tất cả. / Ai có Thiên Chúa, người ấy chẳng thiếu gì: / Chỉ có Thiên Chúa, là đã đủ” [Thánh Têrêsa Giêsu, Poesia, 9]. [Back]
Tóm lược
Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức
Chúa duy nhất” (Đnl 6,4; Mc 12,29) “Hữu Thể tối cao nhất
thiết phải là duy nhất, nghĩa là không ai sánh bằng…
Nếu Thiên Chúa không duy nhất, thì Ngài không phải là
Thiên Chúa” [Tertullianô, Adversus Marcionem 1, 3, 5]. [Back]
0229
Đức tin vào
Thiên Chúa quy hướng chúng ta về một mình Ngài, như về
nguồn gốc đầu tiên và về cùng đích tối hậu
của chúng ta, và không quý trọng sự gì hơn
Ngài, hoặc không để một sự gì thay chỗ
Ngài. [Back]
0230
Tuy đã tự
mạc khải, Thiên Chúa vẫn còn là mầu nhiệm
khôn tả: “Nếu bạn hiểu được, thì Ngài
không phải là Thiên Chúa” [Thánh
Augustinô, Sermo, 52, 6, 16]. [Back]
0231
Thiên Chúa của
đức tin chúng ta đã tự mạc khải là Đấng Hiện
Hữu; Ngài cho chúng ta biết Ngài là Đấng “giàu nhân nghĩa
và thành tín” (Xh
34,6). Bản thể của
Ngài là chân lý và tình yêu. [Back]
Chúa Cha
Nhân Danh Cha Và Con Và Thánh
Thần.
Các Kitô hữu được rửa tội “nhân danh
Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19).
Trước đó họ đã ba lần trả lời “Tôi tin” để
đáp lại ba câu hỏi yêu cầu họ tuyên xưng đức tin
vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. “Đức tin của mọi
Kitô hữu cốt tại Chúa Ba Ngôi” [Thánh
Cêsariô Arêlatensê, Expositio vel traditio Symboli (Sermo 9)]. [Back]
0233
Các Kitô hữu được rửa tội “nhân
danh” Cha và Con và Thánh Thần, chứ không “nhân các danh” của
các Ngài [X. Vigiliô, Professio fidei (552)],
bởi vì chỉ có một Thiên Chúa, Cha toàn năng, Con duy
nhất của Ngài và Thánh Thần: Đó là Thiên Chúa Ba Ngôi Chí
Thánh. [Back]
0234
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm
trung tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu. Đây
là mầu nhiệm của Thiên Chúa trong chính bản thể của
Ngài. Vì vậy đây là nguồn mạch của các mầu
nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu
nhiệm ấy. Đây là giáo lý căn bản nhất và chủ
yếu nhất trong “phẩm trật các chân lý” đức
tin [X. Vigiliô, Professio fidei (552); X. Thánh
bộ Giáo sĩ, Directorium catechisticum generale, 43]. “Lịch
sử cứu độ chính là lịch sử của đường
lối và phương thế, mà Thiên Chúa thật và duy nhất là
Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mạc
khải cho con người, và giao hoà và kết hợp với
Ngài những ai từ bỏ tội lỗi” [Thánh bộ Giáo sĩ, Directorium
catechisticum generale, 47]. [Back]
0235
Trong tiết này sẽ vắn tắt
trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc
khải thế nào, Hội Thánh đã trình bày giáo
lý đức tin về mầu nhiệm này thế nào, và
sau cùng, Chúa Cha, nhờ sứ vụ thần linh của Chúa
Con và Chúa Thánh Thần, thực hiện “kế hoạch nhân
hậu” của Ngài trong việc tạo dựng, cứu chuộc
và thánh hoá như thế nào. [Back]
0236
Các Giáo phụ phân biệt
Theologia với Oikonomia. Thuật ngữ thứ nhất chỉ
mầu nhiệm sự sống nội tại của Thiên
Chúa Ba Ngôi. Thuật ngữ thứ hai chỉ mọi công
trình của Thiên Chúa, qua đó Ngài tự mạc khải và
truyền thông sự sống của Ngài. Nhờ Oikonomia mà
Theologia được mạc khải cho chúng ta, nhưng ngược lại,
Theologia soi sáng toàn thể Oikonomia. Các công trình của
Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta biết Ngài trong bản thể
của Ngài, và ngược lại, mầu nhiệm bản thể
nội tại của Thiên Chúa soi sáng cho chúng ta hiểu tất
cả các công trình của Ngài. Trong các tương quan nhân loại,
sự việc cũng diễn ra tương tự như vậy. Con
người biểu lộ mình qua hành động và càng biết
rõ một người nào đó, chúng ta càng hiểu rõ hành
động của họ. [Back]
0237
Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm đức tin
theo nghĩa hẹp, là một trong những mầu nhiệm
được ẩn giấu nơi Thiên Chúa, “mà nếu Thiên Chúa không mạc
khải thì không ai có thể biết được” [CĐ Vaticanô I, Hiến chế tín lý Dei
Filius, c. 4]. Chắc chắn Thiên Chúa đã để lại
những dấu vết nào đó về thực thể Ba Ngôi của
Ngài trong công trình tạo dựng và trong việc Ngài mạc
khải suốt dòng Cựu Ước. Nhưng đời sống
nội tại của thực thể Ngài, là Ba Ngôi Chí Thánh,
vẫn là một mầu nhiệm mà lý trí thuần
tuý của con người không thể nào đạt đến được,
và ngay cả đức tin của Israel cũng không thể biết
mầu nhiệm đó, trước khi Con Thiên Chúa nhập thể
và Chúa Thánh Thần được sai đến. [Back]
Mạc Khải Về Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúa Cha được mạc khải nhờ Chúa
Con.
Việc khẩn cầu Thiên Chúa với tước
hiệu là “Cha” đã được biết đến trong nhiều
tôn giáo. Thượng Đế thường được coi như “cha của
các vị thần và của người phàm”. Trong dân Israel, Thiên
Chúa được gọi là Cha, với tư cách là Đấng tạo dựng
trần gian [X. Đnl 32,6; Ml 2,10].
Hơn nữa Thiên Chúa còn là Cha vì Ngài đã lập
Giao ước và ban Lề luật cho dân được gọi là
“Israel con đầu lòng của Ta” (Xh
4,22). Ngài cũng được gọi là Cha của vua Israel [X. 2 Sm 7,14]. Và đặc biệt hơn nữa,
Ngài là “Cha của người nghèo”, của cô nhi, quả phụ,
những kẻ được Ngài thương yêu che chở [X. Tv 68,6]. [Back]
0239
Khi gọi Thiên Chúa là “Cha”, ngôn ngữ đức
tin chủ yếu muốn nêu lên hai khía cạnh: Thiên Chúa là
nguồn gốc thứ nhất và là Đấng uy quyền siêu
việt trên hết mọi sự, đồng thời là Đấng
nhân hậu và yêu thương chăm sóc mọi con cái của Ngài.
Tình phụ tử này của Thiên Chúa cũng có thể
được diễn tả qua hình ảnh tình mẫu
tử [X. Is 66,13; Tv 131,2].
Hình ảnh tình mẫu tử nói lên rõ hơn sự
gần gũi của Thiên Chúa và sự thân mật giữa
Thiên Chúa với thụ tạo của Ngài. Như vậy, ngôn ngữ
đức tin múc nguồn nơi kinh nghiệm phàm nhân về cha mẹ,
các vị này một cách nào đó, là những đại diện đầu
tiên của Thiên Chúa đối với con người. Nhưng kinh nghiệm
đó cũng cho thấy rằng, cha mẹ phàm nhân có thể phạm
sai lầm và họ có thể làm méo mó dung mạo của
tình phụ tử và mẫu tử. Vì vậy phải
nhớ rằng, Thiên Chúa siêu việt hẳn trên sự phân
biệt phái tính của phàm nhân. Ngài không là nam mà cũng không
là nữ. Ngài là Thiên Chúa. Ngài cũng siêu việt hẳn trên
sự làm cha làm mẹ của người phàm [X. Tv 27,10], mặc dù Ngài là nguồn
gốc và là chuẩn mực [X. Ep
3,14-15; Is 49,15] của chức năng làm cha làm mẹ: không
ai là cha như Thiên Chúa là Cha. [Back]
0240
Chúa Giêsu đã mạc khải Thiên Chúa là
“Cha” theo một nghĩa chưa từng có: Ngài là Cha không những
vì Ngài là Đấng Tạo Hoá, nhưng từ đời đời
Ngài là Cha trong tương quan với Con duy nhất của Ngài, Đấng
từ đời đời là Con trong tương quan với Cha của
Người: “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa
Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người
Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho” (Mt 11,27). [Back]
0241
Vì vậy các Tông Đồ tuyên xưng Chúa Giêsu
là “Ngôi Lời”, “lúc khởi đầu… vẫn hướng về
Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga
1,1), là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), và là “phản ánh vẻ huy
hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể
Thiên Chúa” (Dt 1,3). [Back]
0242
Sau các ngài, Hội Thánh tiếp nối Truyền
thống Tông Đồ, trong Công đồng chung thứ nhất họp
tại Nicêa năm 325, đã tuyên xưng Chúa Con “đồng bản thể
với Chúa Cha” [Tín biểu Nicêa],
nghĩa là, Người là một Thiên Chúa duy nhất cùng với
Chúa Cha. Công đồng chung thứ hai họp tại
Constantinôpôli năm 381, vẫn duy trì cách diễn tả
trong công thức của tín biểu Nicêa và đã tuyên xưng:
“Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước
muôn đời, Người là Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật
bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được
tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha” [Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli]. [Back]
0243
Chúa Cha và Chúa Con được mạc khải nhờ
Chúa Thánh Thần.
Trước cuộc Vượt Qua của Người,
Chúa Giêsu báo tin sẽ sai đến một
“Đấng Bào Chữa (Đấng Bảo Vệ) khác”, là Chúa Thánh
Thần. Chúa Thánh Thần, Đấng đã hoạt động
trong công trình tạo dựng [X. St 1,2] và sau khi “đã dùng các Tiên tri mà phán dạy”
[Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli], nay Ngài sẽ đến với
và ở trong các môn đệ [X. Ga 14,17],
để dạy bảo họ [X. Ga 14,26], và dẫn họ
tới “sự thật toàn vẹn” (Ga
16,13). Như vậy Chúa Thánh Thần được mạc khải
như một Ngôi Vị thần linh khác, trong tương quan với
Chúa Giêsu và với Chúa Cha. [Back]
0244
Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa
Thánh Thần được mạc khải trong ‘sứ vụ trong
thời gian’ của Ngài. Chúa Thánh Thần được sai đến
với các Tông Đồ và với Hội Thánh, hoặc do Chúa
Cha nhân danh Chúa Con, hoặc do chính Chúa Con, sau khi Người trở
về với Chúa Cha [X. Ga 14,26; 15,26;
16,14]. Sứ vụ của Ngôi Vị Chúa Thánh Thần
sau khi Chúa Giêsu được tôn vinh [X. Ga
7,39] mạc khải một cách đầy đủ mầu
nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh. [Back]
0245
Đức tin tông truyền về Chúa Thánh Thần
đã được Công đồng chung thứ hai họp tại
Constantinôpôli năm 381 tuyên xưng: Chúng tôi tin kính “Chúa Thánh Thần,
là Chúa và là Đấng ban sự sống; Ngài bởi Chúa Cha mà
ra” [Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli].
Bằng lời tuyên xưng đó, Hội Thánh nhìn nhận Chúa
Cha như “nguồn mạch và cội nguồn của tất cả
thần tính” [CĐ Tôlêđô VI (năm 638), De
Trinitate et de Filio Dei Redemptore incarnato]. Nhưng cội nguồn
vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần không phải không có
liên hệ với cội nguồn của Chúa Con: “Chúng tôi
tin rằng Chúa Thánh Thần, Ngôi Thứ Ba trong Ba Ngôi, là Thiên
Chúa duy nhất và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con, cùng một
bản thể, cùng một bản tính;... Ngài được gọi
là Thần Khí không phải chỉ của Chúa Cha cũng không
phải chỉ của Chúa Con, nhưng một trật là của
Chúa Cha và của Chúa Con” [CĐ Tôlêđô XI
(năm 675), Tín biểu]. Tín biểu Constantinôpôli của Hội
Thánh tuyên xưng: “Ngài được phụng thờ và tôn vinh cùng với
Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con” [Tín
biểu Nicêa-Constantinôpôli]. [Back]
0246
Tín biểu theo truyền thống La tinh tuyên
xưng rằng Chúa Thánh Thần “bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (Filioque) mà ra”. Công
đồng Florentina, năm 1439, giải thích: “Chúa Thánh Thần… có bản
tính và hữu thể của Ngài bởi Chúa Cha và một trật
bởi Chúa Con, và từ đời đời Ngài xuất phát bởi
Hai Ngôi như bởi một nguyên lý duy nhất và bởi một
hơi thở duy nhất… Và bởi vì mọi sự, vốn
là của Chúa Cha, chính Chúa Cha đã ban cho Con Một khi sinh
ra Con Một, trừ cương vị làm Cha, nên việc Thần
Khí xuất phát bởi Chúa Con, thì từ đời đời
Chúa Con có việc xuất phát đó là bởi Chúa Cha, Đấng cũng
sinh ra Chúa Con từ đời đời” [CĐ Florentina, Decretum pro Graecis]. [Back]
0247
Lời khẳng định “và bởi Đức
Chúa Con” (Filioque) không có trong Tín
biểu công bố năm 381 tại Constantinôpôli. Nhưng thánh Giáo
Hoàng Lêô, dựa theo truyền thống cổ xưa của La
tinh và Alexandria, đã công bố điều này như một tín điều
vào năm 447 [X. Thánh Lêô Cả, Epistula
Quam laudabiliter], trước khi Rôma, tại Công đồng
Chalcêđônia năm 451, biết đến và tiếp nhận Tín biểu
của năm 381. Việc sử dụng công thức này trong Tín
biểu được dần dần đưa vào phụng vụ La tinh (từ thế kỷ VIII đến thế
kỷ XI). Tuy nhiên, việc phụng vụ La tinh đưa
công thức Filioque vào trong Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli,
đã tạo nên sự bất đồng, mãi cho đến
nay, với các Giáo Hội Chính Thống. [Back]
0248
Truyền thống Đông phương trước hết
diễn tả rằng Chúa Cha là cội nguồn thứ nhất
của Chúa Thánh Thần. Khi tuyên xưng Chúa Thánh Thần “xuất phát từ Chúa Cha” (Ga 15,26), truyền thống đó xác quyết
Chúa Thánh Thần xuất phát từ
Chúa Cha qua Chúa Con (a Patre per Filium
procedere) [X. CĐ Vat. II, Ad Gentes, 2]. Còn truyền thống
Tây phương trước hết xác quyết sự hiệp thông đồng
bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con, khi nói rằng Chúa
Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con (ex Patre Filioque procedere).
Truyền thống này nói như vậy là “hợp pháp và hợp
lý” [CĐ Florentina, Decretum pro Graecis,
(năm 1439)], bởi vì theo trật tự vĩnh cửu
giữa các Ngôi Vị Thiên Chúa trong sự hiệp thông đồng
bản thể, Chúa Cha, với tư cách là “nguyên lý không có
khởi đầu” [CĐ Florentina, Decretum
pro Iacobitis (năm 1442)], là cội nguồn thứ nhất
của Chúa Thánh Thần, nhưng còn với tư cách là Cha của
Con duy nhất, thì Chúa Cha là nguyên lý duy nhất cùng
với Con của Ngài, từ đó, Chúa Thánh Thần xuất
phát “như từ một nguyên lý duy nhất” [CĐ Lyon II, Constitutio de Summa Trinitate et fide
catholica (1274)]. Sự bổ túc hợp pháp này, nếu
không bị thổi phồng, thì không tác động
gì đến sự đồng nhất của đức tin vào
thực tại của cùng một mầu nhiệm được
tuyên xưng. [Back]
Ba Ngôi Chí Thánh Trong Giáo Lý Đức Tin.
Ngay từ buổi đầu, chân lý được
mạc khải về Ba Ngôi Chí Thánh đã có trong những
điều căn bản của đức tin sống động của
Hội Thánh, chủ yếu qua bí tích Rửa Tội. Chân
lý đó được diễn tả trong quy luật đức tin
về phép Rửa, được công thức hoá trong việc rao giảng,
trong việc dạy giáo lý và trong kinh nguyện của
Hội Thánh. Người ta đã gặp những công thức
như vậy trong các tác phẩm của các Tông Đồ, như lời
chào sau đây làm chứng, lời chào này đã được sử
dụng lại trong Thánh lễ: “Nguyện xin ân sủng Đức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp
của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị
em” (2 Cr 13,13) [X. 1 Cr 12,4-6; Ep 4,4-6]. [Back]
0250
Trong những thế kỷ đầu, Hội
Thánh đã cố gắng trình bày minh bạch hơn đức
tin của mình vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vừa để đào sâu sự
hiểu biết của chính mình về đức tin, vừa
để bảo vệ đức tin khỏi những sai lạc
muốn bóp méo đức tin. Đó là công trình của các Công đồng
đầu tiên, được trợ lực bởi hoạt động
thần học của các Giáo Phụ và được đón nhận
bởi cảm thức đức tin của dân Kitô giáo. [Back]
0251
Để công thức hoá
tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi, Hội Thánh phải triển khai
một thuật ngữ riêng, dựa vào những khái niệm
bắt nguồn từ triết học, như: “bản thể” (substantia), “ngôi” hoặc “ngôi vị” (persona hoặc hypostasis), “tương quan” (relatio) v.v… Làm như vậy,
Hội Thánh đã không giao phó đức tin cho sự khôn ngoan
phàm nhân, nhưng đã cho các từ ngữ này một ý
nghĩa mới, chưa từng biết đến, những từ
ngữ này từ nay sẽ được sử dụng để nói
lên mầu nhiệm khôn tả, vốn “vô cùng vượt trên mọi
điều chúng ta có thể hiểu được theo cách thức
phàm nhân” [ĐGH Phaolô
VI, Sollemnis Professio fidei, 9]. [Back]
0252
Hội Thánh sử dụng
từ “bản thể” (substantia) (hoặc
“yếu tính”, essentia hoặc “bản tính”, natura) để chỉ
Hữu Thể thần linh trong sự duy nhất của
Ngài, từ “ngôi” hoặc “ngôi vị” (persona hoặc hypostasis) để chỉ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh
Thần trong sự phân biệt thật sự với nhau giữa
các Ngài, còn từ “tương quan” (relatio)
để chỉ sự phân biệt của các Ngài trong vấn
đề các Ngài quy chiếu về nhau. [Back]
0253
Tín điều Ba Ngôi Chí Thánh
Tam Vị Nhất Thể. Chúng ta không
tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi:
“Ba Ngôi đồng bản thể” [CĐ
Constantinôpôli II (năm 553), Anathematismi de tribus Capitulis, 1]. Các
Ngôi Vị Thiên Chúa không chia nhau một thần tính duy nhất,
nhưng mỗi Ngôi Vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn:
“Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là
gì thì Chúa Cha là thế ấy, Chúa Cha và Chúa Con là
gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy, nghĩa là
một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính” [CĐ Tôlêđô XI (năm 675), Tín biểu]. “Ba
Ngôi Vị đều là thực thể đó, nghĩa là bản thể,
yếu tính hoặc bản tính thần linh” [CĐ Latêranô IV (năm 1215), Cap. 2, De errore
abbatí Ioachim]. [Back]
0254
Các Ngôi Vị
Thiên Chúa thật sự phân biệt với nhau. “Chúng tôi tôn
thờ và tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc”
[Fides
Damasi]. “Chúa Cha”, “Chúa
Con”, “Chúa Thánh Thần”, không phải đơn thuần là những
danh xưng chỉ các dạng thức của “Hữu Thể”
thần linh, bởi vì Ba Ngôi thật sự phân biệt
với nhau: “Chúa Con không phải là Chúa Cha, và Chúa Cha không phải
là Chúa Con, và Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha hoặc
Chúa Con” [CĐ
Tôlêđô XI (năm 675), Tín biểu].
Ba Ngôi phân biệt nhau qua các tương quan về nguồn gốc:
“Chúa Cha là Đấng sinh thành, Chúa Con là Đấng được sinh ra,
Chúa Thánh Thần là Đấng xuất phát” [CĐ Latêranô IV (năm 1215), Cap.
2, De errore abbati Ioachim].
Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị. [Back]
0255
Các Ngôi vị Thiên Chúa có tương quan với nhau. Bởi
vì sự phân biệt thật sự giữa các Ngôi Vị
với nhau không phân chia thần tính duy nhất, nên sự
phân biệt đó chỉ cốt tại các mối tương quan quy
chiếu các Ngôi Vị với nhau. “Trong các danh xưng nói lên mối
tương quan giữa các Ngôi vị, Chúa Cha có tương quan với Chúa
Con, Chúa Con có tương quan với Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần có
tương quan với Hai Ngôi kia. Khi xét về tương quan thì chúng
ta nói là Ba Ngôi, nhưng chúng ta tin vào một bản tính hay một
bản thể” [CĐ Tôlêđô XI (năm 675),
Tín biểu]. Thật vậy, giữa Ba Ngôi “mọi sự…
đều là một, khi không nói đến sự đối lập về
tương quan” [CĐ Florentina, Decretum pro
Iacobitis (năm 1442)]. “Vì sự duy nhất đó, Chúa Cha
hoàn toàn ở trong Chúa Con, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần;
Chúa Con hoàn toàn ở trong Chúa Cha, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh
Thần; Chúa Thánh Thần hoàn toàn ở trong Chúa Cha, hoàn toàn ở
trong Chúa Con” [CĐ Florentina, Decretum pro
Iacobitis (năm 1442)]. [Back]
0256
Thánh Grêgôriô Nazianzênô, có biệt danh là “Nhà thần
học”, cống hiến cho các dự tòng tại
Constantinôpôli bản toát yếu đức tin về Ba Ngôi như
sau: “Trên hết mọi sự, tôi yêu cầu, bạn
hãy gìn giữ kho tàng quý giá này, kho tàng đó là
lý do để tôi sống và chiến đấu, là điều
tôi muốn đem theo khi chết, là điều giúp tôi chấp nhận
tất cả mọi gian khổ và khinh chê mọi lạc
thú: tôi muốn nói đến đức tin, đến việc tuyên
xưng vào Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hôm nay tôi trao lời
tuyên xưng đó cho bạn. Với lời tuyên xưng đức tin đó,
tôi sắp dìm bạn xuống nước thanh tẩy, rồi
kéo bạn lên. Tôi trao cho bạn để làm người bạn đường,
người bảo trợ suốt đời, lời tuyên xưng vào
một Thần Tính và một Quyền Năng duy nhất, cùng gặp
được trong Ba Ngôi, và gồm Ba Ngôi một cách phân biệt,
không hơn kém về bản thể hoặc bản tính, không
tăng giảm về sự cao hơn hoặc thấp hơn… Ba Ngôi vô
cùng, kết hợp với nhau vô cùng. Nếu xét riêng, mỗi
Ngôi đều là Thiên Chúa. Nếu suy tưởng một trật,
Ba Ngôi vẫn là một Thiên Chúa. Tôi vừa suy tưởng đến
Thiên Chúa Duy Nhất, thì lập tức hào quang của
Ba Ngôi tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi vừa bắt đầu
phân biệt Ba Ngôi, thì bị kéo trở lại Thiên Chúa
Duy Nhất” [Thánh Grêgôriô Nazianzênô,
Oratio, 40, 41]. [Back]
Các Công Trình Thần Linh Và Các Sứ Vụ
Của Ba Ngôi.
“Ôi nguồn sáng, Ba Ngôi diễm phúc, là Căn Nguyên
Độc Nhất vũ hoàn!” [Thánh thi
Kinh Chiều II Chúa nhật, Tuần 2 và 4: Các Giờ Kinh Phụng
Vụ] Thiên Chúa là hạnh phúc vĩnh cửu, là sự
sống bất tử, là ánh sáng không tàn lụi. Thiên Chúa là
tình yêu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa tự
ý muốn truyền thông vinh quang của sự sống
hạnh phúc của Ngài. Đó là “kế hoạch yêu thương” (Ep 1,9) mà Ngài đã cưu mang từ
trước khi tạo dựng trần gian trong Con yêu dấu của
Ngài, và quả thật “Ngài đã tiền định cho ta làm
nghĩa tử nhờ Chúa Giêsu Kitô” (Ep
1,5), nghĩa là, Ngài đã tiền định cho chúng ta
“nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài”
(Rm 8,29) nhờ “Thần Khí làm
cho anh em nên nghĩa tử” (Rm 8,15).
Kế hoạch này là ân sủng “Ngài đã ban cho chúng ta từ
muôn thuở” (2 Tm 1,9), xuất
phát trực tiếp từ tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Kế
hoạch đó được thể hiện trong công trình tạo
dựng, và sau khi con người sa ngã, trong toàn bộ lịch
sử cứu độ, trong các sứ vụ của Chúa Con và
Chúa Thánh Thần, được tiếp nối trong sứ vụ
của Hội Thánh [X. CĐ Vaticanô II, Sắc
lệnh Ad Gentes, 2-9]. [Back]
0258
Toàn bộ Nhiệm cục thần linh là công
trình chung của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì cũng như Ba
Ngôi chỉ có một bản tính, Ba Ngôi cũng chỉ có cùng
một hoạt động [X. CĐ
Constantinôpôli II (năm 553) Anathematismi de tribus Capitulis, 1].
“Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không phải là ba nguyên
lý của thụ tạo nhưng là một nguyên lý duy
nhất” [CĐ Florentina, Decretum pro
Iacobitis (năm 1442)]. Tuy nhiên mỗi Ngôi Vị Thiên Chúa thực
hiện công trình chung theo cách đặc thù của
mình trong Ba Ngôi. Cho nên, theo sau Tân Ước [X. 1 Cr 8,6], Hội Thánh tuyên xưng: “Một
Thiên Chúa là Cha, mọi sự đều bởi Ngài; Một Chúa
Giêsu Kitô, mọi sự đều nhờ Người; và Một
Chúa Thánh Thần, mọi sự đều trong Ngài” [CĐ Constantinôpôli II (năm 553): Anathematismi de
tribus Capitulis, 1]. Các sứ vụ thần linh là việc
Nhập thể của Chúa Con và việc trao ban Chúa Thánh Thần
biểu lộ cách đặc biệt các đặc tính riêng của
các Ngôi Vị Thiên Chúa. [Back]
0259
Toàn bộ Nhiệm cục thần linh là công
trình vừa có tính chung, vừa có tính riêng, nên vừa
cho thấy đặc tính của từng Ngôi Vị Thiên Chúa vừa
cho thấy bản tính duy nhất của Ba Ngôi. Toàn bộ đời
sống Kitô hữu cũng là sự hiệp thông với mỗi
Ngôi Vị Thiên Chúa mà không hề phân biệt Ba Ngôi. Ai tôn vinh
Chúa Cha, là làm điều đó nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần;
ai bước theo Chúa Kitô, là làm điều đó bởi vì Chúa Cha
lôi kéo người ấy [X. Ga 6,44]
và Chúa Thánh Thần thúc đẩy người ấy [X. Rm 8,14]. [Back]
0260
Cùng đích của toàn bộ Nhiệm cục thần
linh là đưa các thụ tạo đến hợp nhất trọn vẹn
với Ba Ngôi Diễm Phúc [X. Ga
17,21-23]. Nhưng ngay từ bây giờ, chúng ta được kêu gọi
trở nên nơi cư ngụ của Ba Ngôi Chí Thánh. Chúa nói: “Ai yêu mến
Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy
sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ
đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23):
“Lạy Thiên Chúa của con, lạy Ba Ngôi con tôn thờ,
xin giúp con quên hẳn mình để an trú trong Chúa, bất động
và thanh thản như thể linh hồn con đã ở trong
cõi vĩnh hằng; xin đừng để điều gì
có thể quấy phá sự bình an của con, và làm con
phải ra khỏi Chúa, ôi Đấng Bất Biến của
con, nhưng mỗi giây phút xin đem con vào sâu hơn nữa trong mầu
nhiệm thẳm sâu của Chúa! Xin ban bình an cho linh hồn
con; xin biến linh hồn con thành thiên đàng của Chúa, thành
nơi cư ngụ mà Chúa ưa thích, và nơi nghỉ ngơi của Chúa. Ước
gì con không bao giờ bỏ mặc Chúa một
mình, nhưng ước gì con ở đó với trọn vẹn
bản thân, hoàn toàn tỉnh thức trong đức tin, hoàn toàn
thờ lạy, và hoàn toàn phó thác cho hoạt động sáng tạo
của Chúa” [Chân phước Êlisabet Chúa
Ba Ngôi, Lời nguyện dâng Chúa Ba Ngôi: Ecrits spirituels, 50]. [Back]
Tóm
lược
Mầu nhiệm
Ba Ngôi Chí Thánh là mầu nhiệm trung tâm của đức tin và
đời sống Kitô hữu. Chỉ một mình Thiên Chúa
mới có thể cho ta biết được mầu nhiệm ấy
khi Ngài tự mạc khải là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. [Back]
0262
Việc Nhập
Thể của Con Thiên Chúa mạc khải rằng Thiên Chúa
là Cha từ muôn thuở, và Chúa Con là Đấng đồng bản
thể với Chúa Cha, nghĩa là, Chúa Con là Thiên Chúa duy nhất
trong Chúa Cha và cùng với Chúa Cha. [Back]
0263
Sứ vụ của
Chúa Thánh Thần, Đấng Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Con [X. Ga 14,26], và Chúa Con sai đến “từ nơi Chúa Cha” (Ga 15,26), mạc khải rằng Chúa Thánh Thần cùng với
Chúa Cha và Chúa Con là một Thiên Chúa duy nhất. “Ngài được
phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức
Chúa Con” [Tín biểu
Nicêa-Constantinôpôli]. [Back]
0264
“Chúa
Thánh Thần chủ yếu xuất phát từ Chúa Cha, mà từ
đời đời Chúa Cha ban tặng cho Chúa Con, nên Chúa Thánh Thần
xuất phát chung từ Hai Ngôi”
[Thánh Augustinô, De Trinitate, 15, 26, 47]. [Back]
0265
Nhờ ân sủng
của bí tích Rửa Tội “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”
(Mt 28,19), chúng ta được kêu gọi để
tham dự vào sự sống của Ba Ngôi Diễm Phúc, “ở
trần thế này trong bóng tối của đức tin và sau
khi chết trong ánh sáng vĩnh cửu” [ĐGH Phaolô VI, Sollemnis Professio fidei, 9]. [Back]
0266
Đức tin công
giáo là thế này, chúng ta thờ kính Một Thiên Chúa trong Ba
Ngôi, và Ba Ngôi trong Một Thiên Chúa, mà không lẫn lộn các
Ngôi Vị, không phân chia bản thể: thật vậy, Ngôi
Cha là khác, Ngôi Con là khác và Ngôi Thánh Thần là khác; nhưng thần
tính, sự vinh quang ngang nhau và uy quyền vĩnh cửu của
Chúa Cha, của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần là một”
[Tín biểu “Quicumque”]. [Back]
0267
Các Ngôi vị
thần linh không thể tách rời nhau trong cùng một bản
thể duy nhất, thì cũng không thể tách rời
nhau trong các hoạt động của mình. Nhưng trong hoạt
động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị hiện
diện theo cách đặc thù của mình trong Ba Ngôi, nhất
là trong các sứ vụ thần linh là việc Nhập Thể
của Chúa Con và việc trao ban Chúa Thánh Thần. [Back]
Đấng Toàn Năng
Trong tất cả các phẩm tính thần
linh, Tín biểu chỉ nhắc đến sự toàn năng của
Thiên Chúa: việc tuyên xưng Thiên Chúa Toàn Năng là rất quan trọng
đối với đời sống chúng ta. Chúng ta tin rằng sự
toàn năng của Ngài là phổ quát, bởi vì Thiên Chúa, Đấng
đã tạo dựng mọi sự [X.
St 1,1; Ga 1,3], điều khiển và làm được mọi sự;
sự toàn năng của Thiên Chúa tràn đầy tình yêu, bởi
vì Ngài là Cha chúng ta [X. Mt 6,9];
sự toàn năng của Thiên Chúa là mầu nhiệm, bởi
vì chỉ có đức tin có thể nhận ra sự toàn
năng đó, khi nó được “biểu lộ trọn vẹn trong sự
yếu đuối” (2 Cr 12,9) [X. 1 Cr
1,18]. [Back]
0269
Muốn làm
gì là Chúa làm nên.
Thánh Kinh thường tuyên xưng quyền năng phổ quát của
Thiên Chúa. Ngài được gọi là “Đấng Quyền Năng của
Giacob” (St 49,24; Is 1,24…), “Chúa các đạo binh”, “Đấng
Mạnh Mẽ, Đấng Oai Hùng” (Tv 24,8-10). Vì vậy,
Thiên Chúa là Đấng toàn năng “chốn trời cao cùng nơi đất
thấp” (Tv 135,6), bởi vì chính Ngài đã tạo dựng
nên chúng. Không có gì mà Ngài không làm được [X. Gr
32,17; Lc 1,37], và Ngài sắp đặt công trình của Ngài theo ý
Ngài [X. Gr 27,5]; Ngài là Chúa cả trần gian, Ngài đã thiết lập
trật tự cho nó, và trật tự đó hoàn toàn quy phục
Ngài và phục vụ Ngài. Ngài là Chúa của lịch sử:
Ngài điều khiển các tâm hồn và các biến cố theo
ý Ngài [X. Et 4,17c; Cn 21,1; Tb 13,2]: “Quyền năng Chúa luôn luôn
vĩ đại, ai chống nổi cánh tay dũng mãnh của
Ngài?” (Kn 11,21). [Back]
0270
Chúa xót thương
hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi
sự.
Thiên Chúa là Cha toàn năng.
Tình phụ tử và quyền năng của Ngài soi sáng lẫn
nhau. Quả thế, Ngài cho thấy sự toàn năng đầy
tình Cha của Ngài qua cách Ngài chăm lo cho những nhu cầu
của chúng ta [X. Mt 6,32]; qua việc Ngài nhận chúng ta làm
nghĩa tử [(“Ta sẽ là Cha
các ngươi, và các ngươi sẽ là con trai, con gái của Ta, Chúa toàn
năng phán như vậy” (2 Cr 6,18)]; sau hết, Ngài bày tỏ
rõ ràng quyền năng của Ngài qua lòng khoan dung vô tận,
khi Ngài tự ý tha thứ các tội lỗi. [Back]
0271
Sự toàn năng của Thiên Chúa không hề có
tính chất độc đoán: “Nơi Thiên Chúa, quyền năng và yếu
tính, ý muốn và trí tuệ, sự khôn ngoan và sự
công chính là một. Do đó, không có gì trong quyền năng của
Thiên Chúa mà không ở trong ý muốn công chính của
Ngài, và trong trí tuệ khôn ngoan của Ngài” [Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae, I, q. 25, a. 5, ad 1]. [Back]
0272
Mầu nhiệm về sự bề ngoài có
vẻ bất lực của Thiên Chúa.
Đức tin vào Thiên Chúa là Cha toàn năng có thể bị
thử thách do kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ.
Đôi khi Thiên Chúa có thể bị coi như vắng mặt và bất
lực không ngăn chặn được sự dữ. Thật ra,
Thiên Chúa là Cha đã mạc khải sự toàn năng của
Ngài một cách hết sức huyền
nhiệm trong việc Con của Ngài tự nguyện hạ
mình và sống lại, nhờ đó Ngài đã chiến thắng
sự dữ. Như vậy, Đức Kitô bị đóng đinh là sức
mạnh của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Thiên Chúa
“vì sự điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn
ngoan của loài người, và sự yếu đuối của
Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1,25). Trong việc Đức Kitô sống
lại và được tôn vinh, Chúa Cha biểu dương “sức mạnh
toàn năng đầy hiệu lực” của Ngài và cho thấy “quyền
lực vô cùng lớn lao” của Ngài mà “Ngài đã thi thố
cho chúng ta là những tín hữu” (Ep
1,19-22). [Back]
0273
Chỉ đức tin mới có thể gắn bó
với những đường lối mầu nhiệm của sự
toàn năng của Thiên Chúa. Đức tin này tự hào về những
yếu kém của mình, để lôi kéo quyền năng của
Đức Kitô xuống trên mình [X.
2 Cr 12,9; Phil 4:13]. Gương mẫu cao cả nhất của
một đức tin như thế là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ
là người đã tin rằng “đối với Thiên Chúa, không
có gì là không thể làm được” (Lc
1,37) và đã ngợi khen Chúa: “Đấng Toàn Năng đã
làm cho tôi biết bao điều cao cả, Danh Ngài thật chí
thánh chí tôn” (Lc 1,49). [Back]
0274
“Không gì có thể củng cố đức
tin và đức cậy của chúng ta bằng việc chúng ta
xác tín trong tâm hồn rằng: không có gì mà Thiên Chúa không
làm được. Từ chỗ đó, sau khi lý trí đã có
ý niệm về Thiên Chúa toàn năng, thì những điều
phải tin, dù là cao cả và kỳ diệu, và vượt quá trật
tự và cách thức của các sự việc, lý trí
con người vẫn chấp nhận một cách dễ dàng,
không chút do dự” [Catechismus Romanus, 1,
2, 13]. [Back]
Tọm lược
Cùng với ông
Job, người công chính, chúng ta tuyên xưng: “Con biết rằng việc
gì Chúa cũng làm được, không có gì Chúa đã định
trước mà lại không thành tựu” (G 42,2). [Back]
0276
Hội Thánh,
trung thành với chứng từ của Thánh Kinh, thường
dâng lời cầu nguyện lên “Thiên Chúa toàn năng hằng hữu”
(“Omnipotens
sempiterne Deus…”), trong khi vững
tin rằng: “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể
làm được” (Lc 1,37) [X. St 18,14;
Mt 19,26]. [Back]
0277
Thiên Chúa cho thấy
sự toàn năng của Ngài, khi Ngài làm cho chúng ta hối cải
bỏ đàng tội lỗi và Ngài lấy ân sủng mà đưa chúng
ta trở lại trong tình bằng hữu với Ngài (“Lạy Chúa, khi Chúa
thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền
năng cách tỏ tường hơn cả”) [Chúa nhật XXVI Thường Niên, Lời nguyện nhập
lễ: Sách Lễ Rôma, editio typica]. [Back]
0278
Nếu ai không
tin rằng tình yêu của Thiên Chúa là toàn năng, thì
làm thế nào người đó tin được rằng Thiên Chúa đã
có thể tạo dựng chúng ta, Chúa Con đã có thể cứu
chuộc chúng ta, Chúa Thánh Thần đã có thể thánh hoá
chúng ta? [Back]
Đấng Tạo Hoá
“Lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã tạo
thành trời đất” (St 1,1). Những
lời long trọng này đã mở đầu bộ Thánh
Kinh. Tín biểu lấy lại những lời đó khi tuyên
xưng Thiên Chúa là Cha toàn năng, “Đấng tạo thành trời đất”
[Tín biểu của các Tông Đồ],
“muôn vật hữu hình và vô hình” [Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli].
Vì vậy trước hết, chúng ta nói về Đấng Tạo
Hoá, kế đến về công trình tạo dựng của
Ngài, sau hết về việc con người sa ngã phạm
tội, rồi được Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đến giải
thoát chúng ta khỏi tội lỗi. [Back]
0280
Công trình tạo dựng là nền tảng
liên quan đến “mọi sáng kiến cứu độ của
Thiên Chúa”, “khởi đầu của lịch sử cứu độ”
[Thánh bộ Giáo sĩ, Directorium
catechisticum generale, 51] mà Đức Kitô là tột đỉnh.
Ngược lại, mầu nhiệm Đức Kitô là ánh sáng quyết
định soi tỏ mầu nhiệm tạo dựng; mầu
nhiệm Đức Kitô mạc khải cùng đích của việc
“lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã sáng tạo trời đất”
(St 1,1): ngay từ đầu, Thiên
Chúa đã nhắm tới vinh quang của công trình tạo
dựng mới trong Đức Kitô [X. Rm
8,18-23]. [Back]
0281
Vì vậy, các bài Sách Thánh trong đêm Canh thức
Vượt Qua, đêm mừng công trình tạo dựng mới
trong Đức Kitô, bắt đầu bằng bài tường thuật
công trình tạo dựng. Trong phụng vụ Byzantin,
bài tường thuật này luôn là bài đọc thứ nhất
trong lễ vọng các đại lễ kính Chúa. Theo một chứng
từ cổ xưa, việc dạy các dự tòng để
chịu phép Rửa Tội cũng theo cùng một đường lối
đó [X. Êgiêria, Itinerarium seu Peregrinatio ad
loca sancta 46, 2; Th. Augustinô, De catechizandis rudibus 3,5]. [Back]
Dạy giáo lý
về công trình tạo dựng.
Việc dạy giáo lý về công
trình tạo dựng là hết sức quan trọng. Nó
liên quan đến chính nền tảng của cuộc sống
làm người và làm Kitô hữu: vì nó đem lại câu trả
lời của đức tin Kitô giáo cho câu hỏi căn bản mà
con người của mọi thời đại thường đặt
ra cho mình: “Chúng ta từ đâu tới?” “Chúng ta đi về
đâu?” “Nguồn gốc của chúng ta là gì?” “Cùng đích của
chúng ta là gì?” “Mọi vật hiện hữu từ đâu
tới và đi về đâu?” Hai câu hỏi này, về nguồn gốc
và cùng đích, không thể tách rời nhau. Chúng có tính cách quyết
định đối với ý nghĩa và định hướng cho
cuộc đời chúng ta và cho cách thức hành động của
chúng ta. [Back]
0283
Câu hỏi về nguồn gốc trần gian
và con người là đối tượng của nhiều công
trình nghiên cứu khoa học, giúp mở rộng tầm
hiểu biết của chúng ta về độ tuổi và các
chiều kích của trần gian, về sự hình thành
các dạng sinh vật, về sự xuất hiện đầu
tiên của loài người. Những khám phá này mời gọi
chúng ta thêm lòng cảm phục sự cao cả của
Đấng Tạo Hóa, tạ ơn Ngài vì các công trình của
Ngài, vì sự thông minh và tài năng Ngài đã ban cho các nhà
bác học và các nhà nghiên cứu. Cùng với vua Salômôn, những
vị này có thể nói: “Chính Ngài đã khấng ban cho tôi
tri thức xác thực về những gì đang hiện hữu,
để tôi thấu hiểu cơ cấu của vũ trụ và
năng lực của các nguyên tố tạo thành…. Vì chính
người thợ làm ra muôn vật muôn loài đã chỉ dạy
cho tôi. Người thợ ấy chính là Đức Khôn Ngoan” (Kn 7,17-21). [Back]
0284
Sự quan tâm lớn lao dành cho các công cuộc
nghiên cứu này còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi
một câu hỏi thuộc một lãnh vực khác, vượt
quá phạm vi của các khoa học tự nhiên. Vấn đề
không phải chỉ là tìm hiểu trần gian vật
chất phát sinh khi nào và cách nào, và con người đã xuất
hiện lúc nào, nhưng quan trọng hơn, chính là khám phá ra ý
nghĩa của nguồn gốc đó: Phải chăng trần gian
bị điều khiển bởi một sự ngẫu nhiên,
một định mệnh mù quáng, một tất yếu vô
danh, hay được điều khiển bởi một Hữu Thể
siêu việt, thông minh và tốt lành, được gọi là Thiên
Chúa? Và nếu trần gian xuất phát từ sự khôn ngoan
và tốt lành của Thiên Chúa, thì tại sao lại có sự
dữ? Nó từ đâu ra? Ai chịu trách nhiệm về nó? Có
cách nào thoát khỏi sự dữ không? [Back]
0285
Từ buổi đầu, đức tin Kitô giáo
đã đối mặt với những giải đáp khác với
giải đáp của mình về vấn đề nguồn gốc.
Người ta gặp trong các tôn giáo và các văn hóa cổ xưa nhiều
huyền thoại về vấn đề nguồn gốc. Một
số triết gia đã cho rằng mọi sự đều
là Thần Linh, trần gian là Thần Linh, hoặc quá
trình tiến hoá của trần gian là quá trình tiến
hoá của Thần Linh (thuyết phiếm thần); một
số khác cho rằng trần gian là một xuất phát tất
yếu của Thần Linh, từ Thần Linh phát ra và trở
về với Ngài; một số khác nữa khẳng định
sự hiện hữu của hai nguyên lý vĩnh cửu,
Thiện và Ác, Ánh Sáng và Bóng Tối, luôn giao tranh với nhau (thuyết nhị nguyên, thuyết
của Manikê); một số người
theo các thuyết ấy cho rằng thế giới (ít nhất là thế giới
vật chất) là xấu, là sản
phẩm của một sự sa ngã, vì vậy cần
phải loại bỏ đi hoặc phải vượt khỏi
(thuyết ngộ đạo); những người khác lại cho rằng
trần gian do Thiên Chúa tạo nên, theo kiểu một người
thợ làm ra cái đồng hồ, làm ra rồi để nó tự
vận hành (tự
nhiên thần giáo); cuối cùng,
có những người không chấp nhận một nguồn gốc
siêu việt nào của trần gian, chỉ coi trần gian
thuần tuý là sự tương tác của vật chất vẫn
luôn hiện hữu (thuyết
duy vật). Tất cả những
cố gắng đó cho thấy rằng câu hỏi về vấn
đề nguồn gốc là một thắc mắc muôn thuở
và phổ quát. Việc tìm kiếm này là một nét đặc
trưng của con người. [Back]
0286
Chính trí thông minh của loài người có khả
năng tìm ra câu trả lời cho câu hỏi về nguồn
gốc. Thật vậy, sự hiện hữu của Thiên
Chúa, Đấng Tạo Hoá, có thể được nhận biết một
cách chắc chắn bằng ánh sáng của lý trí con người,
nhờ các công trình của Ngài [X.
CĐ Vat. I, Dei Filius, De Revelatione, canon 1], mặc dù sự
nhận biết đó thường bị mờ tối và lệch
lạc vì sai lầm. Chính vì vậy cần có đức
tin củng cố và soi sáng lý trí để hiểu biết
chân lý này cách chính xác. “Nhờ đức tin, chúng ta hiểu
rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời
của Thiên Chúa; vì thế những cái hữu hình
là do những cái vô hình mà có” (Dt
11,3). [Back]
0287
Chân lý về công trình tạo dựng
rất quan trọng đối với toàn bộ cuộc sống
con người, nên Thiên Chúa, do lòng nhân hậu của Ngài,
đã muốn mạc khải cho Dân Ngài nhận biết những
điều hữu ích về vấn đề này. Vượt trên sự
hiểu biết tự nhiên mà bất cứ người nào cũng
có thể có được về Đấng Tạo Hóa [X. Cv 17,24-29; Rm 1,19-20], Thiên Chúa
đã dần dần mạc khải cho Israel mầu nhiệm
tạo dựng. Thiên Chúa, Đấng đã chọn các tổ
phụ, Đấng đã đưa Israel ra khỏi Ai cập, Đấng
đã tạo dựng và huấn luyện Israel khi tuyển
chọn dân này làm dân riêng của Ngài [X.
Is 43,1], chính Ngài đã tự mạc khải mình
là Đấng làm chủ mọi dân tộc trên mặt đất,
và cả toàn cõi đất, mình là Đấng duy nhất
“đã dựng nên trời đất” (Tv
115,15; 124,8; 134,3). [Back]
0288
Việc mạc khải về công trình tạo
dựng như vậy không thể tách rời khỏi việc mạc
khải và thực hiện Giao Ước của Thiên Chúa duy nhất
với dân Ngài. Công trình tạo dựng được mạc
khải như bước đầu hướng tới Giao Ước này,
như chứng từ đầu tiên và phổ quát của tình
yêu toàn năng của Thiên Chúa [X. St 15,5;
Gr 33,19-26]. Vì thế, chân lý về công
trình tạo dựng cũng được diễn tả ngày
càng mạnh mẽ trong sứ điệp của các Tiên tri [X. Is 44,24], trong lời cầu nguyện
của các Thánh vịnh [X. Tv 104]
và của phụng vụ, trong suy tư về sự khôn ngoan [X. Cn 8,22-31] của dân Chúa chọn. [Back]
0289
Trong tất cả những lời Thánh Kinh
nói về công trình tạo dựng, ba chương đầu của
sách Sáng Thế có một chỗ đứng độc đáo. Về
phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều
nguồn khác nhau. Các tác giả được linh hứng đã đặt
các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn
tả những chân lý về công trình tạo dựng,
về nguồn gốc và cùng đích của công trình đó
trong Thiên Chúa, về trật tự và sự tốt lành của
nó, về ơn gọi của con người, và cuối cùng về
thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu
độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của
Chúa Kitô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong
Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn
là nguồn chính yếu cho việc dạy giáo lý về
những mầu nhiệm của “lúc khởi đầu”: việc
tạo dựng, sự sa ngã, lời hứa ban ơn cứu
độ. [Back]
Tạo Dựng - Công trình của Ba Ngôi Chí Thánh
“Lúc khởi đầu Thiên Chúa đã tạo dựng
trời đất” (St 1,1): những
lời đầu tiên này của Thánh Kinh xác quyết ba điều:
Thiên Chúa vĩnh cửu đã ban một khởi điểm
cho tất cả những gì hiện hữu bên ngoài Ngài.
Duy chỉ mình Ngài là Đấng Tạo Hoá (động từ “tạo
dựng”- tiếng hipri là bara - luôn có chủ từ là Thiên
Chúa). Tất cả những gì hiện hữu (được diễn tả bằng thuật
ngữ “trời đất”) đều tùy thuộc vào Đấng
đã cho chúng hiện hữu. [Back]
0291
“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… và
Ngôi Lời là Thiên Chúa… Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được
tạo thành và không có Người, thì chẳng có gì được
tạo thành” (Ga 1,1-3). Tân Ước
mạc khải rằng: Thiên Chúa đã tạo dựng tất
cả nhờ Ngôi Lời vĩnh cửu là Con yêu dấu của
Ngài. “Trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời
cùng dưới đất… Tất cả đều do Thiên Chúa tạo
dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước
muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại
trong Người” (Cl 1,16-17). Đức
tin của Hội Thánh cũng xác quyết một cách tương tự
về hoạt động tạo dựng của Chúa Thánh Thần:
Ngài, Đấng chúng ta tuyên xưng là “Đấng ban sự sống” [Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli], là “Thần
Khí Sáng Tạo” (“Veni, Creator Spiritus”:
“Lạy Thần Khí Sáng Tạo, xin ngự đến”), là
“Nguồn mạch của sự thiện hảo” [Phụng vụ Byzantin, 2um Sticherum
Vesperarum Dominicae Pentecostes]. [Back]
0292
Hành động tạo dựng của Chúa Con và
Chúa Thánh Thần, là một, một cách không thể tách biệt,
với hành động tạo dựng của Chúa Cha, là điều
đã được thoáng thấy trong Cựu Ước [X. Tv 33,6; 104,30; St 1,2-3], đã được
mạc khải trong Tân Ước, nay được quy luật đức
tin của Hội Thánh xác định rõ ràng: “Chỉ có một
Thiên Chúa duy nhất: Ngài là Cha, là Thiên Chúa, là Đấng Tạo
Hoá, là Tác Giả, là Đấng làm nên mọi sự, Đấng tự
mình tác tạo mọi sự, nghĩa là nhờ Lời
và đức Khôn Ngoan của Ngài” [Thánh
Irênê, Adversus haereses, 2, 30, 9]; “Chúa Con và Chúa Thánh Thần”
là như “những bàn tay” của Ngài [Thánh
Irênê, Adversus haereses, 4, 20, 1]. Tạo dựng là công
trình chung của Ba Ngôi Chí Thánh. [Back]
Trần gian được
tạo dựng để làm vinh danh
Thiên Chúa.
Chân lý
căn bản, mà Thánh Kinh và Truyền Thống không ngừng giảng
dạy và cử hành, là: “Trần gian được tạo dựng
để làm vinh danh Thiên Chúa” [CĐ Vat. I, Dei Filius, De Deo rerum omnium Creatore,
canon 5]. Thánh Bonaventura
giải thích: Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự
“không phải để gia tăng vinh quang, nhưng để biểu lộ
và truyền thông vinh quang của Ngài” [Thánh Bônaventura, In secundum
librum Sententiarum]. Quả
thật, Thiên Chúa không thể có lý do nào khác để tạo
dựng, ngoài tình yêu và sự tốt lành của Ngài:
“Khi tay Ngài được mở ra bằng chìa khoá của
tình yêu, thì các thụ tạo xuất hiện” [Thánh Tôma Aquinô,
Commentum in secundum librum Sententiarum, Prologus]. Công đồng Vaticanô I giải thích:
“Thiên Chúa, do sự tốt lành và uy quyền toàn năng của
Ngài, không phải để gia tăng hoặc đạt được vinh
phúc của Ngài, nhưng để biểu lộ sự trọn hảo
của Ngài qua những điều thiện hảo Ngài ban cho
các thụ tạo, do ý định hoàn toàn tự do của
Ngài, lúc khởi đầu thời gian, đã tạo dựng
mọi loài từ hư vô, cả loài thiêng liêng lẫn loài có thể
xác” [CĐ
Vat. I, Dei Filius, c. 1]. [Back]
0294
Vinh quang của Thiên Chúa cốt tại việc biểu lộ
và truyền thông sự tốt lành của Ngài, vì đó mà
trần gian đã được tạo dựng. “Theo ý muốn
nhân hậu của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm
nghĩa tử nhờ Chúa Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi
khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng
cho ta” (Ep 1,5-6). “Thật vậy, vinh quang của Thiên Chúa
là con người sống, và sự sống của con người
là được nhìn thấy Thiên Chúa. Nếu sự mạc
khải của Thiên Chúa qua công trình tạo dựng
đã đem đến sự sống cho mọi loài trên trái đất,
thì việc Ngôi Lời biểu lộ Chúa Cha lại
càng đem lại sự sống gấp bội cho những ai
thấy Thiên Chúa” [Thánh Irênê, Adversus haereses, 4,20,7]. Mục đích tối
hậu của công trình tạo dựng là Thiên Chúa, “Đấng
dựng nên mọi loài, cuối cùng sẽ ‘có toàn quyền
trên muôn loài’ (1 Cr 15,28), đem lại vinh quang cho Ngài và đồng thời
đem lại vinh phúc cho chúng ta” [CĐ Vat. II, Ad Gentes, 2]. [Back]
Mầu nhiệm tạo
dựng
Thiên Chúa tạo dựng bằng sự khôn
ngoan và tình yêu.
Chúng ta tin Thiên Chúa đã tạo dựng trần
gian theo sự khôn ngoan của Ngài [X.
Kn 9,9]. Trần gian không phải là sản phẩm của
bất cứ một luật tất yếu, một định
mệnh mù quáng hoặc một sự ngẫu nhiên nào. Chúng
ta tin trần gian xuất phát từ ý muốn tự do
của Thiên Chúa, Đấng đã muốn cho các thụ tạo
được tham dự vào hữu thể, sự khôn ngoan và sự
tốt lành của Ngài. “Ngài đã dựng nên muôn vật,
và do ý Ngài muốn, mọi loài liền có và được dựng
nên” (Kh 4,11). “Công trình Ngài,
lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn
thành tất cả thật khôn ngoan” (Tv
104,24). “Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ
lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145,9). [Back]
0296
Thiên Chúa tạo dựng từ hư vô.
Chúng ta tin Thiên Chúa tạo dựng mà không cần
một thứ gì đã hiện hữu trước, cũng
không cần một sự trợ giúp nào [X. CĐ Vat. I, Dei Filius, c.1]. Công trình tạo dựng
cũng không phải là một sự xuất phát tất yếu
từ bản thể Thiên Chúa [X. CĐ
Vat. I, Dei Filius, De Deo rerum omnium Creatore, canones 1-4]. Thiên
Chúa tạo dựng một cách tự do “từ hư vô” (“ex nihilo”) [CĐ Latêranô IV, Cap. 2, De fide
catholica; CĐ Vat. I, Dei Filius, De Deo rerum omnium Creatore, canon 5]:
“Nếu Thiên Chúa làm nên trần gian từ một chất
liệu có trước, thì có gì là cao cả? Một
người thợ giữa chúng ta, khi nhận được vật
liệu từ ai đó, cũng làm ra được những gì
anh ta muốn. Nhưng quyền năng của Thiên Chúa được chứng
tỏ trong điều này, là từ hư vô, Ngài làm nên bất cứ
những gì Ngài muốn” [Thánh
Thêôphilô Antiôchia, Ad Autolycum, 2, 4]. [Back]
0297
Thánh Kinh làm chứng đức tin về việc
tạo dựng “từ hư vô” như một chân lý đầy hứa
hẹn và hy vọng. Một bà mẹ đã khuyến khích
bảy người con mình chịu tử đạo như sau: Mẹ không rõ các con đã
thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ
ban cho các con thần khí và sự sống. Cũng không phải
mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người
trong các con. Chính Đấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc
nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gồc muôn
loài. Chính Ngài do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại
cho các con thần khí và sự sống, bởi vì bây giờ
các con trọng Luật Lệ của Ngài hơn bản thân
mình… Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất
và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã
làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được
tạo thành như vậy” (2 Mcb
7,22-23.28). [Back]
0298
Bởi vì Thiên Chúa có thể tạo dựng
từ hư vô, nên Ngài, “Đấng làm cho kẻ chết được sống
và khiến những gì không có hóa có” (Rm 4,17), cũng có thể, nhờ Chúa Thánh Thần,
ban sự sống phần hồn cho các tội nhân bằng
cách tạo cho họ một quả tim tinh tuyền [X. Tv 51,12], và ban sự sống phần
xác cho người đã chết qua việc phục sinh. Và bởi
vì Ngài đã có thể lấy Lời của Ngài mà làm
cho ánh sáng bừng lên từ bóng tối [X. St 1,3], nên Ngài cũng có thể ban ánh sáng đức
tin cho những kẻ chưa biết Ngài [X.
2 Cr 4,6]. [Back]
0299
Thiên Chúa tạo dựng một thế giới
trật tự và tốt lành.
Nếu Thiên
Chúa tạo dựng một cách khôn ngoan, thì công
trình tạo dựng là có trật tự: “Chúa đã sắp
xếp có chừng có mực, đã tính toán và cân nhắc cả
rồi” (Kn
11,20). Trần gian được
tạo dựng trong Ngôi Lời vĩnh cửu và nhờ Ngôi
Lời vĩnh cửu, Đấng là “hình ảnh của
Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), trần gian đó là dành cho con người và hướng tới
con người, là hình ảnh của Thiên Chúa [X. St 1,26], và được kêu gọi để sống
trong tương quan cá vị với Thiên Chúa. Trí khôn của chúng ta,
được tham dự vào ánh sáng của Đấng Thượng trí thần
linh, có thể hiểu được những điều Thiên Chúa nói
với chúng ta qua công trình tạo dựng [X. Tv 19,2-5], tuy phải cố gắng nhiều,
và trong tinh thần khiêm tốn và kính trọng trước Đấng
Tạo Hóa và công trình của Ngài [X. G 42,3]. Công trình tạo dựng, được
phát sinh do sự tốt lành của Thiên Chúa, nên nó được dự
phần vào sự tốt lành này (“Và Thiên Chúa thấy thế
là tốt đẹp,… là rất tốt đẹp”: St
1,4.10.12.18.21.31). Quả
thật, Thiên Chúa đã muốn công trình tạo dựng
là như một quà tặng dành cho con người, như một gia sản
được gởi gắm và ủy thác cho con người. Nhiều
lần Hội Thánh đã phải biện hộ cho sự
tốt lành của công trình tạo dựng, bao gồm
cả sự tốt lành của thế giới vật chất
[X. Thánh
Lêô Cả, Epistula Quam laudabiliter; CĐ Bracarense I, Anathematismi
praesertim contra Priscillianistas, 5-13; CĐ Lat. IV, Cap. 2, De fide catholica; CĐ Flor. , Decretum pro
Iacobitis; CĐ Vat. I, Dei Filius, c. 1]. [Back]
0300
Thiên Chúa vừa siêu việt trên công
trình tạo dựng, vừa hiện diện nơi công
trình tạo dựng.
Thiên Chúa vô cùng cao cả hơn các công trình của
Ngài [X. Hc 43,30]: “Uy phong Ngài vượt
quá trời cao” (Tv 8,2). “Ngài cao cả
khôn dò khôn thấu” (Tv 145,3).
Nhưng bởi vì Ngài là Đấng Tạo Hóa tối cao và tự
do, là căn nguyên đệ nhất của tất cả những
gì hiện hữu, nên Ngài hiện diện nơi thâm sâu nhất
của các thụ tạo của Ngài: “Chính ở nơi Ngài mà
chúng ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17,28). Theo lời thánh Augustinô:
Ngài “thâm sâu hơn sự thâm sâu nhất của tôi và cao vời
hơn tột đỉnh của tôi” [Thánh
Augustinô, Confessiones, 3,6,11]. [Back]
0301
Thiên Chúa giữ
gìn và nâng đỡ công trình tạo dựng.
Sau khi tạo dựng, Thiên Chúa không bỏ mặc thụ tạo của Ngài. Không những Thiên Chúa cho chúng hữu thể và hiện hữu, nhưng Ngài còn luôn luôn giữ gìn chúng “hiện hữu”, cho chúng có thể hoạt động và dẫn đưa chúng đến cùng đích của chúng. Nhận biết sự lệ thuộc tuyệt đối như vậy vào Đấng Tạo Hoá là nguồn mạch của sự khôn ngoan và tự do, của niềm vui và sự tin tưởng:
“Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên. Nếu như Ngài không muốn, làm sao một vật tồn tại nổi? Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì? Lạy Chúa Tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa” (Kn 11,24-26). [Back]
Thiên Chúa Thực Hiện Kế Hoạch Của
Ngài: Sự Quan Phòng Của Thiên Chúa.
Công trình tạo dựng có sự tốt
lành và hoàn hảo riêng, nhưng chưa tuyệt đối trọn vẹn
khi xuất phát từ bàn tay Đấng Tạo Hoá. Trần gian
được tạo dựng “trong tình trạng lên đường”
(“in statu viae”) hướng đến sự
hoàn hảo cuối cùng mà Thiên Chúa đã định cho chúng. Những
sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa dẫn đưa công trình tạo
dựng của Ngài tới sự hoàn hảo đó, chúng ta gọi
là sự quan phòng của Thiên Chúa.
“Quả thật, nhờ sự quan phòng của Ngài,
Thiên Chúa gìn giữ và điều khiển tất cả những
gì Ngài đã tạo dựng, ‘từ chân trời này
vươn mạnh tới chân trời kia, Ngài cai quản mọi
loài thật tốt đẹp’ (Kn 8,1).
‘Nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước
mắt Ngài’ (Dt 4,13), kể cả
những điều trong tương lai do hành động tự do của
các thụ tạo” [CĐ Vat. I, Dei Filius,
c. 1]. [Back]
0303
Chứng từ của Thánh Kinh đều đồng
nhất: Thiên Chúa quan phòng chăm sóc mọi sự cách cụ thể và trực tiếp,
Ngài quan tâm đến tất cả mọi sự, từ những
điều nhỏ nhất đến những biến cố trọng
đại của trần gian và của lịch sử. Sách
Thánh xác quyết mạnh mẽ quyền chủ tể tuyệt
đối của Thiên Chúa trong dòng chảy của các biến
cố: “Thiên Chúa chúng ta ở trên trời, muốn làm
gì là Chúa làm nên” (Tv 115,3);
và Sách Thánh nói về Đức Kitô: “Người mở ra thì
không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không
ai mở ra được” (Kh 3,7).
“Lòng con người ấp ủ bao dự tính, duy kế
hoạch của Chúa mới trường tồn” (Cn 19,21). [Back]
0304
Chúng ta nhận thấy điều này là, Chúa Thánh
Thần, tác giả chính của Thánh Kinh, thường quy các hành
động về Thiên Chúa, mà không nhắc đến các nguyên nhân đệ
nhị. Đó không phải là “cách nói” sơ khai, nhưng là cách sâu sắc
để nhắc nhớ đến quyền tối thượng của
Thiên Chúa và quyền chủ tể tuyệt đối của
Ngài trên lịch sử và trần gian [X.
Is 10,5-15; 45,5-7; Đnl 32,39; Hc 11,14], và như vậy để dạy
người ta phải tín thác vào Ngài. Cách cầu nguyện của
các Thánh vịnh là trường huấn luyện quan trọng về
niềm tín thác này [X. TV 22; 32; 35; 103;
138]. [Back]
0305
Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phó thác với
tình con thảo cho sự quan phòng của Cha trên trời,
Đấng chăm sóc đến những nhu cầu nhỏ bé nhất
của con cái Ngài: “Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta
sẽ ăn gì? uống gì?... Cha anh em trên trời thừa
biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước
hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức
công chính của Ngài, còn tất cả những thứ
kia, Ngài sẽ thêm cho” (Mt 6,31-33) [X. Mt
10,29-31]. [Back]
0306
Sự quan phòng và các nguyên nhân đệ nhị.
Thiên Chúa là Chúa tể của kế hoạch của
Ngài. Nhưng để thực hiện kế hoạch ấy, Ngài
cũng dùng đến sự cộng tác của các thụ tạo.
Đây không phải là dấu hiệu của sự yếu kém,
nhưng là dấu chỉ của sự cao cả và lòng
nhân hậu của Thiên Chúa toàn năng. Quả vậy, Thiên Chúa
không những ban cho các thụ tạo được hiện hữu,
nhưng còn ban cho chúng phẩm giá để chúng hoạt động,
để chúng nên nguyên nhân và nguyên lý cho nhau, và như vậy để
chúng cộng tác vào việc hoàn thành kế hoạch của
Ngài. [Back]
0307
Đối với con người, Thiên Chúa còn
ban cho dư đầy khả năng để tham dự một cách tự
do vào sự quan phòng của Ngài, khi trao cho họ trách
nhiệm làm chủ trái đất và thống trị nó [X. St 1,26-28]. Như vậy, Thiên Chúa cho
con người trở nên những nguyên nhân thông minh và tự do
để hoàn thành công trình tạo dựng, và thực hiện
sự hài hoà của công trình ấy hầu mưu ích cho
chính mình và cho tha nhân. Con người, những cộng tác
viên thường là vô ý thức, của thánh ý Thiên Chúa,
có thể tham gia một cách ý thức vào kế hoạch
của Thiên Chúa bằng hành động, bằng kinh nguyện,
và cả bằng các đau khổ của mình [X. Cl 1,24]. Như vậy, họ trở
thành “những cộng sự viên của Thiên Chúa” (1 Cr 3,9) [X. 1 Tx 3,2] và của Nước
Ngài [X. Cl 4,11] cách trọn vẹn. [Back]
0308
Chân lý sau đây là không thể tách rời khỏi
đức tin vào Thiên Chúa Tạo Hoá: Thiên Chúa hành động trong mọi
hoạt động của các thụ tạo của Ngài. Ngài là
nguyên nhân đệ nhất, hành động trong và qua các nguyên nhân đệ
nhị: “Vì chính Thiên Chúa tác động đến ý chí cũng
như hành động của anh em do lòng yêu thương của Ngài” (Pl 2,13) [X.
1Cr 12,6]. Chân lý này không những không làm giảm bớt
phẩm giá của thụ tạo, nhưng còn nâng nó lên. Thụ
tạo, được tạo dựng từ hư vô bởi quyền
năng, sự khôn ngoan và lòng nhân hậu của Thiên Chúa,
không thể làm gì được nếu bị cắt khỏi
nguồn gốc của mình; “vì không có Đấng Tạo
Hoá, thụ tạo sẽ tan biến” [CĐ
Vat. II, GS 36]; thụ tạo lại càng không thể đạt
tới cùng đích tối hậu của mình nếu không
có sự trợ giúp của ân sủng [X.
Mt 19,26; Ga 15,5; Pl 4,13]. [Back]
0309
Thiên Chúa quan phòng và cớ vấp phạm
của sự dữ.
Nếu Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo
dựng nên trần gian có trật tự và tốt đẹp,
chăm sóc tất cả các thụ tạo của Ngài, thì
tại sao lại có sự dữ? Trước câu hỏi vừa
khẩn thiết vừa không thể tránh được, vừa bi
thảm vừa bí nhiệm này, không câu trả lời vội
vàng nào là đầy đủ được. Chỉ có toàn bộ đức
tin Kitô giáo mới là câu trả lời cho câu hỏi này: sự
tốt đẹp của công trình tạo dựng, thảm
kịch tội lỗi, tình yêu kiên nhẫn của Thiên
Chúa, Đấng đã đi bước trước đến với con
người qua các Giao Ước của Ngài, qua việc Con Ngài Nhập
Thể đem lại ơn cứu chuộc, qua việc ban Chúa Thánh
Thần, qua việc quy tụ Hội Thánh, qua sức mạnh
của các bí tích, qua việc kêu gọi tới cuộc sống
vĩnh phúc, mà ngay từ đầu các thụ tạo có tự
do được mời gọi đón nhận, nhưng cũng ngay từ
đầu, do một huyền nhiệm khủng khiếp, họ
có thể từ chối! Không có khía cạnh nào của sứ
điệp Kitô giáo mà lại không phải là một phần câu
trả lời cho câu hỏi về sự dữ. [Back]
0310
Nhưng tại sao Thiên Chúa lại không tạo dựng
một trần gian thật hoàn hảo đến nỗi không
thể có một sự dữ nào trong đó? Theo quyền năng vô
biên của Ngài, Thiên Chúa luôn có thể tạo dựng được
một thế giới tốt hơn [X.
Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae, I, q. 25, a. 6]. Nhưng trong sự
khôn ngoan và lòng nhân hậu vô biên của Ngài, Thiên Chúa
đã tự ý muốn dựng nên một trần gian
“trong tình trạng lên đường” hướng về sự
hoàn hảo cuối cùng của nó. Trong kế hoạch của
Thiên Chúa, quá trình này gồm có việc những vật
này xuất hiện và những vật khác biến đi, có cái
hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá
trong thiên nhiên. Như vậy, cùng với sự tốt lành thể
lý, cũng có sự dữ thể lý, bao lâu công
trình tạo dựng chưa đạt tới mức hoàn hảo
của nó [X. Thánh Tôma Aquinô, Summa contra
gentiles, 3, 71]. [Back]
0311
Các Thiên thần và các con người, là những
thụ tạo thông minh và tự do, phải tiến về mục
đích tối hậu của mình, nhờ sự lựa chọn
tự do và yêu mến điều gì là ưu tiên. Vì vậy,
họ có thể đi sai đường. Trong thực tế, họ
đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân
lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể
lý, đã xâm nhập vào trần gian. Thiên Chúa không bao
giờ, bằng bất cứ cách nào, một cách trực tiếp
hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý [X. Thánh Augustinô, De libero arbitrio, 1, 1, 1;
Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae, I-II, q. 79, a. 1]. Tuy nhiên Ngài
cho phép điều đó, vì tôn trọng sự tự do của
thụ tạo của Ngài, và một cách bí nhiệm, Ngài biết
từ sự dữ dẫn đưa tới điều thiện hảo:
“Quả thật, Thiên Chúa toàn năng tốt lành vô cùng, nên
không bao giờ cho phép một sự dữ nào xảy ra trong
các công trình của Ngài, nếu Ngài không toàn năng và tốt
lành đến độ Ngài có thể hành động cách tốt đẹp
từ sự dữ” [Thánh Augustinô,
Enchiridion de fide, spe et caritate, 3, 11]. [Back]
0312
Như vậy, với thời gian, chúng ta có thể
nhận ra rằng: Thiên Chúa, trong sự quan phòng toàn
năng của Ngài, có thể dẫn đưa tới điều thiện
hảo từ những hậu quả của sự dữ,
cho dù là sự dữ luân lý, do các thụ tạo của
Ngài gây nên: “Không phải các anh đã gửi tôi đến đây,
nhưng là Thiên Chúa…. Các anh đã định làm điều ác cho tôi,
nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt để…
cứu sống một dân đông đảo” (St
45,8; 50,20) [X. Tb 2,12-18 (bản Vulgata)]. Từ sự dữ
luân lý lớn lao nhất người ta từng phạm,
là việc khước từ và giết chết Con Thiên Chúa, sự
dữ đó là do tội lỗi của tất cả mọi
người gây nên, Thiên Chúa đã dẫn đưa tới điều
thiện hảo cao trọng nhất, nhờ ân sủng chan
chứa gấp bội của Ngài [X.
Rm 5,20]: Đức Kitô được tôn vinh và chúng ta được cứu
chuộc. Tuy nhiên không vì vậy mà sự dữ trở
thành điều thiện hảo. [Back]
0313
“Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28). Chứng từ của các Thánh không ngừng củng cố chân lý này. Thánh Catarina Siêna nói với “những người bất bình và nổi dậy chống lại những gì xảy đến cho họ”: “Mọi sự được ban tặng bởi tình yêu và được quan phòng cho phần rỗi của con người, chứ không vì bất cứ mục đích nào khác” [Thánh Catarina Siêna, Il dialogo della Divina Provvidenza 138].
Ngay trước khi chịu tử đạo,
thánh Tôma More an ủi con gái mình: “Không gì có thể
xảy ra mà không do Thiên Chúa muốn. Mà bất cứ điều
gì Ngài muốn, thì dù đối với chúng ta có vẻ
là sự dữ, nhưng thật ra đó là điều thiện hảo
nhất” [Margarita Roper, Epistola ad Aliciam Alington (tháng Tám 1534): The
Correspondence of Sir Thomas More].
Và bà Giuliana Norwich viết: “Nhờ ơn Chúa, tôi đã được
dạy phải vững vàng gắn bó với đức tin… và
tin một cách mạnh mẽ rằng mọi sự sẽ tốt
đẹp… Chính bạn sẽ thấy là mọi sự sẽ
tốt đẹp” [Giuliana Norwich, Revelatio
13, 32: A Book of Showings to the Anchoress Julian of Norwich]. [Back]
0314
Chúng ta tin vững vàng rằng Thiên Chúa là Chúa của
trần gian và của lịch sử. Nhưng thường chúng ta
không biết được các đường lối của sự quan phòng
của Ngài. Chỉ khi nào tới chung cuộc, lúc mà sự
hiểu biết phiến diện của chúng ta kết thúc,
khi chúng ta thấy Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12), chúng ta sẽ hiểu biết
một cách trọn vẹn các đường lối này, mà qua đó, kể
cả nhờ những thảm kịch của sự dữ
và tội lỗi, Thiên Chúa dẫn đưa công trình tạo dựng
của Ngài tới sự nghỉ ngơi của ngày Sabat [X. St 2,2] chung cuộc, vì ngày đó
mà Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất. [Back]
Tóm
lược
Thiên Chúa, trong
công trình tạo dựng trần gian và con người,
đã cho thấy chứng từ đầu tiên và phổ quát
về tình yêu toàn năng và sự khôn ngoan của Ngài, đây
là lời loan báo đầu tiên về “kế hoạch nhân hậu”
của Ngài, một kế hoạch có mục đích là công
trình tạo dựng mới trong Đức Kitô. [Back]
0316
Tuy công trình tạo
dựng được đặc biệt coi là của Chúa Cha, nhưng
chân lý đức tin cũng dạy: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần là nguyên lý duy nhất và không thể phân
chia của công trình tạo dựng. [Back]
0317
Một
mình Thiên Chúa đã tạo dựng trần gian một
cách tự do, trực tiếp, không hề có một sự
trợ giúp nào. [Back]
0318
Không một thụ
tạo nào có quyền năng vô biên cần thiết để “tạo
dựng” theo đúng nghĩa của từ này, nghĩa là, làm ra
và cho hiện hữu điều gì trước đó không hề
có (kêu gọi
nó hiện hữu “từ hư vô”)
[X. Sacra Congregatio Studiorum, Decretum (27 iulii 1914]. [Back]
0319
Thiên Chúa
đã tạo dựng trần gian để biểu lộ và
truyền thông vinh quang của Ngài. Sự vinh quang mà vì
đó Thiên Chúa đã tạo dựng các thụ tạo của
Ngài, là để chúng được dự phần vào sự chân thiện
mỹ của Ngài. [Back]
0320
Thiên Chúa, Đấng
đã tạo dựng trần gian, gìn giữ nó hiện
hữu nhờ Ngôi Lời, là Con của Ngài, Đấng “dùng lời
quyền năng của mình mà duy trì vạn vật”
(Dt 1,3), và nhờ Thần Khí Sáng Tạo của Ngài, Đấng
ban sự sống. [Back]
0321
Sự quan
phòng của Thiên Chúa là những sắp xếp nhờ
đó Thiên Chúa, với sự khôn ngoan và tình yêu, dẫn đưa
mọi thụ tạo của Ngài tới mục đích tối
hậu của chúng. [Back]
0322
Đức Kitô mời gọi chúng ta phó thác với
tình con thảo vào sự quan phòng của Cha trên trời
[X. Mt 6,26-34], và thánh Tông Đồ Phêrô nhắc lại:
“Mọi âu lo, hãy trút cả cho Ngài, vì Ngài chăm sóc
anh em” (1
Pr 5,7) [X. Tv 55,23]. [Back]
0323
Thiên Chúa quan
phòng cũng hành động qua hành động của các thụ
tạo. Thiên Chúa cho con người được cộng tác một
cách tự do vào các kế hoạch của Ngài. [Back]
0324
Việc Thiên
Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ
luân lý là một mầu nhiệm mà Thiên Chúa làm sáng tỏ
nhờ Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, đã chết và
đã sống lại để chiến thắng sự dữ.
Đức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa đã không cho
phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát
sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó, bằng
những đường lối mà chúng ta chỉ biết được
trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu. [Back]
Trời và đất
Tín biểu của các Tông Đồ tuyên xưng Thiên
Chúa là Đấng “dựng nên trời đất” [DS 30]; và tín biểu
Nicêa-Constantinôpôli giải thích thêm: “muôn vật hữu
hình và vô hình” [DS 150]. [Back]
0326
Trong Thánh Kinh, kiểu nói “trời đất” có
nghĩa là tất cả những gì hiện hữu, là
toàn bộ công trình tạo dựng. Kiểu nói này cũng
nêu lên mối liên hệ, trong công trình tạo dựng,
vừa kết hợp vừa phân biệt trời với đất:
“Đất” là thế giới của con người [X. Tv 115,16]. “Trời” hoặc “các tầng
trời” có thể chỉ bầu trời [X. Tv 19,2], nhưng cũng có thể chỉ “nơi” riêng
của Thiên Chúa, là Cha chúng ta, Đấng “ngự trên trời” (Mt 5, 16) [X. Tv 115,16]; và do đó, “trời”
cũng chỉ vinh quang cánh chung. Sau hết, “trời” chỉ
“nơi” của các thụ tạo thiêng liêng – tức là các Thiên
thần – là những vị hầu cận Thiên Chúa. [Back]
0327
Bản tuyên xưng đức tin của Công đồng
Latêranô IV khẳng định: Thiên Chúa “ngay vào lúc khởi đầu
thời gian, đã cùng một lúc tạo dựng từ hư
vô cả hai loài thụ tạo, thiêng liêng và vật chất,
nghĩa là Thiên thần và trần gian, và sau cùng là con người,
được tạo dựng vừa tinh thần vừa thể
xác.” [CĐ Latêranô IV, Cap. I, De Fide
catholica; CĐ Vat. I, Dei Filius, c. 1; ĐGH Phaolô VI, Sollemnis Professio
fidei, 8] [Back]
Các Thiên Thần
Sự hiện hữu của các Thiên thần
là một chân lý đức tin.
Sự hiện hữu của các hữu thể
thiêng liêng, không có thể xác, mà Thánh Kinh thường gọi là
các Thiên thần, là một chân lý đức tin. Chứng từ
của Thánh Kinh cũng rõ ràng như sự nhất trí của
Thánh Truyền. [Back]
0329
Các Thiên thần là ai?
Thánh Augustinô nói về các vị đó: “‘Thiên thần’
là tên gọi chỉ chức vụ chứ không chỉ bản
chất. Nếu bạn tìm tên gọi chỉ bản chất
của vị này, thì đó là thiêng liêng; nếu bạn
tìm tên chỉ chức vụ, thì đó là Thiên thần;
vị ấy là gì, thì là thiêng liêng, vị ấy
làm gì, thì là Thiên thần” [Thánh
Augustinô, Enarratio in Psalmum 103, 1, 15]. Các Thiên thần, tự
bản thể, là những tôi tớ và sứ giả của
Thiên Chúa. Vì các ngài “không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha
Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt
18,10), nên các ngài là những vị “thực hiện Lời
Chúa, luôn sẵn sàng phụng lệnh Ngài” (Tv 103,20). [Back]
0330
Vì là những thụ tạo hoàn toàn thiêng
liêng, các Thiên thần có trí tuệ và ý chí: các ngài là
những thụ tạo có ngôi vị [X.
ĐGH Piô XII, Humani generis], và bất tử [X. Lc 20,36]. Các ngài trổi vượt
hơn mọi thụ tạo hữu hình về mặt hoàn
hảo. Vinh quang rực rỡ của các ngài minh chứng điều
ấy [X. Đn 10,9-12]. [Back]
0331
Đức Kitô với tất cả các Thiên thần
của Người.
Đức Kitô là trung tâm của thế giới
Thiên thần. Các vị đều là sứ giả của Người:
“Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất
cả các thiên sứ theo hầu…” (Mt
25,31). Các Thiên thần là của Đức Kitô, bởi
vì các vị ấy đã được tạo dựng nhờ
Người và trong Người: “Vì trong Người, muôn vật
được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu
hình với vô hình, dẫu là hàng dũng lực thần
thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới. Tất cả
đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người”
(Cl 1,16). Các vị còn thuộc
về Người hơn nữa, bởi vì Người đã
dùng các vị làm sứ giả của kế hoạch cứu
độ của Người: “Nào tất cả các vị đó không
phải là những bậc thiêng liêng chuyên lo phụng thờ
Chúa, được sai đi phục vụ để mưu ích cho những kẻ
sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ sao?” (Dt 1,14). [Back]
0332
Khởi từ lúc tạo dựng [X. G 38,7] và suốt dòng lịch
sử cứu độ, các Thiên thần có mặt để hoặc
xa hoặc gần loan báo ơn cứu độ và phục vụ
cho việc thực hiện ơn cứu độ theo kế hoạch
của Thiên Chúa. Các Thiên thần đóng cửa vườn địa
đàng [X. St 3,24], bảo vệ ông
Lót [X. St 19], cứu bà Agar và con
trai bà [X. St 21,17], chặn tay ông
Abraham [X. St 22,11]. Lề Luật
được truyền thông qua thừa tác vụ của các Thiên
thần [X. Cv 7,53], các ngài hướng
dẫn dân Chúa [X. Xh 23,20-23], loan
báo những cuộc chào đời, và những ơn kêu gọi [X. Tl 6,11-24; Is 6,6], trợ giúp các
Tiên tri [X. 1 V 19,5], đó là chúng ta chỉ
nêu lên một số thí dụ. Cuối cùng, thiên thần
Gabriel loan báo việc chào đời của vị Tiền hô và
của chính Chúa Giêsu [X. Lc 1,11.26]. [Back]
0333
Từ cuộc Nhập Thể cho tới cuộc
Thăng Thiên, cuộc đời của Ngôi Lời nhập thể
được hầu cận bằng sự tôn thờ và phục
vụ của các Thiên thần. “Khi đưa Trưởng Tử vào thế
giới loài người, Thiên Chúa nói: "Mọi Thiên thần của
Thiên Chúa, phải thờ lạy Người” (Dt 1,6). Ca khúc ngợi khen của các Thiên thần
khi Đức Kitô giáng sinh không ngừng vang vọng trong lời
ca tụng của Hội Thánh: “Vinh danh Thiên Chúa…” (Lc 2,14). Các Thiên thần bảo vệ
Chúa Giêsu khi Người còn thơ ấu [X.
Mt 1,20; 2,13.19], phục vụ Người trong hoang địa
[X. Mc 1,13; Mt 4,11], an ủi Người
trong cơn hấp hối [X. Lc 22,43],
khi Người đã có thể được các vị cứu khỏi
tay kẻ thù [X. Mt 26,53], như dân
Israel xưa [X. 2 Mcb 10,29-30; 11,8]. Các
Thiên thần cũng rao giảng Tin Mừng ” [X. Lc 2,10] khi loan báo Tin Mừng về
việc Nhập Thể [X. Lc 2,8-14]
và về việc Phục Sinh của Đức Kitô [X. Mc 16,5-7]. Các ngài loan báo việc Đức
Kitô lại đến [X. Cv 1,10-11],
và khi Người đến, các ngài sẽ có mặt để phục
vụ việc xét xử của Người [X. Mt 13,41; 24,31; Lc 12,8-9]. [Back]
0334
Các Thiên thần
trong đời sống Hội Thánh
Từ đó, toàn bộ
đời sống Hội Thánh hưởng nhờ sự trợ
giúp bí nhiệm và đầy uy quyền của các Thiên thần [X. Cv 5,18-20; 8,26-29;
10,3-8; 12,6-11; 27,23-25]. [Back]
0335
Trong phụng vụ, Hội Thánh kết hợp
mình với các Thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa ba
lần thánh [X. Kinh “Thánh, Thánh, Thánh”:
Sách Lễ Rôma, editio typica]; Hội Thánh khẩn cầu
các Thiên thần trợ giúp như trong kinh In Paradisum deducant te
angeli, Xin các Thiên thần Chúa dẫn đưa bạn về thiên
đàng của phụng vụ cầu cho các tín hữu qua đời
[Nghi thức an táng, 50, editio typica],
hoặc trong “Thánh thi Cherubim” của phụng vụ Byzantin [Liturgia Byzantina sancti Ioannis Chrysotomi, Hymnus
cherubinorum: Liturgies Eastern and Western]; đặc biệt hơn,
Hội Thánh cử hành việc kính nhớ một số
Thiên thần (thánh Micae, thánh Gabriel,
thánh Raphael, các Thiên thần Hộ thủ). [Back]
0336
Cuộc đời con người, từ lúc khởi
đầu [X. Mt 18,10] cho đến lúc
chết [X. Lc 16,22], đều được
bao bọc bằng sự bảo vệ [X. Tv 34,8; 91,10-13] và lời chuyển cầu [X. G 33,23-24; Dc 1,12; Tb 12,12] của
các Thiên thần. “Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một
Thiên thần làm Đấng bảo trợ và mục tử, hướng
dẫn họ đến sự sống” [Thánh
Basiliô, Adversus Eunomium, 3, 1]. Đời sống Kitô hữu,
ngay tại trần gian này, đã được tham dự trong đức
tin vào cộng đoàn vinh phúc của các Thiên thần và của
những người đã được hợp nhất trong Thiên
Chúa. [Back]
Thế Giới Hữu Hình
Chính Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới hữu
hình trong toàn bộ sự phong phú, đa dạng và trật
tự của nó. Thánh Kinh trình bày công trình của
Đấng Tạo Hoá một cách biểu tượng như một
chuỗi sáu ngày “làm việc” của Thiên Chúa, kết thúc với
sự “nghỉ ngơi” vào ngày thứ bảy [X. St 1,1-2,4]. Liên quan đến công trình tạo
dựng, Thánh Kinh dạy những chân lý đã được
Thiên Chúa mạc khải vì ơn cứu độ chúng ta [X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý
Dei Verbum, 11], giúp chúng ta “nhận ra bản chất sâu
xa, giá trị và trật tự của toàn thể thụ tạo
để ca ngợi Thiên Chúa” [CĐ Vaticanô
II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 36: AAS 57 (1965) 41.]. [Back]
0338
Không có gì hiện hữu mà không mắc nợ
Thiên Chúa Tạo Hoá về sự hiện hữu của
mình. Trần gian bắt đầu khi nó được dựng
nên từ hư vô nhờ Lời Thiên Chúa. Tất cả mọi
hữu thể hiện hữu, toàn bộ thiên nhiên, toàn bộ
lịch sử nhân loại đều bắt nguồn từ biến
cố đầu tiên đó: quả vậy, đây là khởi điểm,
qua đó trần gian được hình thành và bắt đầu thời
gian [X. Th. Aug., De Genesi contra
Manichaeos,1,2,4]. [Back]
0339
Mỗi thụ tạo đều có sự tốt
lành và hoàn hảo riêng của nó. Về mỗi công
trình của “sáu ngày”, Sách Thánh đều viết: “Và Thiên
Chúa thấy thế là tốt đẹp”. “Chính nhờ việc
tạo dựng, mà mọi sự vật được thiết lập
với sự bền vững, chân thật và tốt lành
riêng, và theo những định luật và trật tự riêng” [CĐ Vat. II, GS 36]. Các thụ tạo
khác nhau, trong bản chất riêng của mình, mỗi thụ
tạo một cách, đều phản chiếu một tia sáng của
sự khôn ngoan vô biên và sự tốt lành vô biên của Thiên
Chúa. Chính vì vậy con người phải tôn trọng sự
tốt lành riêng của từng thụ tạo, tránh không sử
dụng các sự vật một cách vô trật tự,
vì làm như vậy là coi thường Đấng Tạo Hóa và kéo
theo những hậu quả nguy hại cho con người và cho
môi trường của con người. [Back]
0340
Thiên Chúa muốn các thụ tạo lệ
thuộc lẫn nhau. Mặt trời, mặt trăng, cây sến
và bông hoa nhỏ, phượng hoàng và chim sẻ: cảnh thiên
hình vạn trạng của các sự vật lớn nhỏ
khác nhau nói lên rằng không thụ tạo nào có thể tự
túc. Chúng chỉ hiện hữu trong sự lệ thuộc lẫn
nhau, để bổ túc cho nhau trong việc phục vụ lẫn
nhau. [Back]
0341
Vẻ đẹp của trần gian: Trật
tự và sự hài hòa của thế giới thụ tạo
là kết quả do sự đa dạng của các sự vật
và sự đa dạng của các liên hệ giữa chúng với
nhau. Con người dần dần khám phá ra các mối liên hệ
ấy như các định luật của thiên nhiên. Chúng khiến
cho các nhà bác học phải thán phục. Vẻ đẹp của
công trình tạo dựng phản chiếu vẻ đẹp
vô biên của Đấng Tạo Hoá. Vẻ đẹp này phải gợi
lên nơi trí tuệ và ý chí con người sự tôn kính và quy
phục. [Back]
0342
Phẩm trật các thụ tạo được
diễn tả qua thứ tự “sáu ngày”, từ bậc kém
hoàn hảo tới bậc hoàn hảo hơn. Thiên Chúa yêu thương tất
cả các thụ tạo của Ngài [X.
Tv 145,9], và chăm sóc chúng, cả đến những con chim sẻ.
Tuy nhiên Chúa Giêsu nói: “Anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ”
(Lc 12,6-7), hoặc chỗ khác:
“Người thì quý hơn chiên biết mấy!” (Mt 12,12). [Back]
0343
Con người là tột đỉnh của
công trình tạo dựng. Trình thuật của Sách
Thánh diễn tả điều này khi phân biệt rõ ràng việc
tạo dựng loài người với việc tạo dựng
các loài khác [X. St 1,26]. [Back]
0344
Có sự liên đới với nhau giữa mọi
thụ tạo vì tất cả đều có chung một Đấng
Tạo Hoá, và tất cả đều quy hướng về vinh
quang của Ngài: “Chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con, cùng
với tất cả các thụ tạo của Chúa, đặc
biệt là với anh Mặt Trời, anh ấy là ngày, và Chúa
dùng anh ấy để soi sáng chúng con. Anh ấy đẹp và toả
chiếu ánh huy hoàng rực rỡ; anh ấy là một tín hiệu
chỉ về Chúa, lạy Đấng Tối Cao… Chúc tụng
Chúa, lạy Chúa của con, vì chị Nước, chị ấy
hữu ích và khiêm nhường, quý giá và thanh khiết… Chúc
tụng Chúa, lạy Chúa của con, vì chị Đất là
mẹ chúng con, mẹ nâng đỡ và quản lý chúng con, mẹ
sản xuất đủ loại trái cây, với muôn hoa sặc
sỡ và cây cỏ… Các bạn hãy chúc tụng và ngợi
khen Chúa của tôi, hãy tạ ơn và hết sức khiêm tốn
phục vụ Ngài” [Thánh Phanxicô
Assisi, Canticum Fratris Solis]. [Back]
0345
Ngày sabat kết thúc “sáu ngày” làm việc.
Sách Thánh nói: “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công
việc Ngài làm”, và như vậy “trời đất đã hoàn tất”;
và ngày thứ bảy Thiên Chúa “nghỉ ngơi”, Ngài “ban phúc lành
cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó” (St
2,1-3). Những lời được linh hứng này chứa
đựng rất nhiều giáo huấn bổ ích. [Back]
0346
Trong công
trình tạo dựng, Thiên Chúa đã đặt một nền
móng và những định luật vững bền [X. Dt 4,3-4], tín hữu có thể dựa vào
đó một cách tin tưởng. Chúng sẽ là dấu chỉ và bảo
chứng của sự trung thành không hề lay chuyển của
Giao Ước của Thiên Chúa [X. Gr 31,35-37; 33,19-26]. Về phần mình, con người
phải trung thành với nền móng này và tôn trọng những
định luật mà Đấng Tạo Hoá đã khắc ghi trên
đó. [Back]
0347
Công trình tạo dựng đã được
thực hiện hướng về ngày sabat, tức là hướng
đến việc phụng tự và tôn thờ Thiên Chúa. Việc
phụng tự đã được khắc ghi trong trật tự
của công trình tạo dựng [X.
St 1,14]. Luật dòng thánh Bênêđictô dạy: “Không được
đặt việc gì lên trên việc thờ phượng Thiên
Chúa” [Thánh Bênêđictô, Regula, 43,3],
như vậy là nêu rõ trật tự đúng đắn cho những
điều con người phải quan tâm. [Back]
0348
Ngày sabat nằm ở trung tâm của Lề Luật
Israel. Tuân giữ các giới răn là sống phù hợp với
sự khôn ngoan và ý muốn của Thiên Chúa đã được
diễn tả trong công trình tạo dựng của
Ngài. [Back]
0349
Ngày
thứ tám. Nhưng đối với chúng ta, đã bừng
lên một ngày mới: ngày Đức Kitô sống lại. Ngày thứ
bảy hoàn tất công trình tạo dựng thứ nhất.
Ngày thứ tám khởi đầu một công trình tạo dựng
mới. Như vậy, công trình tạo dựng đạt tới
tột đỉnh nơi công trình cao cả nhất, là công
trình Cứu chuộc. Công trình tạo dựng thứ
nhất gặp được ý nghĩa và tột đỉnh của
nó trong công trình tạo dựng mới nơi Đức Kitô, sự
huy hoàng của cuộc tạo dựng mới này vượt xa
sự huy hoàng của cuộc tạo dựng thứ nhất
[X. Canh thức Vượt qua, Lời
nguyện sau bài đọc thứ nhất: Sách Lễ Rôma, editio
typica]. [Back]
Tóm lược
Thiên thần là
những thụ tạo thiêng liêng, không ngừng tôn vinh Thiên
Chúa và phục vụ các kế hoạch cứu độ của
Thiên Chúa đối với các thụ tạo khác: “Các Thiên thần
cộng tác vào mọi điều thiện hảo của chúng
ta” [Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae,
I, 114, 3, ad 3]. [Back]
0351
Các Thiên thần
hầu cận Đức Kitô, là Chúa của mình. Các ngài phục
vụ Người, đặc biệt trong việc thực hiện
sứ vụ cứu độ của Người đối với
nhân loại. [Back]
0352
Hội Thánh tôn
kính các Thiên thần, là những vị trợ giúp Hội
Thánh trong cuộc lữ hành trần thế, và là những vị
bảo vệ mọi hữu thể nhân linh. [Back]
0353
Thiên Chúa đã muốn các thụ tạo của
Ngài có sự đa dạng, mỗi loài có sự tốt lành
riêng, tất cả lệ thuộc lẫn nhau và tuân theo trật
tự của mình. Ngài đã định cho tất cả
các thụ tạo vật chất phục vụ cho lợi
ích của nhân loại. Con người, và nhờ họ, toàn bộ
công trình tạo dựng, đều được quy hướng về
vinh quang Thiên Chúa. [Back]
0354
Tôn trọng những
lề luật đã được khắc ghi trong công trình
tạo dựng và những mối tương quan xuất phát từ
bản chất của mọi vật, là một nguyên tắc
khôn ngoan và là một nền tảng của luân lý. [Back]
Con người
“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh
mình; Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh
Thiên Chúa. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Con người có một địa vị độc
tôn trong công trình tạo dựng: con người là
“hình ảnh của Thiên Chúa”; trong bản tính riêng của
mình, con người kết hợp thế giới thiêng
liêng và thế giới vật chất; con người được
tạo dựng “có nam có nữ”; Thiên Chúa cho con người sống
thân mật với Ngài. [Back]
0356
Theo Hình Ảnh Thiên Chúa
Trong tất cả các thụ tạo hữu hình, chỉ
con người có khả năng “nhận biết và yêu mến Đấng
Tạo Hoá của mình” [CĐ Vat.
II, GS, 12]; là “thụ tạo duy nhất trên trái đất
Thiên Chúa dựng nên vì chính họ” [CĐ Vat. II, GS, 24]; chỉ con người được
kêu gọi tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, bằng
sự nhận biết và tình yêu. Con người được tạo
dựng vì mục đích ấy, và đó là lý do căn bản
của phẩm giá con người: “Vì lý do nào Chúa
đã đặt con người vào một phẩm giá cao trọng
như vậy? Chính tình yêu khôn tả đã khiến Chúa
nhìn đến thụ tạo của Chúa nơi chính Chúa, Chúa
đã ‘say mê’ nó; vì tình yêu Chúa đã dựng nên
nó, vì tình yêu Chúa đã cho nó hiện hữu, để
nó nếm được sự Tốt lành vĩnh cửu của
Chúa” [Thánh Catarina Siêna, II dialogo della
Divina provvidenza, 13]. [Back]
0357
Mỗi cá nhân con người, bởi vì được
dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm
giá của một ngôi vị: không chỉ là một sự
vật nào đó, nhưng là một ai đó. Con người có khả năng
nhận thức về bản thân mình, làm chủ
mình, tự hiến mình cách tự do và đi vào sự
hiệp thông với những ngôi vị khác; nhờ ân sủng,
mỗi nguời được kêu gọi vào Giao ước với Đấng
Tạo Hoá của mình, để dâng lên Ngài một lời
đáp lại của đức tin và tình yêu, mà không ai khác có
thể thay thế chỗ của mình được. [Back]
0358
Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự
cho con người [X. CĐ Vat. II, GS,
12; Ibid., 24; Ibid., 39]; còn con người được tạo
dựng để phục vụ Thiên Chúa và yêu mến Ngài và
dâng lên Ngài toàn thể thụ tạo: “Vậy ai được tạo
dựng sau cùng và được vinh dự dường ấy? Thưa đó
là con người, một sinh vật cao cả và kỳ diệu,
và đối với Thiên Chúa, nó quý giá hơn mọi thụ tạo;
vì con người mà trời, đất, biển và toàn thể
thụ tạo được hiện hữu: Thiên Chúa đã tha
thiết muốn cứu độ con người, đến nỗi
đã không buông tha Con Một của Ngài vì họ:
Thiên Chúa cũng không ngừng vận dụng mọi cách để
nâng con người lên đặt ở bên hữu Ngài” [Thánh Gioan Kim khẩu, Sermones in Genesim, 2,
1]. [Back]
0359
“Quả thật, chỉ trong mầu nhiệm
của Ngôi Lời Nhập Thể, mà mầu nhiệm về
con người mới thật sự được sáng tỏ” [CĐ Vat. II, GS, 22]: “Thánh Phaolô cho chúng ta biết có
hai người là nguồn gốc của nhân loại, là ông Ađam
và Đức Kitô… Ađam đầu tiên được tạo dựng là một
người lãnh nhận sự sống. Còn Ađam cuối
cùng là Đấng thiêng liêng ban sự sống. Người đầu
tiên được tạo dựng bởi Đấng cuối cùng, do Đấng
này, người đầu tiên lãnh nhận linh hồn để
được sống…. Khi tạo dựng Ađam đầu tiên, Ađam cuối
cùng đã khắc ghi hình ảnh mình trong đó. Từ
đó Ađam cuối cùng đã nhận lấy vai trò và tên gọi
của Ađam đầu tiên, để không bỏ mất những
gì đã được tạo dựng theo hình ảnh
của mình. Ađam đầu tiên, Ađam cuối cùng: Ađam đầu
tiên có khởi đầu, Ađam cuối cùng không có kết thúc, bởi
vì Đấng cuối cùng này mới thật sự là Đấng
đầu tiên, như chính Người đã nói: ‘Ta là Đầu và là Cuối’”
[Thánh Phêrô Kim ngôn, Sermones, 117, 1-2]. [Back]
0360
Vì cùng xuất phát từ một nguồn
gốc chung, tất cả mọi người làm thành một
loài người duy nhất. “Từ một người duy nhất,
Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại” (Cv 17,26) [X. Tb 8,6]: “Cái nhìn kỳ diệu
khiến chúng ta có thể chiêm ngắm nhân loại trong sự
thống nhất vì cùng có chung một nguồn gốc
bởi Đấng Tạo Hoá; trong sự thống nhất về
bản tính vì mọi người đều được tạo dựng
như nhau, gồm một thân xác vật chất và một linh hồn
thiêng liêng bất tử; trong sự thống nhất về
mục đích mà mọi người cùng theo đuổi, về nhiệm
vụ phải đảm nhận trong cuộc sống này; trong
sự thống nhất về nơi cư ngụ là trái đất với
những tài nguyên, mà mọi người, do quyền tự nhiên
của mình, đều có quyền sử dụng để
nuôi dưỡng và phát triển sự sống; sau cùng, trong sự
thống nhất về cùng đích siêu nhiên, là chính Thiên Chúa, Đấng
mà tất cả đều phải quy hướng về; trong sự
thống nhất về những phương thế để đạt
tới cùng đích đó; trong sự thống nhất về ơn Cứu
chuộc mà Đức Kitô đã thực hiện cho mọi người”
[ĐGH Piô XII, Thông điệp Summi
Pontificatus; x. CĐ Vat. II, Nostra aetate, 1]. [Back]
0361
Quy luật “của sự con người cần
đến nhau và của đức mến” [ĐGH
Piô XII, Thông Điệp Summi Pontificatus], bảo đảm cho
chúng ta rằng mọi người thật sự đều là anh
em, tuy không loại trừ sự khác biệt rất nhiều
giữa các cá nhân, các nền văn hóa, và các dân tộc. [Back]
Một hữu thể
có xác có hồn
Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người
là một hữu thể vừa có yếu tố thể xác
lại vừa có yếu tố tinh thần. Trình thuật
Thánh Kinh diễn tả thực tại đó bằng một
ngôn ngữ biểu tượng khi khẳng định rằng
“Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người,
thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một
sinh vật” (St 2,7). Như vậy
con người toàn diện được dựng nên do ý muốn
của Thiên Chúa. [Back]
0363
Trong Thánh Kinh, từ linh hồn thường
chỉ sự sống con người [X.
Mt 16,25-26; Ga 15,13] hoặc toàn bộ nhân vị [X. Cv 2,41]. Nhưng từ đó cũng dùng
để chỉ cái thâm sâu nhất trong con người [X. Mt 26,38; Ga 12,27], giá trị nhất
trong con người [X. Mt 10,28; 2 Mcb 6,30],
nhờ đó con người là hình ảnh của Thiên Chúa một
cách đặc biệt hơn: “linh hồn” là nguyên lý tinh thần
trong con người. [Back]
0364
Thân xác của
con người được dự phần vào phẩm giá là
“hình ảnh của Thiên Chúa”: nó là thân xác nhân linh (corpus humanum)
chính vì được linh hồn thiêng liêng làm cho sinh động,
và toàn bộ nhân vị được đặt định trở nên đền
thờ Chúa Thánh Thần, trong Thân Thể Đức Kitô [X. 1 Cr 6,19-20; 15,44-45].
“Là một thực thể có xác có hồn, con người,
nhờ chính điều kiện có xác của mình, quy tụ
nơi mình những yếu tố của thế giới vật
chất, cho nên, nhờ con người, các yếu tố ấy
đạt tới tuyệt đỉnh của chúng và có thể tự
do dâng lời ca ngợi Đấng Tạo Hóa. Vì vậy
con người không được khinh miệt sự sống thể
xác, nhưng trái lại, con người phải coi thân xác mình
là tốt đẹp và đáng tôn trọng vì thân xác ấy do
Thiên Chúa tạo dựng và sẽ được sống lại
trong ngày sau hết” [CĐ Vat. II, GS,
14]. [Back]
0365
Sự thống nhất xác hồn thâm sâu đến
độ linh hồn phải được coi là “mô thể” của
thân xác [X. CĐ Vienna (năm 1312), Hiến chế
Fidei catholicae]; nghĩa là, nhờ linh hồn thiêng liêng
mà thân xác, vốn được cấu tạo bằng vật chất,
là một thân xác nhân linh (corpus humanum) và sống động; tinh
thần và vật chất nơi con người không phải là hai
bản tính được nối kết lại, nhưng sự kết
hợp của chúng tạo thành một bản tính duy nhất. [Back]
0366
Hội Thánh dạy
rằng mỗi linh hồn thiêng liêng được tạo dựng
trực tiếp bởi Thiên Chúa [X. ĐGH Piô XII, Thông điệp
Humani generis (năm 1950); ĐGH Phaolô VI, Sollemnis Professio fidei, 8] chứ không phải do cha mẹ
“sinh sản”; Hội Thánh cũng dạy chúng ta rằng, linh
hồn thì bất tử [X. CĐ Latêranô (năm 1513), Tông sắc
Apostolici regiminis]; linh hồn
không hư hoại khi lìa khỏi xác trong giờ chết,
và sẽ tái hợp với thân xác trong ngày sống lại
sau hết. [Back]
0367
Đôi khi linh hồn được phân biệt với
tinh thần. Chẳng hạn thánh Phaolô cầu nguyện để
trọn con người chúng ta: “tinh thần, linh hồn và thân
xác” được gìn giữ, “không gì đáng trách, trong ngày Đức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, quang lâm” (1 Tx
5,23). Hội Thánh dạy rằng sự phân biệt này
không đem lại sự nhị phân trong linh hồn [X. CĐ Constantinôpôli IV (năm 870), canon 11].
Từ “tinh thần” muốn nói là con người, ngay từ khi
được tạo dựng, đã được quy hướng về
cùng đích siêu nhiên của mình [X.
CĐ Vaticanô I, Hiến chế tín lý Dei Filius, c. 2; CĐ Vat.
II, GS, 22], và linh hồn của con người có khả
năng được nâng lên cách nhưng không để hiệp thông với
Thiên Chúa [X. ĐGH Piô XII, Thông điệp
Humani generis (năm 1950)]. [Back]
0368
Truyền thống
linh đạo của Hội Thánh cũng nhấn mạnh đến
trái tim, mà theo ý nghĩa của Thánh Kinh, là nơi “thâm
sâu thân mật” (“trong đáy lòng”: Gr 31,33), đó là nơi con người quyết định theo hoặc không
theo Thiên Chúa [X. Đnl 6,5; 29,3; Is 29,13; Ed 36,26; Mt 6,21; Lc 8,15; Rm 5,5]. [Back]
Thiên Chúa đã tạo
dựng con người có nam có nữ.
Thiên Chúa muốn con người bình đẳng nhưng khác biệt
nhau.
Người nam và người nữ được tạo dựng,
nghĩa là họ hiện hữu do ý muốn của
Thiên Chúa: một đàng, họ hoàn toàn bình đẳng với
tư cách là những nhân vị; đàng khác, họ là nam và là nữ
theo cách hiện hữu riêng. “Là người nam”, “là người nữ”,
đều là thực tại tốt lành do ý muốn của
Thiên Chúa: người nam và người nữ có một phẩm giá
không thể mất được, do Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá,
trực tiếp ban cho họ [X. St
2,7.22]. Người nam và người nữ, với cùng một
phẩm giá, đều là “hình ảnh của Thiên Chúa”. “Là
người nam” hay “là người nữ”, họ đều phản
ánh sự khôn ngoan và lòng nhân hậu của Đấng Tạo
Hoá. [Back]
0370
Đừng diễn
tả Thiên Chúa theo hình ảnh loài người. Ngài không là
nam, cũng không là nữ. Thiên Chúa là thuần tuý thiêng
liêng, trong tính thiêng liêng đó không có chỗ cho sự phân biệt
phái tính. Nhưng “những nét hoàn hảo” của người nam và
người nữ phản ánh một chút nào đó sự trọn hảo
vô biên của Thiên Chúa: những hoàn hảo của người
mẹ [X.
Is 49,14-15; 66,13; Tv 131,2-3], của người cha và người chồng [X. Os 11,1-4; Gr 3,4-19] cũng vậy. [Back]
0371
Cho nhau - Tuy hai mà một
Người nam và người nữ, được tạo dựng đồng
thời, được Thiên Chúa muốn là người này phải
sống cho người kia. Lời Chúa muốn chúng ta hiểu
điều đó qua nhiều câu Thánh Kinh: “Con người ở một
mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ
tá tương xứng với nó” (St 2,18). Không một con vật nào có thể là “tương xứng” với
con người [X. St 2,19-20]. Thiên
Chúa lấy xương sườn người nam tạo thành người nữ
và dẫn đến cho người nam; vừa trông thấy người
nữ, người nam phải thốt lên một tiếng thán
phục, một lời reo mừng của tình yêu và của
sự hiệp thông: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi
thịt tôi” (St 2,23). Người
nam nhận ra người nữ như một “cái tôi” khác của
cùng bản tính nhân loại. [Back]
0372
Người nam,
và người nữ được tạo dựng “người này cho
người kia”: không phải Thiên Chúa đã tạo dựng họ
“chỉ có một nửa” và “không đầy đủ”; Thiên Chúa
đã tạo dựng họ để họ hiệp thông các
ngôi vị, trong đó mỗi người có thể thành “sự trợ
giúp” cho người kia, bởi vì một đàng, họ là những
nhân vị bình đẳng với nhau (“xương bởi xương tôi…”) và đàng khác, là người nam và là
người nữ, họ bổ túc cho nhau [X. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư
Mulieris dignitatem, 7].
Trong hôn nhân, Thiên Chúa đã kết hợp họ đến độ,
một khi nên “một xương một thịt” (St 2,24), họ có thể lưu truyền sự sống
con người: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều,
cho đầy mặt đất” (St 1,28). Người nam và người nữ, với tư cách là đôi vợ
chồng và cha mẹ, khi lưu truyền sự sống con người
cho dòng dõi mình, một cách độc đáo, cộng
tác vào công trình của Đấng Tạo Hoá [CĐ Vat. II, GS,
50]. [Back]
0373
Trong kế hoạch của Thiên Chúa, người
nam và người nữ có ơn gọi để làm chủ trái đất
[X. St 1,28] với tư cách là “những
người quản lý” của Thiên Chúa. Quyền làm chủ
này không được trở thành một sự thống trị độc
đoán và phá hoại. Vì là hình ảnh của Đấng
Tạo Hoá, “Đấng yêu thương mọi loài hiện hữu” (Kn 11,24), người nam và người nữ
được kêu gọi tham dự vào sự quan phòng của
Thiên Chúa đối với các thụ tạo khác. Do đó, họ có
trách nhiệm về trần gian mà Thiên Chúa đã giao phó cho
họ. [Back]
Con người
trong vườn địa đàng
Con người đầu tiên không những được tạo dựng
là tốt lành, mà còn được sống trong tình thân
nghĩa với Đấng Tạo Hóa của mình, trong sự
hài hòa với chính mình và với vạn vật
xung quanh. Tình thân nghĩa và sự hài hòa này chỉ
thua kém vinh quang của công trình tạo dựng mới
trong Đức Kitô. [Back]
0375
Hội Thánh,
khi giải thích một cách chính thống ngôn ngữ biểu
tượng của Thánh Kinh dưới ánh sáng của Tân Ước và
Truyền Thống, dạy rằng: nguyên tổ chúng ta, ông
Ađam và bà Evà, đã được tạo dựng trong tình trạng
thánh thiện và công chính nguyên thủy [X. CĐ Triđentinô, Sess. 5a,
Decretum de peccato originali, canon 1]. Ân sủng của sự thánh thiện nguyên thủy đó
là được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa [X. CĐ Vat. II, LG 2]. [Back]
0376
Mọi chiều kích của đời sống
con người được củng cố bằng sự rạng
ngời của ân sủng này. Bao lâu còn sống thân mật
với Thiên Chúa, con người sẽ không phải chết [X. St 2,17; 3,19], cũng không phải
đau khổ [X. St 3,16]. Sự hài
hòa nội tâm nơi mỗi nhân vị, sự hài hòa
giữa người nam và người nữ [X.
St 2,25], và cuối cùng là sự hài hòa giữa đôi vợ
chồng đầu tiên với toàn thể thụ tạo, tạo
nên tình trạng được gọi là “sự công chính nguyên
thủy”. [Back]
0377
“Quyền làm chủ” trần gian mà Thiên Chúa
đã ban cho con người ngay từ lúc đầu, được thực
hiện trước tiên nơi chính con người, là việc làm chủ
chính bản thân mình. Con người còn nguyên vẹn
và có trật tự trong chính bản thân, vì còn tự
do đối với ba thứ dục vọng [X. 1 Ga 2,16] khiến con người quy
phục các lạc thú của giác quan, sự ham mê của cải
trần thế và đề cao chính mình, đi ngược lại
những lệnh truyền của lý trí. [Back]
0378
Dấu chỉ của sự thân thiện của
con người với Thiên Chúa là việc Thiên Chúa đặt con người
trong vườn địa đàng [X. St 2,8].
Con người sống ở đó “để cày cấy và canh giữ
đất đai” (St 2,15): lao động
không phải là một hình khổ [X. St 3,17-19], nhưng là sự cộng tác của người
nam và người nữ với Thiên Chúa trong việc kiện
toàn công trình tạo dựng hữu hình. [Back]
0379
Toàn bộ sự hài hòa của tình
trạng công chính nguyên thủy này, mà kế hoạch của
Thiên Chúa nhắm dành cho con người, đã bị mất đi
vì tội của nguyên tổ chúng ta. [Back]
Tóm lược
“Lạy Cha, Cha đã dựng nên
con người giống hình ảnh Cha, và trao cho việc
trông coi vũ trụ, để khi phụng sự một
mình Cha là Đấng Tạo Hóa, con người cai quản mọi
loài thụ tạo” [Kinh nguyện Thánh Thể IV, 118: Sách Lễ
Rôma]. [Back]
0381
Con người được
tiền định để họa lại hình ảnh của
Con Thiên Chúa làm người – “Đấng là hình ảnh của
Thiên Chúa vô hình" (Cl 1,15) để Đức Kitô trở nên trưởng
tử giữa một đàn em đông đúc [X. Ep 1,3-6; Rm 8,29]. [Back]
0382
Con người là “một hữu thể có xác có hồn” [CĐ Vat. II, GS,
14]. Giáo lý đức tin xác quyết rằng linh hồn
thì thiêng liêng và bất tử, được Thiên Chúa tạo
dựng cách trực tiếp. [Back]
0383
“Thiên Chúa không tạo dựng con
người đơn độc: ngay từ đầu, ‘Ngài sáng tạo con
người có nam có nữ’ (St 1,27), sự chung
sống của họ đã tạo nên hình thức đầu
tiên của sự hiệp thông giữa các ngôi vị” [CĐ Vat. II, GS, 12]. [Back]
0384
Mạc khải cho chúng ta biết tình trạng
thánh thiện và công chính nguyên thuỷ của người nam và
người nữ trước khi phạm tội: do tình thân
nghĩa của họ với Thiên Chúa mà cuộc sống của
họ trong vườn địa đàng được hạnh phúc. [Back]
Sự sa
ngã
Thiên Chúa vô cùng tốt lành và mọi công trình của Ngài
đều tốt đẹp. Tuy nhiên, không ai thoát được kinh nghiệm
về đau khổ, về những sự dữ trong thiên
nhiên – những sự dữ coi như gắn liền với những
giới hạn riêng của các thụ tạo, và nhất là
vấn nạn về sự dữ luân lý. Sự dữ
từ đâu đến? Thánh Augustinô nói: “Tôi đã tìm xem sự
dữ từ đâu và không thấy câu giải đáp” [Thánh Augustinô,
Confessiones, 7, 7, 11], và
cuộc tìm kiếm đau thương riêng của thánh nhân chỉ
tìm được câu giải đáp lúc ngài hối cải trở
về với Thiên Chúa hằng sống. Bởi vì “mầu
nhiệm của sự gian ác” (2 Tx 2,7) chỉ được sáng tỏ dưới ánh sáng của mầu
nhiệm đạo thánh [X. 1 Tm 3,16]. Việc mạc khải tình yêu của Thiên Chúa trong
Đức Kitô đã biểu lộ tình trạng lan tràn của
sự dữ và đồng thời sự đầy tràn chan chứa
của ân sủng [X. Rm 5,20]. Vì vậy chúng ta phải xem xét vấn nạn về
nguồn gốc của sự dữ với cái nhìn đức
tin hướng về Đấng duy nhất đã chiến thắng
sự dữ [X. Lc 11,21-22; Ga 16,11; 1 Ga 3,8]. [Back]
0386
Ở đâu tội lỗi đã
lan tràn, ở đó ân sủng càng
chứa chan
gấp bội.
Thực tại của tội lỗi
Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài
người: Thật là vô ích khi tìm cách làm ngơ hoặc gán những
cái tên khác cho thực tại tăm tối đó. Muốn hiểu tội
là gì, trước hết phải nhận biết mối
liên hệ thâm sâu của con người với Thiên Chúa, bởi
vì ngoài mối tương quan đó, chúng ta không thể khám phá ra
ác tính của tội lỗi trong căn tính đích thực của
nó, là chối bỏ và chống đối Thiên Chúa, cho dù tội
lỗi vẫn đè nặng trên đời sống con người và
trên lịch sử. [Back]
0387
Thực tại của tội lỗi, và cách
riêng của tội tổ tông, chỉ được làm sáng tỏ
dưới ánh sáng của mạc khải Thiên Chúa. Không nhận
biết điều mạc khải đem lại cho chúng ta về
Thiên Chúa, chúng ta không thể biết rõ tội lỗi
là gì, và bị cám dỗ muốn giải thích tội lỗi
như một khiếm khuyết trong quá trình tăng trưởng,
như một yếu kém về tâm lý, một sai lầm, một
hậu quả tất yếu của một cơ cấu
xã hội thoái hoá, v.v… Chỉ khi nào nhận biết được
kế hoạch của Thiên Chúa về con người, người
ta mới hiểu rằng tội lỗi là lạm dụng
sự tự do, vốn được Thiên Chúa ban cho các ngôi vị
được tạo dựng để họ có thể yêu mến
Ngài và yêu mến nhau. [Back]
0388
Tội tổ tông - một chân lý căn bản của
đức tin
Thực
tại của tội lỗi cũng được làm sáng tỏ
cùng với sự tiến triển của mạc khải.
Mặc dầu dân Thiên Chúa thời Cựu Ước đã biết
đến thân phận đau thương của con người dưới ánh
sáng của việc sa ngã được thuật lại trong
sách Sáng Thế, họ vẫn không thể nắm bắt được
ý nghĩa tối hậu của việc sa ngã đó,
ý nghĩa tối hậu này chỉ được biểu lộ
dưới ánh sáng của cái Chết và sự Sống lại của
Chúa Giêsu Kitô [X. Rm 5,12-21]. Cần phải nhận biết Đức
Kitô là nguồn mạch của ân sủng, thì mới nhận
ra ông Ađam là nguồn gốc của tội lỗi. Thần
Khí bào chữa, do Đức Kitô phục sinh sai đến, đã
đến tố cáo “thế gian sai lầm về tội lỗi”
(Ga 16,8), khi Ngài mạc khải Đức Kitô là Đấng cứu chuộc
trần gian. [Back]
0389
Giáo lý về tội tổ tông, có thể
nói được, là “mặt trái” của Tin Mừng này: Chúa Giêsu là
Đấng Cứu Độ của tất cả mọi người,
mọi người đều cần ơn cứu độ, và ơn cứu
độ được ban cho mọi người nhờ Đức Kitô. Hội
Thánh, người có cảm thức về Đức Kitô [X. 1 Cr 2,16], biết rằng không thể
công kích mạc khải về tội tổ tông mà không xúc phạm
đến mầu nhiệm Đức Kitô. [Back]
0390
Để hiểu
trình thuật về sự sa ngã
Trình thuật
về sự sa ngã (St 3)
sử dụng kiểu nói hình tượng, nhưng xác quyết
một sự kiện thuở đầu, đã xảy ra vào
lúc khởi đầu lịch sử nhân loại [CĐ Vat. II, GS 13]. Mạc khải cho chúng ta sự
chắc chắn của đức tin rằng toàn bộ lịch
sử nhân loại đều mang dấu tích của tội tổ
tông, do nguyên tổ chúng ta đã phạm một cách tự
do [CĐ
Triđentinô, Sess. 5a, Decretum de peccato originali, canon 3; ĐGH Piô XII,
Humani generis; ĐGH Phaolô VI, Diễn văn (ngày 11/7/1966)]. [Back]
Sự sa
ngã của các Thiên Thần
Đàng sau sự lựa chọn bất tuân của nguyên tổ
chúng ta, có một tiếng nói dụ dỗ, chống lại
Thiên Chúa [X.
St 3,1-5], đã
vì ghen tương mà làm cho nguyên tổ sa vào cõi chết [X. Kn 2,24]. Thánh Kinh và Truyền thống của
Hội Thánh coi hữu thể này là một thiên thần sa
ngã, gọi là Satan hay ma quỷ [X. Ga 8,44; Kh 12,9]. Hội Thánh dạy rằng thoạt
đầu đó là một Thiên thần tốt lành do Thiên Chúa tạo
dựng. “Chắc chắn ma quỷ và các thần dữ khác
được Thiên Chúa tạo dựng đều tốt lành theo bản
tính, nhưng chính chúng đã làm cho mình nên ác xấu” [CĐ Latêranô IV (năm
1215), Cap. 1, De fide catholica]. [Back]
0392
Thánh Kinh có nói đến tội của các
thiên thần này [X. 2 Pr 2,4]. Sự
“sa ngã” đó cốt tại một lựa chọn tự
do của các thụ tạo thiêng liêng này, họ chối bỏ
Thiên Chúa và Nước của Ngài một cách triệt để và
không thể thay đổi. Chúng ta thấy được sự phản
ánh của cuộc nổi loạn này trong những lời
Tên Cám Dỗ nói với các nguyên tổ chúng ta: “Các người sẽ
trở nên như Thiên Chúa” (St 3,5).
“Ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu” (1 Ga 3,8); “nó là kẻ nói dối và là
cha sự gian dối” (Ga 8,44). [Back]
0393
Tính cách không thể thay đổi của sự
lựa chọn của các thiên thần, chứ không phải
vì thiếu lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, làm
cho tội của chúng không thể được tha thứ. “Quả
vậy, sau khi sa ngã, chính chúng không chút thống hối,
cũng như con người sau khi chết” [Thánh
Gioan Đamasênô, Expositio fidei 18 [De fide orthodoxa 2,4]]. [Back]
0394
Thánh Kinh chứng tỏ ảnh hưởng tai hại
của kẻ mà Chúa Giêsu gọi là “tên sát nhân … ngay từ đầu”
(Ga 8,44), nó cũng đã ra sức
làm cho Chúa Giêsu đi trệch ra khỏi sứ vụ Người
đã lãnh nhận nơi Chúa Cha [X.
Mt 4,1-11]. “Con Thiên Chúa xuất hiện, là để phá hủy
công việc của ma quỷ” (1 Ga
3,8). Trong các hậu quả của các việc làm của
ma quỷ, nghiêm trọng nhất là sự quyến rũ dối
trá dẫn đưa con người đến chỗ bất tuân Thiên
Chúa. [Back]
0395
Tuy nhiên, quyền năng của Satan không phải là vô hạn. Nó chỉ là một thụ tạo, có quyền năng vì là thuần tuý thiêng liêng, nhưng vẫn luôn luôn là thụ tạo: nó không thể ngăn chặn công trình xây dựng Nước Thiên Chúa. Mặc dầu Satan hoạt động trong trần gian do thù hận chống lại Thiên Chúa và Nước Ngài trong Chúa Giêsu Kitô, và mặc dầu hoạt động của nó gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho mỗi người và cho xã hội
– trong lãnh vực tinh thần và một cách gián tiếp cả trong lãnh vực vật chất
– hoạt động ấy được cho phép bởi
Chúa quan phòng, Đấng điều khiển lịch sử của
loài người và của trần gian cách mạnh mẽ và dịu
dàng. Việc Thiên Chúa cho phép ma quỷ hoạt động quả
là một mầu nhiệm lớn lao, nhưng “chúng ta biết rằng:
Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những
ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28). [Back]
Tội Tổ
Tông - Thử thách
sự tự do.
Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh
Ngài và cho họ sống trong tình bằng hữu với
Ngài. Là một thụ tạo tinh thần, con người chỉ
có thể sống trong tình bằng hữu đó bằng
cách tự do suy phục Thiên Chúa. Điều đó được diễn
tả trong lệnh cấm con người không được ăn trái của
cây cho biết điều thiện, điều ác, “vì ngày nào
ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,17). “Cây cho biết điều thiện
điều ác” (St 2,17) là một biểu
tượng diễn tả ranh giới không thể vượt qua
mà con người, trong tư cách là thụ tạo, phải
nhìn nhận một cách tự do và tôn trọng một
cách tin tưởng. Con người lệ thuộc Đấng Tạo
Hoá; nó phải quy phục các định luật của công
trình tạo dựng và các quy tắc luân lý quy định
việc sử dụng sự tự do. [Back]
0397
Tội đầu
tiên của con người
Con người, bị
ma quỷ cám dỗ, đã dập tắt trong trái tim
mình lòng tin tưởng đối với Đấng Tạo
Hoá của mình [X. St 3,1-11], và lạm dụng sự tự do của mình,
đã bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Đó
là tội đầu tiên của con người [X. Rm 5,19]. Mọi tội lỗi sau đó đều
là bất tuân Thiên Chúa và thiếu tin tưởng vào lòng
nhân hậu của Ngài. [Back]
0398
Trong tội
này, con người đã chọn mình hơn Thiên Chúa và
qua đó đã khinh thường Thiên Chúa: con người đã chọn
chính bản thân chống lại Thiên Chúa, chống lại những
đòi buộc của thân phận thụ tạo của
mình, và do đó chống lại cả lợi ích riêng của
mình. Con người, được tạo dựng trong tình
trạng thánh thiện, được Thiên Chúa nhắm cho nó được
“thần hóa” trọn vẹn trong vinh quang. Do ma quỷ cám dỗ,
con người đã muốn trở nên “như Thiên Chúa” [St 3,5] mà “không cần Thiên Chúa, vượt
qua Thiên Chúa, và không theo Thiên Chúa” [Thánh Maximô Hiển tu,
Ambiguorum liber]. [Back]
0399
Thánh Kinh cho thấy những hậu quả bi
đát của sự bất tuân đầu tiên đó. Ông Ađam và bà Evà đã
lập tức đánh mất sự thánh thiện nguyên thủy
[X. Rm 3,23]. Họ đâm ra sợ
hãi Thiên Chúa [X. St 3,9-10],
vì họ đã tạo ra một hình ảnh sai lầm
về Ngài, hình ảnh của một vị Thần
ham hố các đặc quyền của mình [X. St 3,5]. [Back]
0400
Sự hài hoà
mà tổ tông đang hưởng nhờ sự công chính nguyên thuỷ,
đã bị phá hủy; quyền điều khiển của
các khả năng tinh thần của linh hồn trên thể xác
đã bị đập tan [X. St 3,7]; sự kết hợp của người nam và người nữ
trở nên căng thẳng [X. St 3,11-13]; những liên hệ giữa họ bị đánh dấu bằng
ham muốn và thống trị [X. St 3,16]. Sự hài hòa với công
trình tạo dựng bị phá vỡ: thế giới hữu
hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người
[X. St
3,17.19]. Vì con người,
muôn loài đã phải lệ thuộc vào cảnh hư nát [X. Rm 8,20]. Cuối cùng, hậu quả
đã được báo trước cách minh nhiên đối với tội
bất tuân [X. St 2,17], nay thành
hiện thực: con người từ tro bụi sẽ trở
về bụi tro [X. St 3,19]. Sự
chết đã xâm nhập vào lịch sử nhân loại
[X. Rm
5,l2]. [Back]
0401
Sau tội đầu tiên này, một “cuộc xâm
lăng” thật sự của tội lỗi tràn ngập trần
gian: Cain giết em là Abel [X. St 4,3-15],
sự sa đoạ lan rộng khắp nơi như là hậu quả
của tội lỗi [X. St 6,5.12; Rm
1,18-32]; trong lịch sử Israel, tội lỗi cũng
thường được biểu lộ một cách đặc biệt
như sự bất trung đối với Thiên Chúa của Giao Ước
và như sự vi phạm luật Môisen. Ngay cả sau việc Cứu
Chuộc của Đức Kitô, giữa các Kitô hữu, tội
lỗi còn xuất hiện bằng nhiều cách khác
nhau [X. 1 Cr 1-6; Kh 2-3]. Thánh Kinh và
Truyền Thống Hội Thánh không ngừng nhắc đến
sự hiện diện và tính phổ quát của tội lỗi
trong lịch sử loài người: “Những điều mạc
khải cho biết, kinh nghiệm riêng của chúng ta cũng
xác nhận. Khi nhìn vào trong lòng, con người thấy
mình bị lôi kéo về những điều sai trái, và ngụp
lặn trong muôn vàn sự dữ, vốn là những điều
không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa tốt
lành. Khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguồn
gốc của mình, con người cũng đã phá đổ
sự quy hướng cần thiết về cùng đích tối hậu,
đồng thời phá vỡ toàn bộ sự hòa hợp
của mình đối với chính bản thân, đối với
những người khác và đối với mọi loài thụ tạo”
[CĐ Vat. II, GS 13]. [Back]
0402
Hậu quả
của tội Ađam trên nhân loại
Mọi người đều
bị liên lụy với tội Ađam. Thánh Phaolô khẳng định:
“Vì một người duy nhất đã không vâng lời
Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân” (Rm 5,19), muôn người ở đây có nghĩa là mọi
người: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi
đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự
chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi
người, bởi vì mọi người đã phạm tội”
(Rm 5,12). Đối lại tính phổ quát của
tội lỗi và sự chết, thánh Tông Đồ nêu lên tính phổ
quát của ơn cứu độ trong Đức Kitô: “Cũng như
vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi
người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một
người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính,
mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính,
nghĩa là được sống” (Rm 5,18). [Back]
0403
Noi theo thánh Phaolô, Hội Thánh luôn dạy rằng
tình trạng cùng khốn đang đè nặng lên con người,
cũng như việc họ hướng chiều về sự dữ
và về sự chết là những điều không thể hiểu
được, nếu không xét đến mối liên hệ của
chúng với tội Ađam và với việc ông đã truyền
lại cho chúng ta một tội mà mọi người chúng ta phải
mang lấy từ khi sinh ra, và tội này là “cái chết của
linh hồn” [X. CĐ Triđentinô, Sess. 5a,
Decretum de peccato originali, canon 2]. Dựa trên sự chắc
chắn này của đức tin, Hội Thánh ban phép Rửa Tội
để tha tội cho cả những trẻ em chưa từng phạm
tội riêng [X. CĐ Triđentinô, Sess. 5a,
Decretum de peccato originali, canon 4]. [Back]
0404
Tội Ađam đã trở nên tội của tất
cả dòng dõi của ông như thế nào? Toàn thể
nhân loại đều ở trong Ađam “như một thân thể duy
nhất của một con người duy nhất” [Thánh Tôma Aquinô, Quaestiones disputatae de malo, 4,
1, c.]. Do “tính thống nhất” này của nhân loại,
mọi người đều bị liên lụy với tội
Ađam, cũng như mọi người đều được thông phần
vào sự công chính của Đức Kitô. Dẫu sao, việc lưu
truyền tội tổ tông là một mầu nhiệm mà
chúng ta không thể hiểu cách đầy đủ. Nhưng nhờ mạc
khải, chúng ta biết ông Ađam đã nhận được sự
thánh thiện và công chính nguyên thuỷ không phải chỉ
cho riêng ông, nhưng cho toàn thể bản tính nhân loại: Khi
nghe theo Tên Cám Dỗ, ông Ađam và bà Evà đã phạm một
tội cá nhân, nhưng tội đó ảnh
hưởng đến bản tính nhân loại, một bản
tính mà họ sẽ lưu truyền trong
tình trạng đã sa ngã [X. CĐ Triđentinô, Sess. 5a, Decretum de peccato
originali, canones 1-2]. Đó là một tội được lưu truyền
cho toàn thể nhân loại qua việc sinh sản, nghĩa là
qua việc lưu truyền một bản tính nhân loại
đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ.
Do đó, tội tổ tông được gọi là “tội” theo nghĩa
loại suy: đó là một thứ tội con người bị
“nhiễm” chứ không phải đã “phạm”; một
tình trạng, chứ không phải một hành vi. [Back]
0405
Tội tổ tông, mặc dầu truyền đến
mỗi người [X. CĐ Triđentinô, Sess.
5a, Decretum de peccato originali, canon 3], nhưng không hề mang
tính cách một tội của bản thân nơi bất kỳ ai
trong con cháu ông Ađam. Không còn sự thánh thiện và sự
công chính nguyên thuỷ, nhưng bản tính nhân loại không hoàn
toàn bị huỷ hoại: bản tính nhân loại bị
thương tật trong các sức lực tự nhiên riêng của
mình, u mê dốt nát, phải chịu đau khổ, bị
sự chết thống trị, và hướng chiều về
tội lỗi (sự hướng chiều
về điều xấu được gọi là dục vọng:
concupiscentia). Bí tích Rửa Tội, khi ban cho con người
đời sống ân sủng của Chúa Kitô, xóa bỏ tội
tổ tông và đưa con người trở về cùng Thiên Chúa, nhưng
những hậu quả của tội tổ tông trên bản
tính, đã bị suy yếu và hướng chiều về điều
xấu, vẫn tồn tại nơi con người và kêu gọi
con người vào cuộc chiến đấu thiêng liêng. [Back]
0406
Giáo lý của Hội Thánh về sự
lưu truyền tội tổ tông đã được xác định
cách đặc biệt vào thế kỷ V, chủ yếu là dưới
ảnh hưởng sự quan tâm của thánh Augustinô chống lại
chủ thuyết của ông Pêlagiô, và vào thế kỷ XVI, chống
lại cuộc Cải Cách của những người thệ
phản. Ông Pêlagiô chủ trương rằng, bằng sức mạnh
tự nhiên của ý chí tự do, không cần sự trợ
giúp của ân sủng, con người vẫn có thể sống
tốt lành về mặt luân lý; như vậy, ông này giản
lược ảnh hưởng của tội Ađam thành ảnh hưởng
của một gương xấu. Trái lại, những nhà Cải
Cách thệ phản đầu tiên chủ trương rằng, vì
tội tổ tông, con người đã bị hư hỏng hoàn
toàn và con người không còn sự tự do; họ đồng
hóa tội mà mỗi người lãnh nhận do lưu truyền
với sự nghiêng chiều về sự dữ (dục
vọng), một sự nghiêng chiều không thể cưỡng
lại được. Hội Thánh đã tuyên bố về
ý nghĩa của mạc khải liên quan đến tội
tổ tông, đặc biệt tại Công đồng Arausicanô II năm
529 [CĐ Arausicanô II, Canones 1-2], và tại
Công đồng Triđentinô năm 1546 [CĐ
Triđentinô, Sess. 5a, Decretum de peccato originali]. [Back]
0407
Một cuộc
chiến cam go
Giáo lý về tội
tổ tông, gắn liền với giáo lý về ơn Cứu
chuộc nhờ Đức Kitô, mang lại cho ta một cái
nhìn để phân định sáng suốt về tình trạng
của con người và hành động của họ ở trần
gian. Vì tội tổ tông, ma quỷ đã có được một
quyền thống trị nào đó trên con người, mặc dầu
con người vẫn còn tự do. Tội tổ tông khiến
con người “bị cầm giữ dưới quyền của
kẻ nắm quyền thống trị của sự chết,
tức là ma quỷ” [CĐ Triđentinô, Sess. 5a, Decretum de peccato originali,
canon 1]. Nếu không biết
rằng bản tính nhân loại đã bị tổn thương,
bị nghiêng chiều về sự dữ, người ta có thể
mắc những sai lầm nghiêm trọng trong các lãnh vực
giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội [X. ĐGH Gioan Phaolô II,
Thông điệp Centesimus annus, 25] và luân lý. [Back]
0408
Các hậu quả của tội tổ tông và
của tất cả các tội cá nhân của con người
đã đưa trần gian, trong tổng thể của nó, vào một
tình trạng tội lỗi mà thánh Gioan đã gọi
bằng kiểu nói: “tội trần gian” (Ga 1,29). Kiểu nói này cũng được dùng để
nêu lên ảnh hưởng tiêu cực mà các thoả thuận tập
thể và các cơ cấu xã hội, là hoa trái của tội
lỗi con người, áp đặt lên các nhân vị [X. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn Reconciliatio
et paenitentia, 16]. [Back]
0409
Hoàn cảnh bi đát như vậy của trần gian, đang “nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1 Ga 5,19) [X. 1 Pr 5,8] làm cho đời sống con người trở thành một cuộc chiến đấu:
“Toàn bộ lịch sử của nhân loại là lịch sử của cuộc chiến cam go chống lại quyền lực của sự dữ, khởi đầu ngay từ lúc bình minh của lịch sử và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như lời Chúa phán. Nằm giữa cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với điều thiện hảo và chỉ sau khi hết sức cố gắng và với sự trợ giúp của ơn Chúa, con người mới đạt được sự thống nhất nội tâm” [CĐ Vat. II, GS 37]. [Back]
Cha đã
không bỏ mặc con người dưới quyền lực sự
chết
Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi.
Trái lại, Thiên Chúa gọi con người [X. St 3,9] và, một cách bí nhiệm, loan báo cho
con người cuộc chiến thắng trên sự dữ và việc
nâng con người sa ngã dậy [X. St 3,15]. Đoạn này trong sách Sáng Thế
được gọi là “Tiền Tin Mừng” bởi vì đó là lời
loan báo đầu tiên về Đấng Messia Cứu Chuộc, về
cuộc chiến đấu giữa con rắn và Người Nữ,
và về chiến thắng chung cuộc của một hậu
duệ Người Nữ này. [Back]
0411
Truyền thống Kitô giáo nhận ra trong đoạn
này lời tiên báo một vị “Ađam mới” [X. 1 Cr 15,21-22.45], Đấng đã lấy
sự “vâng lời cho đến chết… trên thập giá” (Pl 2,8) của mình, mà sửa lại
một cách đầy tràn chan chứa tội bất tuân của
ông Ađam [X. Rm 5,19-20]. Đàng khác, nơi
Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng, nhiều
Giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức
Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một bà “Evà mới”. Đức
Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc
nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng
của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ
khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông [X. ĐGH Piô IX, Tông sắc Ineffabilis Deus]
và trong suốt cuộc đời trần thế của
mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa,
Bà đã không hề phạm một tội nào [X. CĐ Triđentinô, Sess. 6a, Decretum de
iustificatione, canon 23]. [Back]
0412
Nhưng tại sao Thiên Chúa không ngăn cản con
người đầu tiên phạm tội? Thánh Lêô Cả trả
lời: “Điều chúng ta nhận được nhờ ân sủng
khôn tả của Đức Kitô cao cả hơn điều chúng ta bị
mất vì sự ghen tương của ma quỷ” [Thánh Lêô Cả, Sermo 73, 4]. Và thánh
Tôma Aquinô nói: “Không có gì ngăn cản bản tính loài người,
sau tội lỗi, lại được nâng lên một mức cao
hơn: thật vậy, Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra để
từ đó Ngài rút ra một điều thiện hảo hơn. Do đó,
thánh Phaolô đã nói trong Rm 5,20: ‘Ở đâu tội lỗi
đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội’;
và do đó, trong bài Công bố Tin Mừng Phục Sinh có câu: ‘Ôi tội
hồng phúc (felix culpa), nhờ có tội, ta mới có được
Đấng Cứu Chuộc cao cả dường này!’” [Thánh Tôma Aquinô, Summa theologiae, III, q. 1, a. 3,
ad 3; lời này của thánh Tôma trưng dẫn câu trong bài Công bố
Tin mừng Phục sinh “Exsultet”.]. [Back]
Tóm lược
“Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui
gì khi sinh mạng tiêu vong…. Nhưng chính vì quỷ dữ
ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian” (Kn 1,13; 2,24). [Back]
0414
Satan hoặc ma
quỷ và các ác thần khác là những thiên thần sa
ngã bởi vì chúng đã tự do khước từ
phục vụ Thiên Chúa và kế hoạch của Ngài. Lựa
chọn của chúng là một lựa chọn dứt khoát chống
lại Thiên Chúa. Chúng ra sức lôi kéo con người vào cuộc
nổi loạn của chúng chống lại Thiên Chúa. [Back]
0415
“Được Thiên Chúa dựng nên trong tình trạng
công chính, nhưng con người, bị ma quỷ dụ dỗ,
ngay từ khởi đầu lịch sử, đã lạm dụng
sự tự do của mình, nâng mình lên chống lại
Thiên Chúa và muốn đạt tới cứu cánh của
mình ngoài Thiên Chúa” [CĐ Vat. II, GS
13]. [Back]
0416
Ông Ađam, với tư cách là con người đầu tiên,
vì tội của mình, đã đánh mất sự
thánh thiện và công chính nguyên thủy mà ông đã lãnh
nhận từ Thiên Chúa, không phải cho riêng mình ông
nhưng cho tất cả mọi người. [Back]
0417
Vì tội
đầu tiên của họ, ông Ađam và bà Evà đã lưu truyền
cho hậu duệ một bản tính nhân loại đã bị
thương tật, nên đã mất đi sự thánh thiện và sự
công chính nguyên thủy. Sự mất mát đó được gọi là
“tội tổ tông”. [Back]
0418
Hậu quả
của tội tổ tông là bản tính nhân loại bị
suy yếu trong các sức lực tự nhiên của
mình, u mê dốt nát, phải đau khổ, bị sự chết
thống trị và hướng chiều về tội lỗi (sự hướng chiều
này được gọi là “dục vọng”). [Back]
0419
“Cùng với Công đồng Triđentinô, chúng tôi xác
quyết rằng tội tổ tông được lưu truyền lại
cùng với bản tính loài người, ‘không phải do bắt
chước, nhưng qua truyền sinh’ và tội ấy ‘thuộc về
riêng mỗi người’” [ĐGH Phaolô VI,
Sollemnis Professio fidei, 16]. [Back]
0420
Chiến thắng
của Đức Kitô trên tội lỗi đã ban cho chúng ta những
điều thiện hảo cao quý hơn những gì tội
lỗi đã lấy mất của chúng ta: “Ở đâu tội
lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp
bội” (Rm 5,20). [Back]
0421
“Các Kitô hữu tin rằng trần
gian này đã được dựng nên và bảo tồn bởi
tình yêu của Đấng Tạo Hoá, quả thật nó
đã rơi vào ách nô lệ tội lỗi, nhưng đã được
giải thoát bởi Đức Kitô, Đấng chịu đóng đinh và
phục sinh để đập tan quyền lực của Ác thần”
[CĐ Vat. II, GS 2]. [Back]
Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa.
Tin Mừng: Thiên Chúa đã sai Con mình tới
“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ và sống dưới Lề luật, để chuộc những ai sống dưới Lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4,4-5). Đây là Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa [X. Mc 1,1]: Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài [X. Lc 1,68]. Ngài đã thực hiện những lời hứa với tổ phụ Abraham và con cháu ông [X. Lc l,55]. Ngài đã thực hiện vượt quá mọi điều chúng ta mong ước: Ngài đã sai Con yêu dấu của Ngài tới [X. Mc l,11]. [Back]
0423
Chúng tôi tin và chúng tôi tuyên xưng rằng: Chúa Giêsu
Nazareth, một người Do thái sinh bởi một phụ nữ
Israel tại Bêlem dưới thời vua Hêrôđê Cả và hoàng đế
Cêsarê Augustô I, vốn làm nghề thợ mộc, đã chịu
chết trên thập giá tại Giêrusalem, thời tổng trấn
Phongtiô Philatô dưới triều hoàng đế Tibêriô, Chúa Giêsu ấy
là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, đã làm người,
“Người bởi Thiên Chúa mà đến” (Ga
13,3), là “Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13; 6,33), Đấng đã đến
trong xác phàm [X. l Ga 4,2], bởi
vì “Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ
giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh
quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con
Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Từ nguồn
sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã
lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,14.16). [Back]
0424
Được tác động bởi ân sủng Chúa Thánh
Thần và được Chúa Cha lôi kéo, chúng tôi tin và tuyên xưng về
Chúa Giêsu rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng
sống” (Mt 16,16). Trên tảng
đá đức tin, mà ông Phêrô đã tuyên xưng, Đức Kitô đã
xây dựng Hội Thánh của Người. [X. Mt 16,18; Thánh Lêô Cả, Sermo 4, 3; Sermo 51,1; Sermo 62, 2;
Sermo 83, 3]. [Back]
0425
Loan báo Tin Mừng về sự phong phú khôn lường của Đức Kitô” (Ep 3,8)
Lưu truyền đức tin Kitô giáo, trước tiên là loan báo Chúa Giêsu Kitô, để dẫn đưa người ta đến chỗ tin vào Người. Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Đức Kitô: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Các ông đã kêu mời con người trong mọi thời đại vào hưởng niềm vui hiệp thông với Đức Kitô: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời Sự Sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô, Con của Ngài. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1 Ga 1,1-4). [Back]
0426
Trọng tâm của việc dạy giáo lý: Đức Kitô
“Phải xác quyết ngay rằng, ở trung tâm của việc dạy giáo lý, chủ yếu chúng ta gặp một nhân vật: đó là Chúa Giêsu Kitô Nazareth, ‘Con Một của Chúa Cha’…. Người đã chịu khổ hình và đã chịu chết vì chúng ta; và Người, từ khi sống lại, luôn luôn sống với chúng ta…. Dạy giáo lý là giúp người ta nhận ra toàn bộ kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa trong con người Đức Kitô; là tìm hiểu ý nghĩa các hành động và lời nói của Đức Kitô, và các dấu lạ Người đã thực hiện” [ĐGH GP II, Catechesi tradendae, 5]. Mục đích của việc dạy giáo lý là “dẫn đưa con người đến hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô; chỉ một mình Người mới có thể dẫn người ta đến tình yêu của Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và đến chỗ được thông phần vào sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh” [ĐGH GP II, Catechesi tradendae, 5]. [Back]
0427
“Trong việc dạy giáo lý, phải giảng
dạy Đức Kitô, là Ngôi Lời nhập thể và là Con
Thiên Chúa, những điều khác phải được quy chiếu về
Người; chỉ một mình Đức Kitô giảng dạy,
còn bất cứ ai khác giảng dạy đều phải
là phát ngôn viên của Người, phải để Đức Kitô nói
qua miệng lưỡi họ…. Mọi giáo lý viên đều
phải có thể áp dụng cho mình lời nói huyền
nhiệm này của Chúa Giêsu: ‘Đạo lý tôi dạy không
phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi’” (Ga 7,16) [ĐGH GP II, Catechesi tradendae, 6]. [Back]
0428
Ai được kêu gọi rao giảng Tin Mừng Đức
Kitô, trước hết phải tìm “mối lợi tuyệt
vời là được biết Đức Kitô”; người ấy phải
“đành mất hết”, “để được Đức Kitô và được kết
hợp với Người”, và để “biết Người quyền
năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông
phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng
hình đồng dạng với Người trong cái chết của
Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại
từ trong cõi chết” (Pl
3,8-11). [Back]
0429
Từ việc nhận biết Đức Kitô với
tâm tình yêu mến, sẽ nảy sinh ước ao loan báo
Người, ước ao “rao giảng Tin Mừng” về Người,
và ước ao dẫn đưa người khác đến chỗ “chấp
nhận” đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nhưng đồng thời, người
ta cũng cảm thấy nhu cầu phải luôn hiểu biết
đức tin ấy một cách tốt hơn. Nhằm mục đích
đó, theo thứ tự của Tín biểu, trước hết các
tước hiệu chính của Chúa Giêsu sẽ được
trình bày: Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Chúa (Mục 2). Tiếp đó Tín biểu tuyên xưng các mầu
nhiệm chính yếu của cuộc đời Đức Kitô: các
mầu nhiệm về việc Nhập Thể của Người
(Mục 3), các mầu nhiệm
về cuộc Vượt Qua của Người (Mục 4 và 5) và sau cùng các mầu
nhiệm về sự Tôn Vinh Người (Mục
6 và 7). [Back]
0430
Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô, là Con một Đức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi
Chúa Giêsu
Trong tiếng Do thái, “Giêsu” có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Khi Truyền tin, thiên thần Gabriel dạy đặt tên cho Người là Giêsu; tên gọi này vừa diễn tả căn tính của Người, vừa diễn tả sứ vụ của Người [X. Lc 1,31]. Bởi vì không ai “có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa” (Mc 2,7), cho nên, trong Chúa Giêsu là Con vĩnh cửu của Ngài, đã làm người, chính Thiên Chúa “sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Như vậy, nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa tóm kết toàn bộ lịch sử cứu độ của Ngài cho nhân loại. [Back]
0431
Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa
không chỉ bằng lòng với việc giải thoát
Israel khỏi “cảnh nô lệ” (Đnl
5,6) khi đưa họ ra khỏi Ai cập. Ngài còn cứu
họ khỏi tội lỗi của họ nữa. Bởi
vì tội luôn là một xúc phạm đến Thiên Chúa [X.Tv 51,6], nên chỉ mình Ngài mới
có quyền tha tội [X.Tv 51,11].
Vì vậy, khi Israel càng ý thức rõ hơn về
tính phổ quát của tội lỗi, họ càng không thể
tìm kiếm ơn cứu độ ngoài việc khẩn cầu
danh Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc [X.
Tv 79,9]. [Back]
0432
Danh “Giêsu” nói lên rằng chính Danh Thánh Thiên Chúa
hiện diện nơi bản thân của Con Ngài [X. Cv 5,41; 3 Ga 7], Đấng đã làm
người để cứu chuộc mọi người khỏi tội
lỗi một cách dứt khoát. “Giêsu” là một Danh thần
linh, Danh duy nhất mang lại ơn cứu độ [X. Ga 3,18; Cv 2,21], và từ nay mọi
người có thể kêu cầu Danh của Người, bởi
vì qua việc Nhập Thể, chính Người đã tự
kết hợp với tất cả mọi người [X. Rm 10,6-13] đến độ “dưới
gầm trời này, không có một danh nào khác đã được
ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà
được cứu độ” (Cv 4,12) [X. Cv
9,14; Gc 2,7]. [Back]
0433
Thánh danh Thiên Chúa Cứu Độ được vị
thượng tế kêu cầu mỗi năm một lần để
xin ơn xá tội cho Israel, khi ông lấy máu của hy lễ rảy
lên bàn xá tội trong nơi Cực Thánh [X.
Lv 16,15-16; Gv 50,22; Dt 9,7]. Bàn xá tội xưa là nơi Thiên Chúa
hiện diện [X. Xh 25,22; Lv 16,2; Ds
7,89; Dt 9,5]. Khi thánh Phaolô nói về Chúa Giêsu: “Thiên Chúa
đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của
Người” (Rm 3,25), ông muốn
nói rằng trong bản tính nhân loại của Chúa Giêsu,
“Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với
Ngài” (2 Cr 5,19). [Back]
0434
Việc phục sinh của Chúa Giêsu làm hiển
vinh thánh danh Thiên Chúa Cứu Độ [X.
Ga 12,28], bởi vì từ lúc đó Danh Giêsu bày tỏ
cách trọn vẹn quyền năng tối thượng của
“Danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2,9-10). Các Thần dữ khiếp
sợ Danh Người [X. Cv 16,16-18;
19,13-16], và nhân Danh Người, các môn đệ Chúa Giêsu làm nhiều
phép lạ [X. Mc 16,17], bởi
vì tất cả những gì họ xin Chúa Cha nhân
danh Chúa Giêsu, Chúa Cha đều ban cho họ [X. Ga 15,16]. [Back]
0435
Danh Chúa Giêsu nằm
ở trung tâm của kinh nguyện Kitô giáo. Tất cả các
lời nguyện trong phụng vụ đều kết thúc bằng
công thức: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”. Tột đỉnh
của Kinh Kính Mừng Maria là câu “và Giêsu, con lòng Bà gồm
phúc lạ”. Lời tâm nguyện của Giáo Hội Đông
phương, gọi là “Lời khẩn nguyện Chúa Giêsu” (oratio
Iesu) thưa lên rằng: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin
thương xót con là kẻ có tội”. Nhiều Kitô hữu đã
chết khi miệng chỉ kêu danh thánh “Giêsu”, như thánh nữ
Jeanne d’Arc [X. La réhabilitation de Jeanne la Pucelle. L’enquête ordonnée par Charles VII en 1450 et le codicille de Guillaume
Bouillé]. [Back]
Đức Kitô
Danh hiệu “Kitô” là một từ Hy Lạp, dịch từ “Messia” của tiếng Do thái, có nghĩa là “người được xức dầu”. Danh hiệu này trở thành tên riêng của Chúa Giêsu bởi vì Người đã chu toàn cách hoàn hảo sứ vụ thần linh mà danh hiệu ấy bao hàm. Quả vậy, trong Israel, những ai được thánh hiến cho Thiên Chúa để thi hành một sứ vụ Ngài giao phó, đều được xức dầu nhân danh Thiên Chúa. Đó là trường hợp của các vua [X. l Sm 9,16; 10,1; 16,1.12-13; 1 V 1,39], các tư tế [X. Xh 29,7; Lv 8,12] và đôi khi, các tiên tri [X. 1V 19,16]. Đó phải là, một cách tuyệt hảo, trường hợp của Đấng Messia, là người Thiên Chúa sai đến để thiết lập Nước của Ngài cách vĩnh viễn [X. Tv 2,2; Cv 4,26-27]. Đấng Messia phải được xức dầu bằng Thần Khí của Chúa [X. Is 11,2] với tư cách là vua, đồng thời là tư tế [X. Zc 4,14; 6,13], và cũng với tư cách là tiên tri. [X. Is 61,1; Lc 4,16-21] Chúa Giêsu đã thực hiện niềm hy vọng về Đấng Messia của Israel trong ba nhiệm vụ của Người là Tư tế, Tiên tri và Vương đế. [Back]
0437
Thiên thần
đã loan báo cho các mục đồng việc Giáng Sinh của
Chúa Giêsu, với tính cách là việc ra đời của Đấng
Messia đã được hứa ban cho Israel: “Hôm nay, một Đấng
Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavid, Người
là Đấng Kitô, là Đức Chúa” (Lc 2,11). Ngay từ đầu, Chúa Giêsu là “Đấng Chúa Cha đã hiến
thánh và sai đến thế gian” (Ga 10,36), với tư cách là “Đấng Thánh” (Lc 1,35) được cưu mang trong lòng dạ
trinh khiết của Đức Maria [X. Lc 1,35]. Thánh Giuse được Thiên Chúa kêu gọi
đón bà Maria vợ ông về, “vì người con bà cưu mang là
do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20), để Chúa Giêsu, “cũng gọi là Đấng
Kitô” (Mt
1,16), được sinh ra do
vợ ông Giuse trong dòng tộc thiên sai (in generatione messianica) của vua Đavid. [X. Rm l,3; 2 Tm 2,8; Kh 22,16] [Back]
0438
Việc được thánh hiến làm Đấng Messia
của Chúa Giêsu biểu lộ sứ vụ thần linh của
Người. “Trong danh hiệu ‘Kitô’ bao gồm Đấng xức dầu,
Đấng được xức dầu, và chính việc xức dầu:
Đấng xức dầu là Chúa Cha, Đấng được xức dầu
là Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần, Đấng là Việc xức dầu”
[Thánh Irênê, Adversus haereses, 3, 18, 3].
Việc xức dầu thánh hiến vĩnh cửu của
Chúa Giêsu được mạc khải trong cuộc đời trần
thế của Người khi Người chịu phép rửa bởi
ông Gioan, khi “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng
mà xức dầu tấn phong Người” (Cv 10,38) “để Người được tỏ ra cho dân
Israel” (Ga 1,31) trong tư cách là Đấng
Messia của Thiên Chúa. Những việc Người làm và những
lời Người dạy giúp cho chúng ta nhận biết Người
là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” [X.
Mc l,24; Ga 6,69; Cv 3,14]. [Back]
0439
Nhiều người
Do Thái, và cả một số người ngoại cùng chia sẻ
niềm hy vọng của Israel, đã nhận ra nơi Chúa
Giêsu những nét cơ bản của “Con vua Đavid”, Đấng Messia
mà Thiên Chúa đã hứa ban cho Israel [X. Mt 2,2; 9,27, 12,23; 15,22;
20,30; 21,9.15]. Chúa Giêsu
đã chấp nhận danh hiệu Messia, Người có quyền
làm như vậy [X. Ga 4,25-26; 11,27],
nhưng Người chấp nhận một cách dè dặt, bởi
vì danh hiệu này bị một số người đương thời
với Người hiểu theo một quan niệm quá phàm trần
[X. Mt
22,41-46], đặc biệt
mang tính chất chính trị. [X.
Ga 6,l5; Lc 24,21] [Back]
0440
Khi thánh Phêrô tuyên xưng Người là Đấng Messia,
Chúa Giêsu chấp nhận lời tuyên xưng đức tin đó, nhưng
Người loan báo ngay cuộc khổ nạn đã gần đến
của “Con Người” [X. Mt 16,16-23].
Người tỏ cho thấy ý nghĩa đích thực của
vương quyền Messia của Người, vừa trong căn tính siêu
việt của Con Người, “Đấng từ trời xuống”
(Ga 3,l3) [X. Ga 6,62; Đn 7,13], vừa
trong sứ vụ cứu chuộc của Người với
tư cách là Người Tôi trung đau khổ: “Con Người đến,
không phải để được người ta phục vụ, nhưng
là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm
giá chuộc muôn người” (Mt 20,28) [X.
Is 53,10-12]. Do đó ý nghĩa đích thực của vương
quyền Người chỉ được biểu lộ cách tột
đỉnh trên Thập Giá [X. Ga l9,19-22;
Lc 23,39-43]. Chỉ sau khi Người sống lại, thánh
Phêrô mới có thể công bố vương quyền Messia của
Người trước mặt dân Thiên Chúa: “Vậy toàn thể nhà
Israel phải biết chắc điều này: Chúa Giêsu mà anh em
đã treo trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đặt Người
làm Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2,36). [Back]
Con một Thiên Chúa
Trong Cựu Ước “Con Thiên Chúa” là danh hiệu được ban cho các Thiên thần [X. Đnl (LXX) 32,8; G 1,6], cho dân Chúa chọn [X. Xh 4,22; Os 11,1; Gr 3,19; Gv 36,14; Kn 18,13], cho con cái Israel [X. Đnl 14,1; Os 2,1], và cho các vua của họ [X. 2 Sm 7,14; Tv 82,6]. Trong những trường hợp ấy, danh hiệu “Con Thiên Chúa” nói lên việc Thiên Chúa nhận một số thụ tạo làm nghĩa tử, và việc này tạo nên những mối liên hệ thân tình đặc biệt giữa Thiên Chúa và thụ tạo của Ngài. Khi vị Vua Messia của lời hứa được gọi là “Con Thiên Chúa” [X. 1 Sbn 17,13; Tv 2,7], điều này, xét theo nghĩa văn tự của các bản văn nêu trên, không nhất thiết hàm ý rằng Người có bản tính vượt trổi phàm nhân. Những người đã gọi Chúa Giêsu là Đấng Messia của Israel [X. Mt 27,54] có lẽ cũng không có ý muốn nói gì hơn [X. Lc 23,47]. [Back]
0442
Trường hợp thánh Phêrô thì khác, khi ông
tuyên xưng Chúa Giêsu là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”
[X. Mt 16,16], bởi vì Chúa
Giêsu đã long trọng trả lời ông: “Không phải
phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của
Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt
16,17). Tương tự như vậy, khi đề cập đến
cuộc hối cải của mình trên đường đi Đamas,
thánh Phaolô đã nói: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ
khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ
ân sủng của Ngài. Ngài đã đoái thương mạc khải
Con của Ngài cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của
Ngài cho các dân ngoại” (Gl 1,15-16).
“Lập tức, ông bắt đầu rao giảng Chúa Giêsu trong
các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa” (Cv 9,20). Ngay từ đầu [X. 1 Tx 1,10], điều này đã là
trung tâm của đức tin tông truyền [X. Ga 20,31], đức tin mà thánh Phêrô, với tư cách
là nền tảng Hội Thánh, đã tuyên xưng trước hết
[X. Mt 16,18]. [Back]
0443
Nếu thánh Phêrô có thể nhận ra tính chất
siêu việt trong tư cách Con Thiên Chúa của Chúa Giêsu, Đấng
Messia, thì đó là bởi vì chính Người đã nói
lên điều đó cách rõ ràng. Trước Thượng Hội Đồng,
khi những kẻ tố cáo hỏi Người: “Vậy ông là
Con Thiên Chúa sao?”, Chúa Giêsu trả lời: “Đúng như các ông nói,
chính tôi đây” (Lc 22,70) [X. Mt 26,64; Mc
14,62]. Trước đó đã lâu, Chúa Giêsu đã tự xưng
mình là “Con”, là người biết rõ Chúa Cha [X. Mt 11,27; 21,37-38], là người phân biệt
mình với các “tôi tớ” mà Thiên Chúa đã sai đến
trước với dân Ngài [X. Mt 21,34-36],
là người trổi vượt trên cả các Thiên thần [X. Mt 24,36]. Chúa Giêsu phân biệt tư
cách làm “Con” của Người với tư cách làm con của các
môn đệ Người vì không bao giờ Người nói “Cha
chúng ta” [X. Mt 5,48; 6,8; 7,21; Lc 11,13],
trừ lúc truyền dạy họ: “Anh em hãy cầu
nguyện như thế này: ‘Lạy Cha chúng con’” (Mt 6,9); và Người nhấn mạnh
sự khác biệt giữa “Cha của Thầy, cũng là Cha
của anh em” (Ga 20,17). [Back]
0444
Vào hai thời điểm quan trọng, lúc Đức
Kitô chịu Phép Rửa và lúc Người Hiển Dung, các sách Tin
Mừng nhắc đến tiếng Chúa Cha gọi Chúa Giêsu là
“Con yêu dấu” của Ngài [X. Mt 3,17;
17,5]. Chính Chúa Giêsu cũng tự xưng là “Con Một” của
Thiên Chúa (Ga 3,16) và qua danh hiệu
đó, xác quyết sự tiền hữu vĩnh cửu (aeternam praeexsistentiam) của
mình [X. Ga 10,36]. Người
đòi phải tin vào “danh Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,18). Lời tuyên xưng này của
Kitô giáo đã xuất hiện ngay từ tiếng kêu của
viên đại đội trưởng trước mặt Chúa Giêsu trên thập
giá: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Chỉ trong mầu nhiệm
Vượt Qua, người tin tước hiệu “Con Thiên Chúa” mới
có thể hiểu được ý nghĩa cao cả nhất
của tước hiệu đó. [Back]
0445
Sau khi Người phục sinh, tư cách Con Thiên Chúa
của Đức Kitô tỏ rạng trong quyền năng của
nhân tính được tôn vinh của Người. “Từ cõi chết
sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được
đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1,4) [X. Cv 13,33]. Các Tông Đồ có thể
tuyên xưng: “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của
Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một đầy
tràn ân sủng và sự thật” (Ga
1,14). [Back]
Chúa
Trong bản dịch các sách Cựu ước ra tiếng Hy lạp, YHWH, danh không thể xưng mà Thiên Chúa dùng để tự mạc khải cho ông Môisen [X. Xh 3,14], được dịch là Kyrios (“Chúa”). Từ đó, tước hiệu “Chúa” trở thành danh xưng thông dụng nhất để nói lên chính thần tính của Thiên Chúa Israel. Tân Ước dùng tước hiệu “Chúa”, theo nghĩa mạnh như trên, cho Chúa Cha, và đồng thời, và đây là điều mới mẻ, cũng dùng cho Chúa Giêsu, qua đó nhìn nhận Người chính là Thiên Chúa [X. 1 Cr 2,8]. [Back]
0447
Chính Chúa Giêsu nhận tước hiệu ấy
cho mình một cách mặc nhiên khi tranh luận với
các người Pharisêu về ý nghĩa thánh vịnh 110 [X. Mt 22,41-46; Cv 2,34-36; Dt 1,13], nhưng
khi nói chuyện với các Tông Đồ thì Người nhận
một cách minh nhiên [X. Ga 13,13].
Trong suốt cuộc đời công khai của Người, những
cử chỉ thống trị của Chúa Giêsu trên thiên nhiên,
trên bệnh tật, trên ma quỷ, trên sự chết và tội
lỗi, chứng tỏ Người có quyền tối thượng
của Thiên Chúa. [Back]
0448
Trong các sách
Tin Mừng, khi thưa chuyện với Chúa Giêsu, người ta rất
thường gọi Người là “Chúa”. Tước hiệu này cho thấy
lòng tôn kính và tin tưởng của những người đến
với Chúa Giêsu và mong đợi Người cứu giúp và chữa
lành [X. Mt
8,2; 14,30; 15,22]. Dưới
tác động của Chúa Thánh Thần, khi thưa như vậy, người
ta nhìn nhận mầu nhiệm thần linh của Chúa
Giêsu [X. Lc
1,43; 2,11]. Khi gặp gỡ
Chúa Giêsu Phục sinh, việc gọi tước hiệu ấy
trở thành việc thờ lạy: “Lạy Chúa của con!
lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Lúc đó, việc gọi Người như vậy còn mang
ý nghĩa kính yêu và thân ái, là điểm riêng của truyền
thống Kitô giáo: “Chúa đó!” (Ga
21,7). [Back]
0449
Khi dành cho Chúa Giêsu tước hiệu thần
linh là “Chúa”, những lời tuyên xưng đức tin tiên khởi
của Hội Thánh xác quyết ngay từ đầu [X. Cv 2,34-36] rằng quyền năng,
danh dự và vinh quang thuộc về Chúa Cha cũng thuộc
về Chúa Giêsu [X. Rm 9,5; Tt 2,13; Kh
5,13], bởi vì Người “vốn dĩ là Thiên Chúa”
(Pl 2,6), và bởi vì Chúa Cha
đã làm tỏ hiện quyền chủ tể này của
Chúa Giêsu khi cho Người sống lại từ cõi chết
và tôn dương Người trong vinh quang của Ngài [X. Rm 10,9; 1 Cr 12,3; Pl 2,9-11]. [Back]
0450
Ngay từ đầu
lịch sử Kitô giáo, việc xác quyết quyền chủ
tể của Chúa Giêsu trên trần gian và trên lịch sử [X. Kh 11,15] cũng có nghĩa là nhìn nhận
rằng, con người không được để cho tự do cá nhân của
mình suy phục một cách tuyệt đối bất cứ
quyền bính trần thế nào, nhưng chỉ suy phục một
mình Thiên Chúa là Cha và Chúa Giêsu Kitô: Hoàng đế Cêsar không phải
là “Chúa” [X.
Mc 12,17; Cv 5,29]. Hội
Thánh “tin rằng mình gặp được chìa khóa, trung
tâm và cứu cánh của toàn thể lịch sử nhân loại
nơi Chúa và Thầy của mình” [X. CĐ Vat. II, GS 10; x. Ibid., 45]. [Back]
0451
Kinh nguyện
Kitô giáo được ghi dấu bằng tước hiệu “Chúa”, dù
là lời mời gọi cầu nguyện “Chúa ở cùng anh
chị em”, dù là câu kết thúc lời nguyện: “Nhờ Đức
Giêsu Kitô, Chúa chúng con”, hay cả trong tiếng kêu đầy tin
tưởng và hy vọng “Maranatha” (“Chúa đến!”) hoặc
“Maranatha” (“Lạy Chúa, xin ngự đến!”) (1 Cr 16,22). “Amen. Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh
22,20). [Back]
Tóm lược
Thánh Danh Giêsu có nghĩa
là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Hài nhi sinh bởi Đức Trinh Nữ
Maria được gọi là “Giêsu”: “Vì chính Người sẽ cứu
dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác
đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ
vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). [Back]
0453
Danh hiệu
“Kitô” có nghĩa là “Đấng được xức dầu”, “Đấng
Messia”. Chúa Giêsu là Đấng Kitô bởi vì “Thiên Chúa
đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn
phong Người” (Cv 10,38). Người là “Đấng phải đến”
(Lc 7,19), là đối tượng của niềm hy vọng của
Israel [X. Cv 28,20]. [Back]
0454
Danh hiệu
“Con Thiên Chúa” nói lên mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu
của Chúa Giêsu Kitô với Thiên Chúa, Cha của Người. Người
là Con Một của Chúa Cha [X. Ga 1,14.18; 3,16.18] và là chính Thiên Chúa [X. Ga 1,1]. Ai muốn trở thành Kitô hữu, người ấy nhất
thiết phải tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa [X. Cv 8,37; 1 Ga 2,23]. [Back]
0455
Danh hiệu
“Chúa” nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên
xưng hay kêu cầu Chúa Giêsu là Chúa, là tin vào thần tính của
Người. “Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’,
nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). [Back]
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, mà
Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh
Con Thiên Chúa làm người
Cùng với Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli, chúng ta tuyên
xưng: “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng
ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi
phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể
trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người” [DS 150]. [Back]
0457
Ngôi Lời đã làm người để
cứu độ chúng ta, bằng cách giao hòa chúng ta với
Thiên Chúa: Thiên Chúa “đã yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài
đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Chúa Cha đã sai Con của
Ngài đến làm Đấng cứu độ thế gian” (1 Ga 4,14). “Chúa Giêsu đã xuất hiện
để xoá bỏ tội lỗi” (1 Ga 3,5): “Bản tính chúng ta vì bệnh tật
nên cần được chữa lành, vì sa ngã nên cần
được nâng dậy, vì đã chết nên cần được
phục sinh. Chúng ta đã đánh mất việc thông phần
vào sự thiện, nên cần được dẫn trở về
sự thiện. Chúng ta bị vây hãm trong bóng tối,
nên cần đến ánh sáng. Chúng ta bị tù đầy nên mong người
cứu chuộc; bị thua trận, nên cần người trợ
giúp, bị áp bức dưới ách nô lệ nên chờ người
giải phóng. Đó lại là những lý do nhỏ bé và
không xứng đáng để làm cho Thiên Chúa động lòng hay
sao? Những lý do ấy không đủ để Thiên Chúa xuống
viếng thăm bản tính nhân loại, trong lúc nhân loại đang
ở trong tình trạng khốn cùng và bất hạnh
hay sao?” [Th. Grêgôriô Nyssenô, Oratio
catechetica 15,3] [Back]
0458
Ngôi Lời đã làm người để chúng ta
nhận biết tình yêu của Thiên Chúa: “Tình yêu của
Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế
này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để
nhờ Con Một của Ngài mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,9). “Thiên Chúa yêu thế gian đến
nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài
thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”
(Ga 3,16). [Back]
0459
Ngôi Lời đã làm người để trở
thành gương mẫu thánh thiện cho chúng ta. “Anh em hãy mang lấy
ách của tôi và hãy học với tôi…” (Mt 11,29). “Chính Thầy là con đường,
là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến
với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga
14,6). Và trên núi Hiển Dung, Chúa Cha đã truyền:
“Hãy vâng nghe lời Người” (Mc
9,7) [X. Đnl 6,4-5]. Người đúng là gương mẫu của các mối
phúc thật và là chuẩn mực của Luật mới:
“Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”
(Ga l5,l2). Tình yêu này
đòi hỏi người ta thật sự hiến thân để
đi theo Người [X. Mc 8,34]. [Back]
0460
Ngôi Lời
đã làm người để làm cho chúng ta được “thông phần
bản tính Thiên Chúa” (2 Pr l,4). “Chính vì điều này mà Ngôi Lời của Thiên Chúa làm
người, Đấng là Con Thiên Chúa trở nên Con Người, đó là
để cho loài người, khi kết hợp với Ngôi Lời
của Thiên Chúa và nhận quyền làm nghĩa tử,
thì được trở nên con cái Thiên Chúa” [Th. Irênê, Adversus haereses,
3,19,1]. “Chính Người
đã làm người, để chúng ta được trở thành những
vị thần” [Th. Athanasiô Alexandrinô, De Incarnatione, 54, 3]. “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn
cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Người,
nên đã mang lấy bản tính của chúng ta, để Đấng
đã làm người, làm cho người ta trở thành những vị
thần” [Th. Tôma Aq., Officium de festo
corporis Christi, Ad Matutinas, In primo Nocturno, Lectio 1]. [Back]
Nhập thể
Lấy lại cách nói của thánh Gioan
(“Ngôi Lời
đã trở thành nhục thể”: Ga 1,14), Hội Thánh dùng từ “Nhập Thể”
để gọi sự kiện Con Thiên Chúa nhận lấy bản
tính nhân loại, để thực hiện việc cứu độ
chúng ta trong bản tính ấy. Trong một thánh thi do thánh
Phaolô ghi lại, Hội Thánh hát mừng mầu nhiệm Nhập
Thể như sau: “Anh em hãy có những tâm tình như chính
Đức Kitô Giêsu: Chúa Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà
không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị
ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh
quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm
nhân, sống như người trần thế. Người lại
còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng
lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,5-8) [X. Thánh ca
Kinh Chiều I Chúa Nhật: Các Giờ Kinh Phụng Vụ]. [Back]
0462
Thư gửi tín hữu Do Thái cũng nói về mầu nhiệm ấy như sau:
“Vì vậy, khi vào trần
gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế,
nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng
thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới
thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi
ý Ngài” (Dt 10,5-7, trích Tv 40,7-9, bản LXX). [Back]
0463
Tin vào việc Nhập Thể thật của
Con Thiên Chúa là dấu hiệu đặc trưng của đức tin
Kitô giáo. “Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra Thần
Khí của Thiên Chúa: Thần Khí nào tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Đấng
đã đến, và trở nên người phàm, thì Thần
Khí ấy bởi Thiên Chúa” (1 Ga 4,2).
Đó cũng là niềm xác tín hân hoan của Hội Thánh ngay từ
buổi đầu, khi hát mừng “mầu nhiệm cao cả của
đạo thánh”: “Đức Kitô xuất hiện trong thân phận
người phàm” (1 Tm 3,16). [Back]
Thiên Chúa thật và người thật
Biến cố độc nhất vô nhị là việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa không có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của một sự pha trộn lẫn lộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người đã thật sự làm người, mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Hội Thánh đã phải bảo vệ và làm sáng tỏ chân lý đức tin này suốt những thế kỷ đầu tiên, trước các lạc thuyết đã làm sai lạc chân lý đó. [Back]
0465
Các lạc thuyết đầu tiên không phủ nhận
thần tính của Đức Kitô, cho bằng chối bỏ
nhân tính thật của Người (Ảo
thân thuyết theo chủ trương Ngộ đạo). Ngay từ
thời các Tông Đồ, đức tin Kitô giáo nhấn mạnh đến
việc Nhập Thể thật của Con Thiên Chúa, Đấng
đã đến trong xác phàm [X. 1 Ga
4,2-3; 2 Ga 7]. Nhưng vào thế kỷ thứ III, để chống
lại Phaolô Samosatênô, tại Công đồng họp ở
Antiôchia, Hội Thánh phải khẳng định rằng: Chúa
Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa do bản tính chứ không phải do được
nhận làm nghĩa tử. Công đồng chung thứ I, họp
tại Nicêa vào năm 325, tuyên xưng trong Tín biểu của
mình rằng: Con Thiên Chúa “được sinh ra mà không phải
được tạo thành, đồng bản thể với Đức
Chúa Cha” (trong tiếng Hy Lạp là
homousion) [Tín biểu Nicêa: DS 125], và Hội Thánh đã
kết án Ariô là người đã khẳng định rằng
“Con Thiên Chúa đã xuất phát từ hư vô” [CĐ Nicêa, Epistula synodalis “Epeidê tês” ad
Aegyptios] và “có một bản thể hay yếu tính khác với
Chúa Cha” [Tín biểu Nicêa]. [Back]
0466
Lạc thuyết của Nestôriô cho rằng
trong Đức Kitô ngôi vị nhân loại được liên kết với
Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa. Chống lại lạc
thuyết này, Thánh Cyrillô Alêxanđria và Công đồng chung thứ
III họp tại Êphêsô năm 431 tuyên xưng rằng: “Ngôi Lời
đã làm người, khi một thân thể do một linh hồn
có lý trí làm cho sống động được kết hợp với
Ngài theo Ngôi Vị” [CĐ Êphêsô, Epistula II
Cyrilli Alexandrini ad Nestorium]. Nhân tính của Đức Kitô
không có một chủ thể nào khác ngoài Ngôi Vị thần
linh của Con Thiên Chúa, Đấng đã nhận lấy nhân
tính ấy làm của mình từ lúc tượng thai. Chính
vì vậy, Công đồng chung Êphêsô vào năm 431 công bố rằng
Đức Maria, nhờ sự tượng thai nhân loại của
Con Thiên Chúa trong lòng bà, bà đã rất thật sự
trở thành Mẹ Thiên Chúa: “Mẹ Thiên Chúa…, không phải
vì bản tính của Ngôi Lời và thần tính của
Ngài đã bắt đầu được sinh ra bởi Đức Trinh
Nữ rất thánh, nhưng vì từ Đức Trinh Nữ
đã sinh ra thân xác thánh thiêng đó, do một linh hồn có
lý trí làm cho sống động, và Ngôi Lời Thiên Chúa
đã kết hợp với thân xác đó theo Ngôi Vị, nên có
thể nói Ngôi Lời đã được sinh ra theo xác phàm” [CĐ Êphêsô, Epistula II Cyrilli Alexandrini ad
Nestorium]. [Back]
0467
Những người chủ trương thuyết Nhất Tính (Monophysitae) khẳng định: bản tính nhân loại không còn tồn tại nơi Đức Kitô, khi bản tính đó được Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa đảm nhận. Để chống lại lạc thuyết này, Công đồng chung thứ IV, họp tại Chalcêđônia năm 451, tuyên xưng:
“Theo sau các thánh phụ, chúng tôi đồng thanh dạy phải tuyên xưng Một Chúa Con Duy Nhất là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, hoàn hảo trong thần tính và cũng hoàn hảo trong nhân tính; là Thiên Chúa thật và là người thật, gồm có một linh hồn có lý trí và một thân xác; đồng bản thể với Đức Chúa Cha theo thần tính mà cũng đồng bản tính với chúng ta theo nhân tính, ‘giống chúng ta về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi’ [X. Dt 4,15]; sinh bởi Đức Chúa Cha theo thần tính từ trước muôn đời, và trong những thời cuối cùng này, vì chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính từ Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.
Cùng một Đấng duy nhất
là Đức Kitô, là Chúa, là Con Một, phải được nhìn
nhận trong hai bản tính một cách không lẫn lộn,
không thay đổi, không phân chia, không tách biệt, sự khác biệt
giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc
kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản
tính đã được bảo tồn khi kết hợp với
nhau trong một Ngôi Vị và một Đấng duy nhất” [CĐ Chalcêđônia, : DS
301-302]. [Back]
0468
Sau Công đồng
Chalcêđônia một số người biến nhân tính của Đức
Kitô thành như một chủ thể có ngôi vị riêng. Chống
lại những người này, Công đồng chung thứ V, họp
tại Constantinôpôli, năm 553, tuyên xưng rằng: “Chỉ có một
Ngôi Vị duy nhất, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Một
Ngôi Vị trong Ba Ngôi Chí Thánh” [CĐ Constantinôpôli II, Sess. 8a. Canon 4]. Bởi vậy, mọi sự
trong nhân tính của Đức Kitô đều phải được quy về
Ngôi Vị thần linh của Người với tư cách là chủ
thể riêng của Người [X. CĐ Êphêsô, Anathematismi
Cyrilli Alexandrini, 4],
không những các phép lạ, nhưng cả những đau khổ [X. CĐ Const. II, Sess.
8a. Canon 3] và chính cái chết:
chúng tôi tuyên xưng rằng “Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng
bị đóng đinh vào thập giá về phần xác, là Thiên Chúa thật,
là Chúa vinh quang, và là một Ngôi trong Ba Ngôi chí thánh” [X. CĐ Const. II, Sess. 8a. Canon 10]. [Back]
0469
Như vậy, Hội Thánh tuyên xưng rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật một cách không thể tách biệt. Người thật sự là Con Thiên Chúa đã làm người, là anh em của chúng ta, mà vẫn không ngừng là Thiên Chúa, Chúa chúng ta:
Phụng vụ Rôma hát kính: “Ngài
vẫn là Ngài như trước [Ngài là Thiên Chúa], và Ngài đã đảm nhận lấy
điều mà trước đó Ngài không là [Ngài làm người]” [Lễ
trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, Điệp ca kinh
“Benedictus”: Các Giờ Kinh Phụng Vụ; x. Thánh Lêô Cả,
Sermo 21, 2]. Còn phụng
vụ của thánh Gioan Kim Khẩu công bố và hát kính: “Lạy
Con duy nhất và Ngôi Lời của Thiên Chúa, dù bất tử,
nhưng để cứu độ chúng con, Chúa đã đoái thương nhập
thể trong lòng Đức Maria, Mẹ rất thánh của
Thiên Chúa và trọn đời đồng trinh. Chúa đã làm người
và đã chịu đóng đinh vào thập giá mà không hề biến
đổi. Lạy Đức Kitô, là Thiên Chúa, Chúa đã dùng cái chết
của mình mà đập tan sự chết, Chúa là Một
trong Ba Ngôi Chí Thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa
Thánh Thần, xin cứu độ chúng con!” [Officium Horarum Byzantinum, Hymnus “Ho monogenês]. [Back]
Con Thiên Chúa làm người như thế nào?
Trong sự kết hợp kỳ diệu của mầu
nhiệm Nhập Thể, “bản tính nhân loại được đảm
nhận, chứ không bị hoà tan” [CĐ
Vat. II, GS 22: AAS 58 (1966) 1042], nên qua các thế kỷ, Hội
Thánh hằng tuyên xưng Chúa Kitô có một linh hồn nhân loại
thật với các hoạt động của trí tuệ và
ý chí, và một thân xác nhân loại thật. Nhưng đồng
thời Hội Thánh đã phải luôn nhắc lại rằng
bản tính nhân loại của Đức Kitô thuộc hẳn về
Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng đã đảm
nhận nó. Tất cả những gì Đức Kitô là và tất
cả những gì Người làm trong bản tính nhân loại,
đều xuất phát từ “một Đấng trong Ba Ngôi Thiên
Chúa”. Vì vậy, Con Thiên Chúa truyền thông cho nhân tính của
Người cách thức hiện hữu riêng của Ngôi Vị
mình trong Ba Ngôi. Như vậy, trong linh hồn cũng như
trong thân xác của Người, Đức Kitô diễn tả theo
cách thế nhân loại cung cách hành xử của Thiên Chúa Ba
Ngôi [X. Ga 14,9-10]: “Con Thiên Chúa đã
làm việc với đôi tay nhân loại, suy nghĩ bằng trí
óc nhân loại, hành động theo ý chí nhân loại, yêu mến
bằng quả tim nhân loại. Sinh làm con Đức Trinh Nữ
Maria, Người đã thật sự trở nên một người
giữa chúng ta, giống chúng ta trong mọi sự, ngoại
trừ tội lỗi” [CĐ Vat. II, GS
22]. [Back]
0471
Linh hồn
và tri thức nhân loại của Đức Kitô
Apôlinariô Laođicensê cho
rằng trong Đức Kitô, Ngôi Lời đã thay thế linh hồn
hay tinh thần. Để chống lại điều sai lạc
này, Hội Thánh tuyên xưng: Ngôi Con hằng hữu cũng
đã đảm nhận một linh hồn nhân loại có
lý trí [X. Th. Đamasô I, Epistula Oti te
apostolike kathedra]. [Back]
0472
Linh hồn nhân loại này, mà Con Thiên Chúa
đã đảm nhận, đã được phú bẩm một tri
thức nhân loại thật sự. Tri thức này, theo đúng
nghĩa, tự nó không thể có tính chất vô hạn: nó được
hình thành trong các điều kiện lịch sử của
cuộc sống trong không gian và thời gian. Do đó, Con Thiên
Chúa khi làm người, đã có thể chấp nhận “ngày
càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa” (Lc 2,52) và thậm chí Người
còn phải tìm hiểu về những điều mà
trong điều kiện nhân loại, phải được học hỏi
qua kinh nghiệm [X. Mc 6,38; 8,27; Ga
11,34]. Điều này phù hợp với việc Người tự
nguyện hạ mình “mặc lấy thân nô lệ” [X. Pl 2,7]. [Back]
0473
Nhưng, đồng thời, tri thức nhân loại
thật sự này của Con Thiên Chúa cũng diễn tả
sự sống thần linh của Ngôi Vị của Người
[X. Th. Grêgôriô Cả, Epistula Sicut aqua].
“Con Thiên Chúa biết hết mọi sự; và con người mà
Người tiếp nhận cũng biết như thế, không phải
do bản tính, nhưng do kết hợp với Ngôi Lời. Nhân
tính, được kết hợp với Ngôi Lời, biết hết
mọi sự và biểu hiện những đặc tính thần
linh xứng với uy quyền nơi mình” [Th. Maximô Hiển tu, Quaestiones et dubia, Q.I,
67]. Trước hết, đó là trường hợp Con Thiên Chúa
làm người có một sự hiểu biết thâm sâu và trực
tiếp về Cha của Người [X.
Mc 14,36; Mt 11,27; Ga 1,18; 8,55]. Trong tri thức nhân loại
của mình, Chúa Con cũng cho thấy Người có khả
năng thần linh nhìn thấu những tư tưởng thầm
kín trong lòng dạ người ta [X.
Mc 2,8; Ga 2,25; 6,61]. [Back]
0474
Tri thức nhân loại của Đức Kitô,
vì được kết hợp với Đức Khôn Ngoan thần
linh trong Ngôi Lời nhập thể, hiểu biết đầy
đủ các kế hoạch vĩnh cửu mà Người đến
để mạc khải [X. Mc 8,31;
9,31;10,33-34; 14,18-20.26-30]. Điều Người nói là Người
không biết trong lãnh vực này [X.
Mc 13,32], thì ở chỗ khác Người tuyên bố
là Người không có sứ vụ mạc khải điều ấy
[X. Cv 1,7]. [Back]
0475
Ý muốn nhân loại của Đức Kitô
Một cách tương tự, trong Công đồng chung thứ VI, Hội Thánh đã tuyên xưng rằng Đức Kitô có hai ý muốn và hai hoạt động theo hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại, không đối kháng nhưng hợp tác với nhau, cho nên Ngôi Lời làm người, trong sự phục tùng theo nhân tính đối với Chúa Cha, đã muốn điều mà Người đã quyết định, theo thần tính, cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, về ơn cứu độ chúng ta [X. CĐ Const. III (năm 681), Sess. 18a, Definitio de duabus in Christo voluntatibus et operationibus]. Hội Thánh nhận biết rằng “ý muốn nhân loại của Người luôn theo ý muốn thần linh, không miễn cưỡng, không đối kháng, và hơn nữa, ý muốn nhân loại của Người đã phục tùng ý muốn thần linh và toàn năng của Người” [CĐ Const. III, Sess. 18a, Definitio de duabus in Christo voluntatibus et operationibus]. [Back]
0476
Thân xác thật của Đức Kitô
Bởi vì Ngôi Lời đã làm người khi đảm nhận một nhân tính thật, nên thân xác của Đức Kitô có những nét xác định rõ ràng [X. CĐ Latêranô (năm 649), Canon 4]. Do đó, dung nhan nhân loại của Chúa Giêsu có thể được “hoạ lại” [X. Gl 3,1] Trong Công đồng chung thứ VII [CĐ Nicêa II (năm 787), Act. 7a, Definitio de sacris imaginibus], Hội Thánh công nhận việc Người được trình bày qua các ảnh tượng thánh là hợp pháp. [Back]
0477
Đồng thời, Hội Thánh cũng luôn luôn
công nhận: trong thân xác của Chúa Giêsu, “Thiên Chúa vốn là
Đấng vô hình, đã xuất hiện hữu
hình cho chúng ta” [Kinh Tiền Tụng
Lễ Giáng Sinh, II: Sách Lễ Rôma]. Thật vậy, các
đặc điểm cá nhân của thân xác Đức Kitô diễn tả
Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa. Con Thiên Chúa
đã nhận làm của mình những nét nhân dạng
của thân xác Người, cho nên khi được hoạ lại nơi
một ảnh tượng thánh nào đó, những nét này có thể
được tôn kính, bởi vì khi tín hữu tôn kính ảnh
tượng thánh, là họ “tôn thờ chính Đấng mà ảnh tượng
thánh ấy diễn tả” [CĐ Nicêa
II, Act. 7a, Definitio de sacris imaginibus]. [Back]
0478
Trái tim của Ngôi Lời nhập thể
Trong cuộc đời của Người,
trong lúc Người hấp hối và trong lúc Người chịu
khổ nạn, Chúa Giêsu biết và yêu thương mọi người
và từng người chúng ta, và Người đã tự hiến
mạng vì mỗi người chúng ta. Con Thiên Chúa “đã
yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Người đã yêu mến tất cả
chúng ta bằng một trái tim nhân loại. Do đó Trái Tim cực
thánh của Chúa Giêsu, bị đâm thâu vì tội lỗi
chúng ta và để cứu độ chúng ta [X. Ga 19,34], “được coi là dấu chỉ và
biểu tượng đặc biệt của tình yêu, qua đó Đấng
Cứu Chuộc thần linh hằng liên lỉ yêu mến
Chúa Cha vĩnh cửu và yêu mến tất cả mọi người”
[ĐGH Piô
XII, Thông điệp Haurietis aquas; x. Ibid., Thông điệp Mystici
corporis]. [Back]
Tóm lược
Vào thời gian
Thiên Chúa đã định, Con Một của Chúa Cha, là Ngôi Lời
vĩnh cửu và là hình ảnh bản thể của
Chúa Cha, đã nhập thể: Người đã đảm nhận
bản tính nhân loại mà không mất đi bản tính Thiên Chúa. [Back]
0480
Chúa Giêsu Kitô là
Thiên Chúa thật và là người thật trong sự duy nhất
của Ngôi Vị Thiên Chúa của Người; vì vậy
Người là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và
loài người. [Back]
0481
Chúa Giêsu Kitô có
hai bản tính, thần tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng
kết hợp trong Ngôi Vị duy nhất của Con Thiên Chúa. [Back]
0482
Vì là Thiên
Chúa thật và là người thật, Đức Kitô có một tri
thức và một ý muốn nhân loại, hoàn toàn hoà hợp
và quy phục tri thức và ý muốn thần linh của
Người, mà Người có chung với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. [Back]
0483
Vì vậy,
Nhập Thể là mầu nhiệm kỳ diệu của sự
kết hợp giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân
loại trong Ngôi Vị duy nhất của Ngôi Lời. [Back]
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà
Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh
Biến cố Truyền tin cho Đức Maria mở đầu
“thời gian tới hồi viên mãn” (Gl 4,4), nghĩa là, lúc hoàn thành các lời hứa
và các sự chuẩn bị. Đức Maria được mời gọi
cưu mang Đấng mà nơi Người “tất cả sự viên
mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể”
(Cl 2,9). Lời phúc đáp thần
linh cho vấn nạn của Mẹ: “Việc ấy sẽ
xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ
chồng?” (Lc 1,34) đã được
đưa ra là nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần: “Thánh Thần
sẽ ngự xuống trên bà” (Lc
1,35). [Back]
0485
Sứ vụ của Chúa Thánh Thần luôn luôn
được kết hợp với sứ vụ của Chúa Con
và quy hướng về sứ vụ của Chúa Con [X. Ga 16,14-15]. Chúa Thánh Thần, là
“Chúa và là Đấng ban sự sống”, được sai đến để
thánh hoá cung lòng Đức Trinh Nữ Maria và làm cho Mẹ
thụ thai một cách thần linh, khi tác động để Mẹ
cưu mang Con vĩnh cửu của Chúa Cha trong nhân tính được
đảm nhận từ nhân tính của Mẹ. [Back]
0486
Con Một của Chúa Cha, với tư cách một
con người được thụ thai trong cung lòng Đức
Trinh Nữ Maria, là “Đức Kitô”, nghĩa là Đấng được
xức dầu bằng Chúa Thánh Thần [X. Mt 1,20; Lc 1,35], từ lúc khởi đầu sự
hiện hữu nhân loại của Người, mặc dù việc
Người tỏ mình ra sẽ được thực hiện dần
dần: cho các mục đồng [X. Lc
2,8-20], cho các đạo sĩ [X. Mt
2,1-12], cho ông Gioan Tẩy giả [X.
Ga 1,31-34], cho các môn đệ [X. Ga
2,11]. Vì vậy, toàn bộ cuộc đời của
Chúa Giêsu Kitô sẽ biểu lộ “Thiên Chúa đã dùng Thánh
Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người”
(Cv 10,38) như thế nào. [Back]
0487
Sinh bởi bà Maria đồng trinh
Những gì đức tin Công giáo tin về Mẹ Maria, đều đặt nền tảng trên những gì đức tin đó tin về Đức Kitô, nhưng những gì đức tin dạy về Mẹ Maria, lại làm sáng tỏ đức tin vào Đức Kitô. [Back]
0488
Đức Maria được tiền định
“Thiên Chúa đã sai
Con mình tới” (Gl 4,4), nhưng để tạo một thân xác [X. Dt 10,5] cho Người, Thiên Chúa đã muốn
có sự tự do cộng tác của một thụ tạo.
Với mục đích ấy, từ muôn đời Thiên Chúa đã
chọn, để làm Mẹ của Con mình, một người
con gái Israel, một thiếu nữ Do Thái ở Nazareth miền
Galilêa, “một trinh nữ đã đính hôn với một người
tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavid, trinh nữ ấy
tên là Maria” (Lc 1,26-27): “Chúa Cha rất
nhân từ đã muốn có sự ưng thuận của người
Mẹ đã được tiền định, trước khi Chúa Con
nhập thể, để như vậy, một người nữ
đã mang đến sự chết như thế nào, thì một
người nữ cũng sẽ mang lại sự sống như
vậy” [CĐ
Vat. II, LG 56; x. Ibid., 61]. [Back]
0489
Suốt thời
Cựu Ước, sứ vụ của Đức Maria đã được
chuẩn bị bởi sứ vụ của những phụ
nữ thánh thiện. Ngay từ đầu, là bà Evà: bất chấp
sự bất tuân phục của mình, bà đã nhận
được Lời Hứa rằng một hậu duệ của
bà sẽ chiến thắng ma quỷ [X. St 3,15] và Lời Hứa rằng bà sẽ là
mẹ của tất cả chúng sinh [X. St 3,20]. Do lời hứa đó, bà Sara, mặc
dù đã cao niên, vẫn thụ thai một người con trai [X. St 18,10-14; 21,1-2]. Trái với mọi niềm hy vọng
nhân loại, Thiên Chúa đã chọn những gì bị
coi như bất lực và yếu đuối [X. 1 Cr 1,27] để chứng tỏ Ngài luôn
trung tín với lời Ngài đã hứa: bà Anna, mẹ của
tiên tri Samuel [X. 1 Sm 1], bà Đêbôra,
bà Ruth, bà Juđitha, bà Esther và nhiều phụ nữ khác. Đức
Maria “trổi vượt giữa những người khiêm hạ
và nghèo hèn của Chúa, những người hy vọng và đón nhận
ơn cứu độ từ nơi Ngài với lòng tin tưởng.
Cuối cùng, sau sự trông đợi lâu dài Lời Chúa đã
hứa, thời gian đã đến hồi viên mãn và một
Nhiệm cục mới đã bắt đầu với Đức
Maria, người Con Gái Sion cao trọng nhất” [CĐ Vat. II, LG 55]. [Back]
0490
Vô nhiễm nguyên tội
Để làm Mẹ Đấng
Cứu độ, Đức Maria “đã được Chúa ban cho các hồng
ân xứng với nhiệm vụ cao cả ấy” [CĐ Vat. II, LG 56]. Lúc Truyền tin, thiên thần
Gabriel đã chào Mẹ là “người đầy ơn phúc” [X. Lc l,28]. Thật vậy, Mẹ cần
được hướng dẫn hoàn toàn bởi ân sủng của
Thiên Chúa, để có thể đáp lại lời loan báo ơn gọi
của mình bằng sự ưng thuận tự do của
đức tin. [Back]
0491
Qua các thế kỷ, Hội Thánh đã
ý thức rằng Đức Maria, vì được Thiên Chúa
ban cho “đầy ơn phúc” [X. Lc 1,28],
nên được cứu chuộc ngay từ lúc tượng thai. Tín điều
Vô Nhiễm Nguyên Tội, do Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố
năm l854, tuyên xưng: “Rất Thánh Trinh Nữ Maria ngay từ lúc đầu
tiên tượng thai, bởi ân sủng và đặc ân của Thiên
Chúa toàn năng, trông vào công nghiệp của Đức Kitô Giêsu Đấng
Cứu độ loài người, đã được gìn giữ
tinh tuyền khỏi mọi vết nhơ của nguyên tội”
[ĐGH Piô IX, Tông sắc Ineffabilis Deus: DS
2803]. [Back]
0492
Những ánh rạng ngời này của “một
sự thánh thiện hoàn toàn độc nhất vô nhị”,
đã được ban cho Mẹ “ngay từ lúc đầu tiên tượng
thai” [CĐ Vat. II, LG 56], tất cả
đều từ Đức Kitô mà đến với Mẹ: Mẹ
đã “được cứu chuộc cách hết sức kỳ
diệu nhờ xét đến công nghiệp Con Mẹ” [CĐ Vat. II, LG 53]. Chúa Cha đã “thi ân
giáng phúc” cho Mẹ, hơn bất cứ thụ tạo nào khác,
cho Mẹ “hưởng muôn vàn ân phúc của Thánh Thần, từ
cõi trời, trong Đức Kitô” (Ep
1,3). Ngài “đã chọn” Mẹ “trong Đức Kitô, trước
cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan
Ngài”, Mẹ “trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ
tình thương của Ngài” (x. Ep 1,4). [Back]
0493
Các Giáo phụ thuộc truyền thống Đông
phương gọi Mẹ Thiên Chúa là Đấng Toàn Thánh (Panaghia) và tôn
vinh Mẹ là “Đấng không hề vương nhiễm một vết
nhơ tội lỗi nào, như thể một tạo vật mới
được Chúa Thánh Thần nắn đúc và tạo dựng” [CĐ Vat. II, LG 56]. Nhờ ân sủng của
Thiên Chúa, Đức Maria suốt đời vẫn tinh tuyền
không hề phạm một tội riêng nào. [Back]
0494
Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ
thần nói
Khi được loan báo rằng,
mặc dù không biết người nam, mình sẽ hạ
sinh “Con Đấng Tối Cao”, bởi quyền năng Chúa Thánh Thần
[X. Lc
1,28-37], Đức Maria tin
chắc chắn rằng, đối với Thiên Chúa, không có
gì là không thể làm được, nên với “sự vâng phục
của đức tin” [X. Rm 1,5], Mẹ đã trả lời: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ
của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần
nói” (Lc
1,37-38). Như vậy, khi
nói lên sự ưng thuận của mình đối với lời
Thiên Chúa, Đức Maria trở thành Mẹ Chúa Giêsu và với trọn
tâm hồn, Mẹ chấp nhận ý định cứu độ
của Thiên Chúa, mà không tội lỗi nào ngăn cản Mẹ,
Mẹ tự hiến hoàn toàn cho con người và công trình
của Con Mẹ, để, một cách tùy thuộc vào Người
và cùng với Người, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Mẹ
phục vụ mầu nhiệm Cứu Chuộc [CĐ Vat. II, LG 56].
Thánh Irênê nói: “Nhờ vâng phục, Đức Mẹ đã trở nên nguyên nhân ơn cứu độ cho chính mình và cho toàn thể nhân loại” [Th. Irênê, Adversus haereses, 3,22,4]. Từ đó, cùng với thánh nhân, nhiều Giáo phụ xưa cũng giảng dạy rằng: “Nút dây do sự bất tuân của bà Evà thắt lại, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Maria; điều mà trinh nữ Evà đã buộc lại do sự cứng lòng tin, Đức Trinh Nữ Maria đã tháo ra nhờ đức tin” [X. Thánh Irênê, Adversus haereses, 3,22,4]; và so sánh với bà Evà, các ngài gọi Đức Maria là “Mẹ chúng sinh”, và rất thường quả quyết rằng: “Sự chết qua bà Evà, sự sống qua Đức Maria” [CĐ Vat. II, LG 56]. [Back]
0495
Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa
Trong các sách Tin Mừng,
Đức Maria được gọi là “Thân mẫu Chúa Giêsu” (Ga 2,1; 19,25) [X. Mt
13,55]. Cả trước
khi Con Mẹ chào đời, dưới sự thúc đẩy của
Chúa Thánh Thần, Mẹ đã được gọi là “Thân mẫu
Chúa tôi” (Lc
1,43). Quả thật,
Đấng mà Mẹ đã cưu mang làm người bởi phép Chúa
Thánh Thần, Đấng thật sự là Con Mẹ theo xác phàm,
chính là Con vĩnh cửu của Chúa Cha, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi
chí thánh. Vì vậy, Hội Thánh tuyên xưng Đức Maria thật
sự là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) [X. CĐ Êphêsô, Epistula II Cyrilli
Alexandrini ad Nestorium: DS 251]. [Back]
0496
Sự đồng
trinh của Đức Maria
Ngay trong các công thức đức tin đầu tiên [X. DS 10-64], Hội Thánh đã tuyên
xưng rằng Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Đức
Trinh Nữ Maria là chỉ do quyền năng của Chúa Thánh Thần
mà thôi, và Hội Thánh cũng khẳng định khía cạnh thể
lý của biến cố này: Chúa Giêsu được thụ
thai “bởi Chúa Thánh Thần, không có mầm giống nam nhân”
[3 CĐ Latêranô (năm 649), Canon 3]. Các
Giáo Phụ nhận ra việc thụ thai đồng trinh là dấu
chỉ của việc Con Thiên Chúa thật sự đã đến
trong bản tính nhân loại như chúng ta.
Thánh Ignatiô Antiôchia (đầu thế kỷ II) dạy: “Tôi đã nhận thấy anh em… xác tín rằng Chúa chúng ta, thật sự xuất thân từ dòng dõi vua Đavid theo xác phàm [X. Rm 1,3], là Con Thiên Chúa theo ý định và quyền năng Thiên Chúa [X. Ga 1,13], Người đã thật sự được sinh ra bởi một trinh nữ;… Người đã thật sự chịu đóng đinh trong thân xác vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô… Người đã thật sự chịu khổ hình cũng như đã thật sự sống lại” [Th. Ignatiô Antiôchia, Epistula ad Smyrnaeos, 1-2]. [Back]
0497
Các trình thuật Tin Mừng [X. Mt 1,18-25; Lc 1,26-38] hiểu việc
thụ thai đồng trinh như một công trình của Thiên
Chúa, vượt quá mọi hiểu biết và mọi khả
năng nhân loại [X. Lc 1,34]: Thiên
thần đã nói với ông Giuse về Đức Maria, hiền
thê của ông rằng: “Người con bà cưu mang là do quyền
năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). Hội
Thánh nhận ra đây là việc thực hiện lời hứa
của Thiên Chúa qua miệng tiên tri Isaia: “Này đây, Trinh Nữ sẽ
thụ thai và sinh hạ một con trai” (Is 7,l4), theo bản Hy lạp của Mt 1,23. [Back]
0498
Đôi lúc, người
ta lúng túng vì sự im lặng của Tin Mừng Marcô và
các thư Tân Ước đối với việc thụ thai đồng
trinh của Đức Maria. Người ta cũng tự hỏi
không biết đây có phải là huyền thoại hay là luận
điểm thần học không chứng cớ lịch sử.
Về vấn đề này, phải trả lời rằng: đức
tin vào việc Mẹ Maria thụ thai Chúa Giêsu mà còn đồng
trinh, đã bị người Do Thái và lương dân vô tín chống đối
mãnh liệt, chế diễu hoặc hiểu sai [X. Th. Justinô, Dialogus
cum Triphone Iudaeo, 66-67; Origiênê, Contra Celsum, 1,32; Ibid., 1, 69]: đức tin đó không phát sinh từ
huyền thoại ngoại giáo hoặc từ sự mô phỏng
nào đó theo các ý tưởng đương thời. Ý nghĩa của
biến cố này chỉ có thể hiểu được nhờ
đức tin, khi nhìn biến cố đó “trong sự nối
kết chính các mầu nhiệm với nhau” [CĐ Vat. I, Dei Filius, c. 4], nghĩa là trong toàn bộ các mầu
nhiệm của Đức Kitô, từ việc Nhập Thể
cho đến cuộc Vượt Qua của Người. Thánh Ignatiô
Antiôchia đã nêu rõ sự nối kết này: “Thủ
lãnh thế gian không hề biết đến việc Đức
Maria đồng trinh, việc Mẹ sinh con cũng như việc
Chúa chịu chết: ba mầu nhiệm này thật vẻ
vang nhưng đã được Thiên Chúa âm thầm thực hiện”
[Th. Ignatiô Antiôchia, Epistula ad Ephesos, 19,1; x. 1 Cr
2,8]. [Back]
0499
Đức Maria trọn
đời đồng trinh
Việc suy niệm sâu xa hơn trong đức tin về việc
Đức Maria đồng trinh mà làm mẹ, đã đưa Hội Thánh
đến chỗ tuyên xưng Đức Maria thật sự và trọn
đời đồng trinh [X. CĐ
Constantinôpôli II, Sess. 8a, Canon 6: DS 427], cả trong khi sinh
hạ Con Thiên Chúa làm người [X. Th.
Lêô Cả, Tomus ad Flavianum: DS 291; Ibid.: DS 294; Pelagius I, Epistula
Humani Generis: DS 442; CĐ Latêranô, Canon 3; CĐ Tôlêđô XVI : DS 571; ĐGH
Phaolô IV, Tông hiến Cum quorumdam hominum: DS 1880]. Thật vậy,
việc sinh hạ Đức Kitô “không làm suy giảm nhưng thánh
hiến sự trinh khiết vẹn toàn” của Mẹ [CĐ Vat. II, LG 57]. Phụng vụ của
Hội Thánh tôn vinh Mẹ là Aeiparthenos, “Đấng trọn đời
đồng trinh” [CĐ Vat. II, LG 52]. [Back]
0500
Về điều này, đôi khi người ta phản đối
rằng Thánh Kinh có nhắc đến các anh em và chị em của
Chúa Giêsu [X. Mc 3,3l-35; 6,3; l Cr 9,5; Gl
1,19]. Hội Thánh vẫn luôn hiểu rằng những
đoạn văn này không hề ám chỉ những người con khác
của Đức Trinh Nữ Maria: ông Giacôbê và ông Giuse, “anh em của
Chúa Giêsu” (Mt 13,55), thật ra là
con của một bà Maria nào đó là môn đệ của Đức
Kitô [X. Mt 27,56], bà này được cẩn
thận phân biệt là “bà Maria khác” (Mt
28,l). Đây là những người anh em bà con họ hàng gần,
theo như cách nói quen dùng trong Cựu Ước [X. St 13,8; 14,16; 29,15 v.v…]. [Back]
0501
Chúa Giêsu là người
Con duy nhất của Đức Maria. Nhưng tình mẫu tử
thiêng liêng của Mẹ [X. Ga 19,26-27; Kh 12,17] trải rộng cho hết mọi người
đã được Chúa Giêsu đến cứu độ. “Người Con
mà Mẹ sinh ra, Thiên Chúa đã đặt ‘làm trưởng tử
giữa một đàn em đông đúc’ (Rm 8,29), tức là các tín hữu, mà Mẹ đã cộng tác vào
việc sinh hạ và dạy dỗ họ với tình
yêu từ mẫu” [CĐ Vat. II, LG
63]. [Back]
0502
Chức năng làm Mẹ đồng trinh của
Đức Maria trong kế hoạch của Thiên Chúa
Cái nhìn của
đức tin, liên kết với toàn bộ Mạc Khải, có
thể khám phá ra những lý do huyền nhiệm mà
vì đó, Thiên Chúa, trong kế hoạch cứu độ của
Ngài, đã muốn Con của Ngài sinh ra bởi một trinh
nữ. Những lý do này liên quan đến Ngôi Vị và sứ
vụ cứu chuộc của Đức Kitô, cũng như đến
việc Đức Maria chấp nhận góp phần vào sứ vụ
này vì tất cả mọi người. [Back]
0503
Sự đồng trinh của Đức Maria cho thấy mầu nhiệm Nhập Thể tuyệt đối do Thiên Chúa khởi xướng. Chúa Giêsu chỉ có Thiên Chúa là Cha [X. Lc 2,48-49]. “Không bao giờ Người tách khỏi Chúa Cha vì con người mà Người đã đảm nhận... Một mình Người vừa là Con Thiên Chúa vừa là Con Người. Xét về mặt bản tính, Người là Con của Chúa Cha trên trời theo thần tính, là Con của Đức Maria theo nhân tính; nhưng thật sự Người là Con Thiên Chúa trong hai bản tính” [CĐ Frioul (năm 796 hoặc 797) : DS 619]. [Back]
0504
Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, bởi vì Người là Ađam mới [X. 1 Cr 15,45], người khởi đầu công trình tạo dựng mới: “Người thứ nhất bởi đất mà ra thì thuộc về đất; còn người thứ hai thì từ trời mà đến” (1 Cr 15,47). Ngay từ lúc Người được thụ thai, nhân tính Đức Kitô đã tràn đầy Thần Khí, vì Thiên Chúa “ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn” (Ga 3,34). “Từ nguồn sung mãn của Người”, của Đấng là đầu của nhân loại được cứu chuộc [X. Cl 1,18] mà “chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). [Back]
0505
Chúa Giêsu, Ađam mới, qua việc Người được thụ thai trong cung lòng đồng trinh, đã khởi đầu cuộc sinh hạ mới của những người được nhận làm nghĩa tử trong Chúa Thánh Thần nhờ đức tin. “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào ?” (Lc l,34) [X. Ga 3,9]. Việc tham dự vào sự sống thần linh là điều “không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,13). Sự sống mới này được đón nhận cách trinh khiết, bởi vì nó được tặng ban cho con người, hoàn toàn do bởi Chúa Thánh Thần. Ý nghĩa phu thê của ơn gọi của con người đến với Thiên Chúa [X. 2 Cr 11,2] được thực hiện cách trọn hảo trong chức năng làm mẹ đồng trinh của Đức Maria. [Back]
0506
Đức Maria
là một Trinh Nữ, bởi vì sự đồng trinh của
Mẹ là dấu chỉ đức tin của Mẹ, một đức
tin không pha trộn chút nghi ngờ nào [X. CĐ Vat. II, LG 63] và là dấu chỉ sự tự
hiến trọn vẹn của Mẹ cho thánh ý Thiên
Chúa [X. l
Cr 7,34-35]. Chính nhờ
đức tin mà Đức Maria trở thành Mẹ Đấng Cứu
độ: “Đức Maria thật là diễm phúc vì Mẹ
đã tin vào Đức Kitô hơn là vì Mẹ đã cưu mang
thân xác Người” [Th. Augustinô, De sancta virginitate
3,3]. [Back]
0507
Đức Maria vừa
là Trinh Nữ vừa là Mẹ, bởi vì Mẹ là
hình ảnh của Hội Thánh, là sự thể hiện
toàn hảo nhất của Hội Thánh [X. CĐ Vat. II, LG 63]. “Nhờ đón nhận lời Thiên
Chúa cách trung thành, Hội Thánh được làm Mẹ: thật vậy,
nhờ việc rao giảng và ban Phép Rửa, Hội Thánh
sinh hạ những người con, được thụ thai bởi
Chúa Thánh Thần, và được sinh ra bởi Thiên Chúa, để sống
đời sống mới và bất tử. Và Hội Thánh là
Trinh Nữ, bởi đã gìn giữ cách toàn vẹn và
tinh tuyền lòng tin vào Đức Phu Quân” [CĐ CĐ Vat. II, LG 64]. [Back]
Tóm lược
Trong số các con
cháu bà Evà, Thiên Chúa đã chọn Đức Trinh Nữ Maria làm
Mẹ của Con Ngài. Mẹ “đầy ơn phúc”, là “hoa trái tuyệt
vời nhất của công trình Cứu chuộc” [X. CĐ Vat. II, SC 103]. Ngay từ lúc đầu tiên khi được
thụ thai, Mẹ đã được gìn giữ tinh tuyền
khỏi vết nhơ nguyên tội và suốt đời Mẹ, Mẹ
vẫn luôn tinh tuyền không hề phạm một tội
riêng nào. [Back]
0509
Đức Maria thật sự là “Mẹ Thiên Chúa” vì là Mẹ của Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, đã làm người, Đấng cũng chính là Thiên Chúa. [Back]
0510
Đức Maria “vẫn
còn đồng trinh khi thụ thai Con mình, đồng
trinh khi sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng
trinh khi cho Người bú mớm, là người mẹ đồng
trinh, vĩnh viễn đồng trinh” [Th. Augustinô, Sermo 186, 1]: Mẹ là “nữ tỳ của
Chúa” (Lc
1,38) bằng toàn bộ
hữu thể của mình. [Back]
0511
Đức Trinh Nữ
Maria đã cộng tác vào “việc cứu độ nhân loại
bằng đức tin và lòng tuân phục tự do” [CĐ Vat. II, LG 56]. Mẹ đã nói lên lời ưng
thuận của mình “thay cho toàn thể bản tính nhân
loại” [Th.
Tôma Aquinô, Summa theologiae, III, q. 30, a. 1, c]. Nhờ sự vâng phục của
mình, Mẹ đã trở thành bà Evà mới, là Mẹ của
chúng sinh. [Back]
Các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Kitô
Khi đề cập đến cuộc đời Đức Kitô, Tín biểu chỉ nói về các mầu nhiệm Nhập Thể (được thụ thai và ra đời) và Vượt Qua (chịu khổ nạn, chịu đóng đinh vào thập giá, chịu chết, chịu mai táng, xuống ngục tổ tông, sống lại, và lên trời). Tín biểu không nói gì cách minh nhiên về các mầu nhiệm của cuộc đời ẩn dật và công khai của Chúa Giêsu; tuy nhiên, các đề mục đức tin liên quan đến việc Nhập Thể và cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, lại làm sáng tỏ toàn bộ cuộc đời trần thế của Người. “Tất cả những việc Chúa Giêsu làm và những điều Người dạy, kể từ đầu cho tới ngày Người được rước lên trời” (Cv l,l-2), cần phải được nhìn xem dưới ánh sáng các mầu nhiệm Giáng Sinh và Phục Sinh. [Back]
0513
Tùy theo hoàn cảnh, việc dạy giáo
lý sẽ trình bày tất cả sự phong phú của
các mầu nhiệm của Chúa Giêsu. Ở đây, chúng tôi chỉ
nêu lên một số yếu tố chung cho tất cả mọi
mầu nhiệm của cuộc đời của Người, rồi
sau đó phác hoạ các mầu nhiệm chính yếu trong cuộc
đời ẩn dật và công khai của Chúa Giêsu. [Back]
0514
Cả cuộc đời Đức Kitô là một
Mầu nhiệm
Có nhiều điều liên quan đến Chúa Giêsu mà loài người tò mò muốn biết, nhưng lại không được các sách Tin Mừng nói đến. Tin Mừng hầu như không nói gì về cuộc sống của Người ở Nazareth, và một phần lớn cuộc đời công khai của Người cũng không được kể lại. Những gì đã được viết ra trong các Tin Mừng, được kể lại là “để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31). [Back]
0515
Các sách Tin Mừng đã được viết ra bởi những người trong số những người đầu tiên đã có đức tin [X. Mc 1,1; Ga 21,24], và muốn cho những người khác được tham dự vào đức tin đó. Đã được biết Chúa Giêsu là ai trong đức tin, họ có thể thấy và chỉ cho người khác thấy những dấu tích của mầu nhiệm của Người trong suốt cuộc đời trần thế của Người. Từ những mảnh tã quấn thân ngày Người Giáng Sinh [X. Lc 2,7], cho đến chút giấm lúc Người chịu khổ hình, và tấm khăn liệm ngày Người Phục Sinh [X. Ga 20,7], mọi sự trong cuộc đời Chúa Giêsu đều là dấu chỉ của mầu nhiệm của Người. Qua những cử chỉ, những phép lạ, những lời nói của Người, Người mạc khải “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9). Như vậy, nhân tính của Người xuất hiện như một “bí tích”, nghĩa là, một dấu chỉ và dụng cụ của thần tính của Người, và của ơn cứu độ mà Người mang lại: những gì hữu hình trong cuộc đời trần thế của Người, dẫn chúng ta đến với mầu nhiệm vô hình, là địa vị làm Con Thiên Chúa của Người và sứ vụ cứu chuộc của Người. [Back]
0516
Những nét chung của các mầu nhiệm của Chúa Giêsu
0516. Cả cuộc đời của Đức Kitô là một Mạc khải về Chúa Cha: những lời Người nói, những việc Người làm, những lúc Người im lặng, những đau khổ Người chịu, cách thế Người sống và giảng dạy. Chúa Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga l4,9), và Chúa Cha nói: “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (Lc 9,35). Vì Chúa chúng ta đã làm người để chu toàn thánh ý của Chúa Cha [X. Dt 10,5-7], nên ngay cả những điểm nhỏ nhặt nhất trong các mầu nhiệm của Người đều biểu lộ cho chúng ta thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta [X. 1 Ga 4,9]. [Back]
0517
Cả cuộc đời của Đức Kitô là một mầu nhiệm Cứu chuộc. Ơn Cứu chuộc đến với chúng ta trước hết nhờ Máu Người đổ ra trên thập giá [X. Ep 1,7; Cl 1,13-14 (Vulgata); 1 Pr 1,18-19], nhưng mầu nhiệm này được thực hiện qua cả cuộc đời Đức Kitô: ngay trong việc Người Nhập Thể, Người đã trở nên nghèo để lấy cái nghèo của Người mà làm cho chúng ta nên giàu có [X. 2 Cr 8,9]; trong cuộc sống ẩn dật, Người vâng phục [X. Lc 2,51] để sửa lại sự bất phục tùng của chúng ta; khi giảng dạy, lời Người nói thanh tẩy những người nghe [X. Ga 15,3]; khi chữa bệnh và trừ quỷ, “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta, và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17) [X. Is 53,4]; khi phục sinh, Người làm cho chúng ta được nên công chính [X. Rm 4,25]. [Back]
0518
Cả cuộc
đời của Đức Kitô là một mầu nhiệm Quy tụ:
tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm, đã nói,
và đã chịu đau khổ, đều có mục đích là để
phục hồi con người sa ngã về lại ơn gọi
đầu tiên của họ:
“Khi nhập thể và làm người, Đức Kitô đã quy tụ
nơi mình lịch sử lâu dài của nhân loại, và
đã đem lại ơn cứu độ cho chúng ta theo con đường
tắt, để những gì xưa kia chúng ta đã mất
nơi Ađam, tức là không còn là hình ảnh và giống
như Thiên Chúa nữa, thì nay chúng ta được nhận lại
trong Đức Kitô Giêsu” [Th. Irênê, Adversus haereses, 3,18,1]. “Chính vì thế Đức Kitô
đã trải qua mọi tuổi đời, để cho mọi
người lại được hiệp thông với Thiên Chúa” [Th. Irênê, Adversus haereses, 3, 18, 7: SC 211, 366 (PG 7,
937); x. Id., Adversus haereses, 2,22,4]. [Back]
0519
Chúng ta hiệp thông với các mầu nhiệm của Chúa Giêsu
Mọi sự phong phú của Đức Kitô là dành cho mọi người và là tài sản của mọi người [X. ĐGH GPh II, Thông điệp Redemptor hominis, 11]. Đức Kitô không sống cho bản thân Người, nhưng cho chúng ta, từ lúc Người nhập thể “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta” [Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli], cho đến khi Người chịu chết “vì tội lỗi chúng ta” (1 Cr 15,3) và sống lại “để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25). Cả bây giờ nữa, Người vẫn là trạng sư của chúng ta “trước mặt Chúa Cha” (1 Ga 2,1), “vì Người hằng sống để chuyển cầu” cho chúng ta (Dt 7,25). Với tất cả những gì Người đã sống và đã chịu đựng một lần cho mãi mãi vì chúng ta, giờ đây Người luôn hiện diện “trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 9,24) đến muôn đời. [Back]
0520
Trong cả cuộc đời của Người, Chúa Giêsu tỏ mình là mẫu mực của chúng ta [X. Rm 15,5; Pl 2,5]: chính Người là “con người hoàn hảo” [CĐ Vat. II, GS 38], Người mời gọi chúng ta trở nên môn đệ của Người và bước đi theo Người; qua việc tự hạ của Người, Người ban cho chúng ta một gương mẫu để bắt chước [X. Ga 13,15]; qua việc cầu nguyện của Người, Người lôi kéo chúng ta cầu nguyện [X. Lc 11,1]; qua sự nghèo khó của Người, Người kêu gọi chúng ta tự nguyện chấp nhận sự thiếu thốn và những cơn bách hại [X. Mt 5,11-12]. [Back]
0521
Tất cả những gì chính Người đã sống, Đức Kitô làm cho chúng ta được sống những điều đó trong Người, và Người sống những điều đó trong chúng ta. “Khi nhập thể, Con Thiên Chúa một cách nào đó đã nên một với mọi người” [CĐ Vat. II, GS 22]. Chúng ta được kêu gọi nên một với Người; chính Người làm cho chúng ta, với tư cách là những chi thể của Thân Thể Người, được hiệp thông với những gì Người đã sống trong thân thể Người vì chúng ta và nên như mẫu mực cho chúng ta: Chúng ta phải tiếp nối và hoàn thành nơi bản thân chúng ta các giai đoạn của cuộc đời Chúa Giêsu và các mầu nhiệm của Người, và thường xuyên cầu xin… để Người hoàn tất và kiện toàn những điều ấy trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người… Vì Con Thiên Chúa có ý truyền thông, mở rộng và tiếp tục các mầu nhiệm của Người trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người,… hoặc bằng các ân sủng Người quyết định ban cho chúng ta hoặc bằng những hiệu quả Người muốn thực hiện nơi chúng ta qua các mầu nhiệm ấy. Bằng cách này, Người muốn hoàn tất các mầu nhiệm của Người trong chúng ta [Th. Gioan Eudes, Le royaume de Jésus, 3,4]. [Back]
Các mầu nhiệm của thời thơ ấu và của
quảng đời ẩn dật của Chúa Giêsu.
Những sự chuẩn bị
Việc Con Thiên Chúa ngự đến trong thế gian là một biến cố hết sức trọng đại, đến độ Thiên Chúa đã muốn chuẩn bị cho biến cố đó qua nhiều thế kỷ. Các nghi thức và các hy lễ, các hình ảnh và các biểu tượng của “Giao Ước Cũ” [X. Dt 9,15], tất cả đều được Thiên Chúa làm cho hội tụ trong Đức Kitô: Chính Ngài loan báo Đức Kitô qua miệng các Tiên tri kế tiếp nhau ở Israel. Ngoài ra, Ngài còn khơi dậy trong tâm hồn các người ngoại giáo một sự chờ đợi chưa rõ ràng việc Con Thiên Chúa ngự đến. [Back]
0523
Thánh Gioan Tẩy Giả là vị Tiền Hô trực tiếp của Chúa [X. Cv 13,24], đã được sai đến để dọn đường [X. Mt 3,3]. Thánh nhân là “ngôn sứ của Đấng Tối Cao” (Lc l,76), trổi vượt tất cả mọi Tiên tri [X. Lc 7,26], và là vị Tiên tri cuối cùng [X. Mt 11,13]. Thánh nhân khởi đầu Tin Mừng [X. Cv 1,22; Lc 16,16]; ngay từ trong lòng mẹ đã đón chào Đức Kitô đến [X. Lc 1,41], và tìm thấy niềm vui trong việc được làm “bạn của chú rể” (Ga 3,29), Đấng mà thánh nhân chỉ cho biết là Chiên “Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga l,29). Thánh nhân đi trước Chúa Giêsu trong “thần trí và quyền năng của ngôn sứ Êlia” (Lc 1,17), và làm chứng cho Người bằng lời rao giảng của mình, bằng phép rửa thống hối của mình và cuối cùng bằng cuộc tử đạo của mình [X. Mc 6,17-29]. [Back]
0524
Mỗi năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh thể hiện lại niềm mong đợi Đấng Messia: khi hiệp thông với sự chuẩn bị lâu dài để đón Đấng Cứu độ ngự đến lần thứ nhất, các tín hữu canh tân lòng sốt sắng đón chờ Người ngự đến lần thứ hai [X. Kh 22,17]. Khi mừng sinh nhật và cuộc tử đạo của vị Tiền Hô, Hội Thánh hợp nhất với ước nguyện của thánh nhân: “Đức Kitô phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3,30). [Back]
0525
Mầu nhiệm Giáng Sinh
Chúa Giêsu đã ra đời trong cảnh bần hàn của chuồng bò lừa, trong một gia đình nghèo [X. Lc 2,6-7]; các mục đồng chất phác là những chứng nhân đầu tiên của biến cố. Chính trong cảnh nghèo hèn này mà vinh quang thiên quốc được tỏ lộ [X. Lc 2,8-20]. Hội Thánh không ngừng hoan hỉ hát mừng vinh quang đêm ấy:
“Hôm nay Đức Trinh Nữ sinh hạ Đấng Hằng Hữu, và thế gian dâng tặng hang đá cho Đấng Chí Tôn. Các Thiên thần cùng với các mục đồng tôn vinh Người, các đạo sĩ tiến bước theo ánh sao: bởi vì một Hài Nhi bé nhỏ, là Thiên Chúa vĩnh cửu, đã được sinh ra cho chúng ta!” [Th. Rômanô Mêlôđô, Kontakion, 10, In diem Nativitatis Christi, Prooemium]. [Back]
0526
“Trở nên trẻ nhỏ” trong tương quan với Thiên Chúa là điều kiện để vào Nước Trời [X. Mt 18,3-4]; để được vậy, cần phải tự hạ [X. Mt 23,12], phải trở nên bé mọn; hơn nữa, còn phải “được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (Ga 3,7), được sinh ra từ Thiên Chúa [X. Ga 1,13] để trở nên con cái Thiên Chúa [X. Ga 1,12]. Mầu nhiệm Giáng Sinh được thực hiện nơi chúng ta khi Đức Kitô “được thành hình” nơi chúng ta [X. Gl 4,19]. Việc Giáng Sinh của Chúa Giêsu là mầu nhiệm của “việc trao đổi kỳ diệu” này:
“Cuộc trao đổi sao mà kỳ diệu! Đấng Tạo Hoá của nhân loại, nhận lấy một thân xác có linh hồn, khấng hạ sinh bởi một Trinh Nữ; khi làm người mà chẳng cần mầm giống nam nhân, Người đã rộng ban cho chúng ta thần tính của Người” [X. Lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, Điệp Ca Kinh Chiều I và II: Các Giờ Kinh Phụng Vụ]. [Back]
0527
Các mầu nhiệm của thời thơ ấu của Chúa Giêsu
Việc cắt bì cho Chúa Giêsu, ngày thứ tám sau khi Người ra đời [X. Lc 2,21], là dấu chỉ việc Người được tháp nhập vào dòng dõi của tổ phụ Abraham, vào dân của Giao Ước, là dấu chỉ sự suy phục Lề luật của Người [X. Gl 4,4], của việc Người đến với phụng tự Israel, nền phụng tự mà Người sẽ tham dự suốt đời Người. Dấu chỉ này báo trước “phép cắt bì của Đức Kitô”, tức là bí tích Rửa Tội [X. Cl 2,11-13]. [Back]
0528
Hiển Linh là sự tỏ mình ra của Chúa Giêsu, như Đấng Messia của Israel, là Con Thiên Chúa, và là Đấng Cứu Độ trần gian. Cùng với việc Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Jorđanô và với tiệc cưới Cana, lễ này mừng kính việc “các đạo sĩ” từ phương Đông đến thờ lạy Chúa Giêsu [X. Mt 2,1]. Nơi các “đạo sĩ” này, là đại diện cho các tôn giáo lương dân lân cận, Tin Mừng nhận ra những hoa quả đầu mùa của các dân tộc sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ nhờ mầu nhiệm Nhập Thể. Việc các đạo sĩ đến Giêrusalem để bái lạy Vua dân Do Thái [X. Mt 2,2] cho thấy các vị ấy đến Israel, dưới ánh sáng tiên báo Đấng Messia của ngôi sao Đavid [X. Ds 24,17; Kh 22,16.], để tìm kiếm Đấng sẽ là vua của các dân tộc [X. Ds 24,17-19]. Việc họ đến có nghĩa là các dân ngoại chỉ có thể gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Người là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ trần gian, bằng cách hướng về dân Do Thái [X. Ga 4,22] và nhờ dân ấy mà lãnh nhận lời hứa về Đấng Messia như đã được ghi chép trong Cựu Ước [X. Mt 2,4-6]. Cuộc Hiển Linh cho thấy đông đảo dân ngoại được gia nhập vào gia đình của các Tổ Phụ [X. Th. Lêô Cả, Sermo 33, 3], và được hưởng “phẩm giá của Israel” [Canh thức Vượt Qua, Lời nguyện sau bài đọc thứ III: Sách Lễ Rôma]. [Back]
0529
Việc dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ [X. Lc 2,22-39] cho thấy Người có tư cách là “con đầu lòng” thuộc về Thiên Chúa như sở hữu riêng của Ngài [X. Xh 13,12-13]. Cùng với ông Simêon và bà Anna, toàn thể dân Israel đến gặp gỡ Đấng Cứu Độ mà họ trông chờ (truyền thống Byzantin gọi biến cố này như vậy). Chúa Giêsu được nhìn nhận là Đấng Messia được mong đợi đã quá lâu, là “ánh sáng muôn dân”, là “vinh quang của Israel”, nhưng cũng là “dấu hiệu cho người đời chống báng”. Lưỡi gươm của đau khổ được tiên báo cho Đức Maria, loan báo một việc dâng hiến khác, hoàn hảo và duy nhất, là việc dâng hiến trên thập giá, việc dâng hiến này sẽ mang lại ơn cứu độ mà Thiên Chúa “đã dành sẵn cho muôn dân.” [Back]
0530
Việc trốn sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội [X. Mt 2,13-18] cho thấy sự chống đối của bóng tối đối với ánh sáng: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Cả cuộc đời của Đức Kitô sẽ được ghi dấu bằng sự bách hại. Những ai thuộc về Người, đều tham dự vào điều đó với Người [X. Ga 15,20.]. Việc Người rời bỏ Ai Cập để trở về [X. Mt 2,15] gợi nhớ cuộc Xuất Hành [X. Os 11,1] và giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng giải phóng tối hậu. [Back]
0531
Các mầu nhiệm của quảng đời ẩn dật của Chúa Giêsu
0531. Phần lớn cuộc đời Người, Chúa Giêsu
đã chia sẻ thân phận của đại đa số con người:
một cuộc sống thường ngày không có vẻ cao trọng
nào, một cuộc sống lao động tay chân, một cuộc
sống suy phục Luật Thiên Chúa trong Do Thái giáo [X. Gl 4,4], một cuộc sống trong cộng
đoàn. Về toàn bộ quãng đời này, chúng ta được mạc
khải là Chúa Giêsu đã vâng phục cha mẹ Người [X. Lc 2,51] và “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn,
và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). [Back]
0532
Sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với Mẹ Người và cha nuôi của Người là chu toàn cách trọn hảo điều răn thứ tư. Sự vâng phục ở trần gian là hình ảnh của sự vâng phục con thảo của Người đối với Cha trên trời của Người. Việc Chúa Giêsu hằng ngày vâng phục thánh Giuse và Mẹ Maria loan báo và tham dự trước vào sự tuân phục của lời cầu nguyện trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng cho ý con thể hiện…” (Lc 22,42). Sự vâng phục của Đức Kitô trong các hoàn cảnh thường ngày của cuộc đời ẩn dật đã khởi đầu công trình tái tạo những gì mà ông Ađam đã phá huỷ vì bất tuân [X. Rm 5,19]. [Back]
0533
Cuộc đời ẩn dật ở
Nazareth cho phép mọi người hiệp thông với Chúa Giêsu
qua những lối sống thông thường nhất: “Ngôi nhà
Nazareth là mái trường nơi chúng ta bắt đầu học về
cuộc đời Chúa Giêsu; đây là trường dạy Tin Mừng.
Trước hết là bài học về thinh lặng. Ước
gì chúng ta biết quý chuộng sự thinh lặng,
vì đó là bầu khí tuyệt vời và tối cần cho
tâm hồn…Kế đến là bài học về đời sống
gia đình: Ước gì Nazareth dạy chúng ta biết gia
đình là gì, sự hiệp thông tình yêu của
gia đình là gì, vẻ đẹp quan trọng và bừng
sáng của gia đình là gì, tính chất thánh thiêng và bất
khả xâm phạm của gia đình là gì… Sau cùng là
bài học về lao động. Ôi Nazareth, ngôi nhà của “Con bác
thợ mộc”, chính tại đây, chúng ta muốn hiểu biết
và đề cao bổn phận lao động của con người,
tuy nhọc nhằn nhưng đem lại ơn cứu chuộc… Sau hết,
tại đây chúng tôi muốn chào mừng mọi người lao động
trên toàn thế giới, và chỉ cho họ một mẫu mực
vĩ đại, là người anh thần linh của họ” [ĐGH Phaolô VI, Homilia
in templo Annuntiationis beatae Mariae Virginis in Nazareth (5-1-1964]. [Back]
0534
Việc tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền thờ [X. Lc 2,41-52] là biến cố duy nhất phá vỡ sự im lặng của các sách Tin Mừng về những năm tháng ẩn dật của Chúa Giêsu. Ở đây, Chúa Giêsu cho chúng ta thoáng thấy mầu nhiệm của sự tận hiến của Người cho sứ vụ xuất phát từ tư cách làm Con Thiên Chúa của Người. “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49) Đức Maria và thánh Giuse “không hiểu” lời này, nhưng đón nhận lời ấy trong đức tin, và Đức Maria “hằng ghi nhớ những điều ấy trong lòng”, suốt những năm dài Chúa Giêsu ẩn mình trong sự thinh lặng của cuộc đời bình thường. [Back]
Các mầu nhiệm của quảng đời công khai của
Chúa Giêsu
Chúa Giêsu chịu phép rửa
Chúa Giêsu khởi đầu [X. Lc 3,23] quãng đời công khai bằng việc Người chịu phép rửa của ông Gioan tại sông Giođan [X. Cv 1,22]. Ông Gioan rao giảng “phép rửa tỏ lòng thống hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3). Đông đảo những người tội lỗi, thu thuế, binh lính [X. Lc 3,10-14], Pharisêu và Sađoc [X. Mt 3,7], cùng những cô gái điếm [X. Mt 21,32], đến xin ông làm phép rửa. “Bấy giờ Chúa Giêsu đến”. Vị Tẩy Giả ngần ngại, nhưng Chúa Giêsu yêu cầu: Người chịu phép rửa. Lúc đó, Chúa Thánh Thần, lấy hình chim bồ câu, ngự xuống trên Chúa Giêsu, và có tiếng phán từ trời: “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Mt 3,l3-l7). Đây là việc Chúa Giêsu tỏ mình ra (“Hiển Linh”) với tư cách là Đấng Messia của Israel và là Con Thiên Chúa. [Back]
0536
Phép Rửa của Chúa Giêsu, về phần Người, là sự chấp nhận và khởi đầu sứ vụ của Người, với tư cách là Người Tôi Trung Đau Khổ. Người chấp nhận bị liệt vào hàng tội nhân [X. Is 53,12]. Chính Người là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1,29); nay Người tham dự trước vào “phép rửa” là cái chết đẫm máu của Người [X. Mc 10,38; Lc 12,50]. Người đến để chu toàn “đức công chính” (Mt 3,l5), nghĩa là, Người hoàn toàn quy phục thánh ý của Cha Người: vì tình yêu, Người bằng lòng chịu phép rửa là cái chết để chúng ta được ơn tha thứ tội lỗi [X. Mt 26,39]. Đáp lại sự chấp nhận ấy, có tiếng của Chúa Cha tuyên bố Ngài hoàn toàn hài lòng về Con của mình [X. Lc 3,22; Is 42,1]. Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giêsu đã có đầy tràn từ lúc được Người được thụ thai, nay đến để “ở lại” trên Người [X. Ga 1,32-33; Is 11,2]. Chúa Giêsu sẽ là nguồn mạch ban Thánh Thần cho toàn thể nhân loại. Trong phép rửa của Người, “các tầng trời”, mà tội của ông Ađam đã đóng lại, nay được “mở ra cho Người” (Mt 3,l6); và dòng nước nhờ việc Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần ngự xuống được thánh hóa, để chuẩn bị cho một công trình tạo dựng mới. [Back]
0537
Kitô hữu, nhờ bí tích Rửa Tội,
được đồng hoá một cách bí tích với Chúa Giêsu, Đấng,
trong phép rửa của mình, đã tham dự trước
vào cái Chết và sự Sống Lại của mình; họ
phải tiến vào mầu nhiệm của sự khiêm tốn
quy phục và thống hối này, bước xuống nước
cùng với Chúa Giêsu để cùng với Người bước lên,
và phải được tái sinh bởi nước và Chúa Thánh Thần
để trở nên con yêu dấu của Chúa Cha trong Chúa Con và
“sống một đời sống mới” (Rm 6,4): “Chúng ta hãy cùng chịu mai táng với
Đức Kitô bằng Phép Rửa, để cùng được phục
sinh với Người; hãy cùng bước xuống với
Người, để đồng thời cũng được nâng lên;
chúng ta hãy cùng đi lên với Người, để đồng thời
cũng được tôn vinh” [Th. Grêgôriô Nazianzênô, Oratio 40, 9].
“Nhờ những gì
đã được hoàn thành nơi Đức Kitô, chúng ta biết rằng:
sau khi chúng ta được tẩy rửa trong nước và Chúa Thánh
Thần từ trời ngự xuống trên chúng ta, thì
chúng ta được xức dầu vinh quang thiên quốc và trở
thành con cái Thiên Chúa nhờ có tiếng của Chúa Cha nhận
cho làm nghĩa tử” [Th. Hilariô, In
evangelium Matthaei, 2, 6]. [Back]
0538
Chúa Giêsu chịu cám dỗ
0538. Các sách Tin Mừng có nói đến một thời gian Chúa Giêsu sống cô tịch trong hoang địa, ngay sau khi Người nhận phép rửa của ông Gioan. “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa” (Mc 1,12) và Chúa Giêsu ở lại đó bốn mươi ngày không ăn; Người sống giữa các dã thú và các Thiên thần hầu hạ Người [X. Mt 1,13]. Cuối thời gian này, Satan cám dỗ Người ba lần nhằm đặt vấn đề về thái độ con thảo của Người đối với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đẩy lui các cuộc tấn công này, chúng thu tóm cơn cám dỗ của ông Ađam trong vườn địa đàng và những cơn cám dỗ của dân Israel trong hoang địa, rồi ma quỷ bỏ Người mà đi, “chờ đợi thời cơ” (Lc 4,l3). [Back]
0539
Các tác giả Tin Mừng nêu rõ ý nghĩa cứu độ của biến cố bí nhiệm này. Chúa Giêsu là Ađam mới, Người vững lòng trung thành ở chỗ Ađam cũ đã đầu hàng cơn cám dỗ. Chúa Giêsu thực hiện cách hoàn hảo ơn gọi của dân Israel: trái hẳn với những kẻ xưa kia đã thách thức Thiên Chúa suốt bốn mươi năm trong hoang địa [X. Tv 95,10], Chúa Giêsu được mạc khải như Người Tôi Trung của Thiên Chúa, hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Trong việc này, Chúa Giêsu toàn thắng ma quỷ: Người đã trói kẻ mạnh và thu lại tài sản nó đã cướp [X. Mc 3,27]. Chiến thắng của Chúa Giêsu trước kẻ cám dỗ trong hoang địa báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn, là sự vâng phục tuyệt đối trong tình yêu con thảo của Người đối với Chúa Cha. [Back]
0540
Cám dỗ Chúa Giêsu phải chịu cho thấy cách thế Con Thiên Chúa là Đấng Messia, trái ngược hẳn điều Satan xúi giục Người và người ta muốn gán cho Người [X. Mt 16,21-23]. Chính vì thế, Đức Kitô chiến thắng Tên cám dỗ là chiến thắng cho chúng ta: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Mỗi năm, qua bốn mươi ngày Mùa Chay, Hội Thánh kết hợp với mầu nhiệm Chúa Giêsu trong hoang địa. [Back]
0541
Nước Thiên Chúa đã đến gần
“Sau khi ông Gioan bị nộp, Chúa Giêsu đến miền Galilêa, rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: ‘Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’” (Mc 1,14-15). “Để chu toàn thánh ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khởi đầu Nước Trời nơi trần gian” [CĐ Vat. II, LG 3]. Và thánh ý Chúa Cha là “nâng loài người lên, cho họ được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa” [CĐ Vat. II, LG 2]. Thiên Chúa thực hiện điều này bằng cách quy tụ người ta quanh Con của Ngài, là Chúa Giêsu Kitô. Cộng đồng được quy tụ này, chính là Hội Thánh, là “hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Thiên Chúa” trên trần gian [CĐ Vat. II, LG 5]. [Back]
0542
Đức Kitô là trung tâm của cộng đồng nhân loại này trong “gia đình của Thiên Chúa”. Người triệu tập họ quanh Người bằng lời nói, bằng những dấu chỉ biểu lộ Nước Thiên Chúa, bằng việc sai phái các môn đệ của Người. Người sẽ làm cho Nước Người đến, chủ yếu nhờ mầu nhiệm cao cả là cuộc Vượt Qua của Người, tức là cái Chết trên thập giá và sự Sống lại của Người. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Mọi người đều được mời gọi tham dự vào sự kết hợp này với Đức Kitô [X. CĐ Vat. II, LG 3]. [Back]
0543
Chúa Giêsu loan báo Nước Thiên Chúa
Mọi người đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa. Nước này của Đấng Messia trước tiên được loan báo cho con cái Israel [X. Mt 10,5-7], nhưng hướng đến việc đón nhận mọi người thuộc mọi dân tộc [X. Mt 8,11; 28,19]. Để vào Nước Thiên Chúa, cần phải đón nhận lời của Chúa Giêsu: “Lời Chúa được ví như hạt giống gieo trong ruộng: ai nghe Lời Chúa với đức tin và gia nhập đàn chiên nhỏ của Đức Kitô, thì đã đón nhận chính Nước Người; rồi do sức của nó, hạt giống nẩy mầm và lớn lên cho tới mùa gặt” [CĐ Vat. II, LG 5]. [Back]
0544
Nước Thiên Chúa thuộc về những người nghèo hèn và bé mọn, nghĩa là, những người đón nhận Nước ấy với tâm hồn khiêm tốn. Đức Kitô được sai đến để “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,l8) [X. Lc 7,22]. Người tuyên bố rằng họ có phúc, “vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3); Chúa Cha đã thương mạc khải cho những kẻ “bé mọn” này điều Người giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết [X. Mt 11,25]. Chúa Giêsu, từ máng cỏ cho tới thập giá, đã chia sẻ kiếp sống của những kẻ nghèo hèn; Người đã từng chịu đói [X. Mc 2,23-26; Mt 21,18], chịu khát [X. Ga 4,6-7; 19,28], chịu thiếu thốn [X. Lc 9,58]. Hơn thế nữa, Người tự đồng hóa mình với mọi hạng người nghèo hèn và coi lòng yêu thương tích cực đối với họ là điều kiện để được vào Nước của Người [X. Mt 25,31-46]. [Back]
0545
Chúa Giêsu mời những kẻ tội lỗi vào bàn tiệc Nước Thiên Chúa: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17) [X. 1 Tm 1,15]. Người mời gọi họ hối cải, vì không hối cải thì không thể vào Nước Người, nhưng Người cũng dùng lời nói và hành động cho họ thấy lòng thương xót vô biên của Cha Người đối với họ [X. Lc 15,11-32], và “trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc l5,7). Bằng chứng cao cả nhất của tình yêu này, là việc Người dâng hiến mạng sống mình “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). [Back]
0546
Chúa Giêsu kêu gọi người ta vào Nước Trời, bằng cách dùng các dụ ngôn, là nét đặc trưng trong cách giảng dạy của Người [X. Mc 4,33-34]. Qua các dụ ngôn, Người mời vào dự tiệc Nước Trời [X. Mt 22,1-14], nhưng Người cũng đòi phải có một lựa chọn triệt để: để đạt được Nước Trời, cần phải cho đi mọi sự; lời nói suông không đủ, cần phải có việc làm [X. Mt 21,28-32]. Các dụ ngôn như những tấm gương đối với con người: họ đón nhận Lời Chúa chỉ như mảnh đất khô khan hay mảnh đất mầu mỡ? [X. Mt 13,3-9]. Họ làm gì với những nén bạc đã nhận? [X. Mt 25,14-30 Chúa Giêsu và sự hiện diện của Nước Trời trong trần gian, một cách kín đáo, nằm ở trung tâm của các dụ ngôn. Cần phải tiến vào Nước Trời, nghĩa là, phải trở nên môn đệ Đức Kitô, mới “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13,11). Còn đối với những kẻ “ở ngoài” (Mc 4,11), mọi sự đều bí ẩn [X. Mt 13,10-15]. [Back]
0547
Các dấu chỉ Nước Thiên Chúa
0547. Kèm theo những lời Người nói, Chúa Giêsu đã làm
“những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ” (Cv 2,22) để cho thấy Nước Trời
đang hiện diện nơi Người. Chúng chứng tỏ Chúa
Giêsu chính là Đấng Messia đã được tiên báo [X. Lc 7,18-23]. [Back]
0548
Các dấu lạ do Chúa Giêsu thực hiện
minh chứng Chúa Cha đã sai Người đến [X. Ga 5,36; 10,25]. Chúng mời gọi
ta hãy tin vào Người [X. Ga 10,38].
Những ai đến với Người bằng đức tin, đức
tin cho họ được điều họ thỉnh cầu [X. Mc 5,25-34; 10,52]. Lúc đó, các phép lạ
củng cố lòng tin vào Người, Đấng thực hiện
các công việc của Cha Người: chúng chứng tỏ Người
là Con Thiên Chúa [X. Ga 10,31-38]. Nhưng
chúng cũng có thể là cớ vấp ngã [X. Mt 11,6]. Quả vậy, chúng không
nhằm thỏa mãn trí tò mò, và lòng ưa chuộng
ma thuật. Bất chấp những phép lạ hết sức
tỏ tường của Người, Chúa Giêsu vẫn bị một
số người loại bỏ [X. Ga
11,47-48], thậm chí Người còn bị tố cáo
là hành động nhờ ma quỷ [X. Mc
3,22]. [Back]
0549
Khi giải thoát một số người khỏi những sự dữ đời này như đói khát [X. Ga 6,5-15], bất công [X. Lc 19,8], bệnh tật và cái chết [X. Mt 11,5], Chúa Giêsu đã thực hiện các dấu chỉ Người là Đấng Messia. Tuy nhiên, Người không đến để loại trừ mọi điều xấu khỏi trần gian này [X. Lc 12,13-14; Ga 18,36], nhưng để giải thoát con người khỏi ách nô lệ nặng nề nhất, là ách nô lệ của tội lỗi [X. Ga 8,34-36], thứ ách nô lệ này ngăn cản họ trong ơn gọi của họ là làm con cái Thiên Chúa, và gây ra mọi hình thức nô lệ giữa con người. [Back]
0550
Khi Nước Thiên Chúa trị đến là lúc nước Satan bị sụp đổ [X. Mt 12,26]: “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt l2,28). Những việc trừ quỷ do Chúa Giêsu thực hiện, giải phóng người ta khỏi quyền thống trị của ma quỷ [X. Lc 8,26-39]. Những việc ấy báo trước sự chiến thắng cao cả của Chúa Giêsu trên “thủ lãnh thế gian này” [Ga 12,31]. Nhờ thập giá của Đức Kitô mà Nước Thiên Chúa sẽ được thiết lập vĩnh viễn: “Thiên Chúa đã cai trị từ cây gỗ” [Vênantiô Fortunatô, Hymnus “Vexilla Regis”]. [Back]
0551
Chìa khóa Nước Trời
Chúa Giêsu, khi khởi đầu đời sống
công khai của Người, đã chọn Nhóm Mười Hai người
đàn ông để các ông ở với Người và tham dự vào sứ
vụ của Người [X. Mc 3,13-19]. Người cho các ông tham dự vào quyền hành của Người
và “sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh
nhân” (Lc
9,2). Các ông được liên
kết vĩnh viễn với Nước của Đức Kitô, bởi
vì Người sẽ dùng các ông mà điều khiển Hội
Thánh: “Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy
đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống
với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự
toà xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22,29-30). [Back]
0552
Trong nhóm Mười Hai, ông Simon Phêrô giữ địa vị thứ nhất [X. Mc 3,16; 9,2; Lc 24,34; 1 Cr 15,5]; Chúa Giêsu ủy thác cho ông một sứ vụ độc đáo. Nhờ Chúa Cha mạc khải, ông Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Lúc đó Chúa chúng ta liền tuyên bố với ông: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt l6,l8). Đức Kitô, “Viên đá sống động” [X. 1 Pr 2,4], bảo đảm rằng Hội Thánh mà Người xây dựng trên Tảng Đá Phêrô sẽ chiến thắng quyền lực tử thần. Nhờ đức tin ông đã tuyên xưng, ông Phêrô sẽ mãi là Tảng Đá kiên vững của Hội Thánh. Ông có sứ vụ gìn giữ đức tin được toàn vẹn và làm cho các anh em mình nên vững mạnh trong đức tin [X. Lc 22,32]. [Back]
0553
Chúa Giêsu ủy thác cho ông Phêrô một thẩm quyền đặc biệt: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời; dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). “Quyền chìa khoá” là quyền cai quản Nhà của Thiên Chúa, tức là Hội Thánh. Chúa Giêsu, “Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11) xác nhận nhiệm vụ đó sau khi Người phục sinh: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,15-17). Quyền “cầm buộc và tháo cởi” có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh. Chúa Giêsu ủy thác quyền này cho Hội Thánh qua thừa tác vụ của các Tông Đồ [X. Mt 18,18], và đặc biệt của ông Phêrô, người duy nhất Chúa minh nhiên trao phó chìa khóa Nước Trời. [Back]
0554
Nếm trước Nước Trời: Chúa Hiển Dung
Từ ngày ông Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Chúa Giêsu “bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết, Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ…, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Ông Phêrô khước từ lời loan báo đó [X. Mt 16,22-23], các môn đệ khác cũng không hiểu gì hơn [X. Mt 17,23; Lc 9,45]. Chính trong bối cảnh này, đã xảy ra biến cố kỳ diệu là cuộc Hiển Dung của Chúa Giêsu [X. Mt 17,1-8; 2 Pr 1,16-18] trên núi cao, trước mặt ba nhân chứng do Người lựa chọn, là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Dung mạo và y phục của Chúa Giêsu trở nên chói sáng, ông Môisen và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người, “nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9,31). Một đám mây bao phủ các Ngài và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (Lc 9,35). [Back]
0555
Chúa Giêsu tỏ lộ vinh quang thần
linh của mình trong chốc lát, và như vậy Người
xác nhận lời tuyên xưng của ông Phêrô. Người cũng
cho thấy rằng, để “vào trong vinh quang của Người”
(Lc 24,26), Người phải đi qua thập
giá tại Giêrusalem. Ông Môisen và ông Êlia đã thấy vinh
quang của Thiên Chúa trên núi; Lề luật và các Tiên tri
đã tiên báo những đau khổ của Đấng Messia [X. Lc 24,27]. Cuộc khổ nạn của
Chúa Giêsu đúng là do ý muốn của Chúa Cha: Chúa Con hành động
với tư cách là Người Tôi Trung của Thiên Chúa [X. Is 42,1]. Đám mây nói lên sự hiện diện
của Chúa Thánh Thần: “Cả Ba Ngôi cùng xuất hiện,
Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong nhân tính của mình,
Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói” [Th. Tôma Aquinô, Summa
theologiae, III, q. 45, a. 4, ad 2]: “Lạy Chúa Kitô là Thiên Chúa, Chúa đã hiển dung trên núi
và, tuỳ theo khả năng, các môn đệ Chúa chiêm ngưỡng
vinh quang Chúa, để mai sau khi thấy Chúa chịu đóng đinh thập
giá, họ hiểu rằng Chúa đã tự nguyện chịu
khổ hình. Rồi họ sẽ loan báo cho thế giới
biết Chúa chính là vinh quang Chúa Cha chiếu toả” [Phụng vụ
Byzantin. Kontakion in die
Transfigurationis: Menaia tou olou eniautou, v. 6]. [Back]
0556
Tại ngưỡng cửa đời
sống công khai: phép rửa; tại ngưỡng cửa cuộc
Vượt Qua: biến cố Hiển Dung. Qua phép rửa của
Chúa Giêsu, “mầu nhiệm cuộc tái sinh lần thứ nhất”
được loan báo: đó là bí tích Rửa Tội của chúng ta; Hiển
Dung là “bí tích của cuộc tái sinh lần thứ hai”: đó là
sự phục sinh riêng của chúng ta [Th. Tôma Aquinô, Summa
theologiae, III, q. 45, a. 4, ad 2]. Ngay từ bây giờ, chúng ta được tham dự vào sự
phục sinh của Chúa, nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt
động trong các bí tích của Thân Thể Chúa Kitô. Biến cố
Hiển Dung cho chúng ta được nếm trước việc ngự
đến trong vinh quang của Chúa Kitô, Đấng “sẽ biến
đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác
vinh hiển của Người” (Pl 3,21). Nhưng biến cố ấy cũng nhắc nhở chúng ta
rằng: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới
được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14,22).
“Khi ông Phêrô ước ao sống
với Đức Kitô trên núi, ông chưa hiểu gì [X. Lc 9,23]. Hỡi ông Phêrô, Chúa sẽ chỉ
dành cho ông điều đó, sau khi chết. Còn hiện nay
thì Chúa nói: Hãy xuống núi để chịu lao nhọc
ở trần gian, để phục vụ ở trần gian,
để chịu sỉ nhục, chịu đóng đinh ở trần
gian. Đấng là Sự Sống, đã xuống để bị
giết; Đấng là Bánh, đã xuống để chịu đói;
Đấng là Đường, đã xuống để chịu mệt
nhọc trên đường; Đấng là Nguồn Mạch, đã xuống
để chịu khát; còn ông lại từ chối lao nhọc
ư?” [1 Th. Augustinô, Sermo 78, 6]. [Back]
0557
Chúa Giêsu lên Giêrusalem
“Khi đã tới ngày Chúa Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Lc 9,5l) [X. Ga 13,1]. Qua quyết định này, Chúa Giêsu tỏ cho thấy Người lên Giêrusalem trong tư thế sẵn sàng để chịu chết ở đó. Người đã loan báo đến ba lần cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Người [X. Mc 8,31-33; 9,31-32; 10,32-34]. Khi tiến về Giêrusalem, Người nói: “Một ngôn sứ mà chết ngoài thành Giêrusalem thì không được!” (Lc 13,33). [Back]
0558
Chúa Giêsu gợi lại cái chết của các Tiên tri, đã bị giết ở Giêrusalem [X. Mt 23,37a]. Dù sao, Người vẫn khẩn khoản kêu gọi Giêrusalem quy tụ quanh Người: “Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Mt 23,37b). Khi nhìn thấy Giêrusalem, Người khóc thương thành ấy [X. Lc 19,41] và một lần nữa thốt lên ao ước của lòng Người: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được” (Lc 19,42). [Back]
0559
Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Messia.
Giêrusalem sẽ đón nhận Đấng Messia của mình như thế nào? Chúa Giêsu, Đấng luôn trốn tránh mọi ý đồ của dân chúng muốn tôn Người làm vua [X. Ga 6,15], đã chọn thời điểm và chuẩn bị kỹ lưỡng để tiến vào Giêrusalem, thành của “Đavid, tổ tiên Người” (Lc l,32) với tư cách là Đấng Messia [X. Mt 21,1-11]. Người được dân chúng hoan hô như con vua Đavid, như Đấng mang lại ơn cứu độ (Hosanna có nghĩa là “xin cứu”, “xin ban ơn cứu độ!”). Nhưng “Đức Vua vinh hiển” (Tv 24,7-l0) lại “ngồi trên lưng lừa con” (Dcr 9,9) tiến vào thành: Người không chinh phục Thiếu nữ Sion, hình ảnh của Hội Thánh Người, bằng mưu mẹo hay bằng bạo lực, nhưng bằng sự khiêm tốn, là bằng chứng của sự thật. Vì vậy, ngày hôm đó, thần dân của Nước Người là các trẻ em [X. Mt 21,15-16; Tv 8,3] và “những người nghèo của Thiên Chúa”, họ tung hô Người giống như các Thiên thần đã loan báo Người cho các mục đồng [X. Lc 19,38; 2,14]. Lời tung hô của họ: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” (Tv 118,26) được Hội Thánh dùng lại trong kinh “Thánh! Thánh! Thánh!” để mở đầu phụng vụ Thánh Thể tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa. [Back]
0560
Việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem tỏ cho thấy Nước Thiên Chúa đang đến. Sự kiện đó, Đức Vua Messia sắp hoàn thành bằng cuộc Vượt Qua, là sự Chết và sự Sống lại của Người. Phụng vụ Hội Thánh khởi đầu Tuần Thánh bằng việc cử hành biến cố Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem, trong Chúa Nhật Lễ Lá. [Back]
Tóm lược
“Cả cuộc đời của Đức Kitô là một giáo huấn liên tục: những lúc Người thinh lặng, các dấu lạ Người làm, việc Người cầu nguyện, tấm lòng yêu thương của Người đối với con người, sự quan tâm đặc biệt của Người đối với những người bé mọn và nghèo hèn, việc Người hoàn toàn chấp nhận hiến mình trên thập giá để cứu chuộc loài người, và cuối cùng việc Người sống lại, tất cả là sự thực hiện lời Người và sự hoàn tất Mạc Khải của Người” [ĐGH GPh II, Tông huấn Catechesi tradendae, 9]. [Back]
0562
Các môn đệ Đức Kitô phải nên giống Người cho tới khi Người được thành hình trong họ [X. Gl 4,19]. “Chúng ta được thâu nhận vào các mầu nhiệm của cuộc đời Người, nên đồng hình đồng dạng với Người, cùng chết và cùng sống lại với Người, cho tới khi cùng cai trị với Người” [CĐ Vat. II, LG 7]. [Back]
0563
Con người, hoặc mục đồng hoặc đạo sĩ, không thể gặp được Thiên Chúa ở trần gian này, nếu không quỳ xuống trước máng cỏ Bêlem và thờ lạy Thiên Chúa ẩn mình trong sự yếu đuối của một hài nhi. [Back]
0564
Chúa Giêsu, qua việc tuân phục Đức Maria và thánh Giuse, và qua việc lao động khiêm nhường trong những năm dài ở Nazareth, nêu gương thánh thiện cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày trong gia đình và trong việc lao động. [Back]
0565
Chúa Giêsu, ngay từ lúc khởi đầu đời sống công khai của Người, lúc Người chịu phép rửa, là “Người Tôi Trung” hoàn toàn hiến thân cho công trình Cứu Độ, công trình này sẽ được hoàn tất trong phép rửa là cuộc khổ nạn của Người. [Back]
0566
Các cơn cám dỗ trong hoang địa cho thấy Chúa Giêsu, Đấng Messia khiêm nhường, đã chiến thắng Satan nhờ việc Người gắn bó trọn vẹn với kế hoạch cứu độ theo ý muốn của Chúa Cha. [Back]
0567
Đức Kitô đã khai mạc Nước Trời nơi trần gian. “Thật sự, Nước này chiếu sáng trước mặt mọi người qua lời nói, hành động và sự hiện diện của Chúa Kitô” [CĐ Vat. II, LG 5]. Hội Thánh là hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Trời. Chìa khóa Nước Trời được trao cho ông Phêrô. [Back]
0568
Cuộc Hiển Dung của Chúa Kitô nhằm mục đích củng cố đức tin của các Tông Đồ để chuẩn bị cho cuộc khổ nạn: việc leo lên “núi cao” chuẩn bị cho việc leo lên đồi Calvariô. Đức Kitô, Đầu của Hội Thánh, biểu lộ điều Thân Thể Người ao ước và là điều được phản ánh trong các bí tích: đó là “niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27) [X. Th. Lêô Cả, Sermo 51, 3]. [Back]
0569
Chúa Giêsu tự nguyện lên Giêrusalem dù biết rằng tại đây Người sẽ phải chết cách khổ nhục vì sự thù nghịch của những kẻ tội lỗi [X. Dt 12,3]. [Back]
0570
Việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem cho thấy Nước Trời đang đến. Đức Vua Messia, mà trẻ em và những người có tâm hồn nghèo hèn nghênh đón, sẽ hoàn thành Nước Trời bằng cuộc Vượt Qua, là cái Chết và sự Sống lại của Người. [Back]
Chúa Giêsu Kitô đã “chịu nạn đời quan Phongtiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác”
Mầu nhiệm Vượt Qua, tức là mầu nhiệm thập giá và sự sống lại của Chúa Kitô, là trung tâm Tin Mừng mà các Tông Đồ, và sau các ngài là Hội Thánh, phải loan báo cho trần gian. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất “một lần cho mãi mãi” (Dt 9,26) nhờ cái chết cứu chuộc của Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. [Back]
0572
Hội Thánh vẫn trung thành với cách giải thích toàn bộ Thánh Kinh mà chính Chúa Giêsu đã đưa ra trước cũng như sau cuộc Vượt Qua của Người: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đã xảy ra cụ thể trong lịch sử do việc Người đã “bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ” (Mc 8,31); và họ đã “nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá” (Mt 20,19). [Back]
0573
Vì vậy đức tin có thể nỗ lực tìm hiểu kỹ càng các tình tiết về cái chết của Chúa Giêsu, được các sách Tin Mừng trung thành lưu truyền và được các nguồn lịch sử khác soi sáng, để hiểu rõ hơn ý nghĩa của công trình Cứu Chuộc. [Back]
0574
Chúa Giêsu và Israel
Ngay từ đầu sứ
vụ công khai của Chúa Giêsu, những người Pharisêu và
nhóm Hêrôđê, cùng với các tư tế và kinh sư đã toa rập
với nhau để hại Người [X. Mc 3,6]. Vì một số
hành động của Người (như trừ quỷ [X. Mt
12,24], tha tội [X. Mc 2,7], chữa bệnh ngày sabat [X. Mc
3,1-6], đưa
ra những giải thích riêng về sự thanh sạch theo
pháp lý [X. Mc 7,14-23], thân thiện với những người thu
thuế và những kẻ tội lỗi công khai [X. Mc
2,14-17]),
Chúa Giêsu bị một số người có ý xấu nghi
ngờ là Người bị quỷ ám [X. Mc 3,22; Ga
8,48; 10,20]. Người bị tố cáo về tội nói phạm thượng
[X. Mc 2,7; Ga 5,18; 10,33], về tội làm tiên tri giả [X. Ga
7,12; 7,52], về những tội thật sự thuộc về
tôn giáo mà Luật phạt tử hình bằng cách ném đá [X. Ga
8,59; 10,31]. [Back]
0575
Vì vậy, một
số việc làm và lời nói của Chúa Giêsu đã là “dấu
hiệu cho người đời chống báng” đối với giới
lãnh đạo tôn giáo tại Giêrusalem, những người mà
Tin Mừng thánh Gioan thường gọi là “người Do Thái”, hơn
là đối với đại chúng dân Thiên Chúa. Các liên hệ giữa
Chúa Giêsu với nhóm Pharisêu không phải chỉ là bất đồng.
Một số người Pharisêu đã báo cho Người biết
mối nguy hiểm đang đe dọa Người. Chúa Giêsu ca tụng
một số người trong họ, ví dụ như vị kinh sư
nói trong Mc 12,34, và nhiều lần Người đã dùng bữa
tại nhà những người Pharisêu. Chúa Giêsu xác nhận những
giáo lý chung trong nhóm tôn giáo ưu tú này của dân Chúa: việc
kẻ chết sống lại, các hình thức đạo
đức (bố thí,
ăn chay và cầu nguyện), và
thói quen gọi Thiên Chúa là Cha, tính chất trung tâm của giới
răn mến Chúa yêu người. [Back]
0576
Đối với nhiều người Israel, Chúa Giêsu xem ra hành động nghịch với những định chế căn bản của dân Chúa chọn. Người có vẻ như:
– chống lại việc tuân phục Lề luật, trong toàn bộ các giới luật thành văn, và đối với nhóm Pharisêu, trong việc giải thích truyền khẩu;
– chống lại vị trí trung tâm của Đền thờ Giêrusalem, xét như nơi thánh, nơi duy nhất Thiên Chúa lưu ngụ;
– chống lại Đức tin vào Thiên Chúa duy nhất, Đấng không ai có thể được tham dự vào vinh quang của Ngài.
Chúa Giêsu và lề luật
Khởi đầu Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đưa ra một
giáo huấn long trọng trong đó Người trình bày Lề
luật, đã được Thiên Chúa ban tại Sinai dịp Giao
Ước đầu tiên, dưới ánh sáng của ân sủng của
Giao Ước Mới: “Anh em đừng
tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môisen
hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải
là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì,
Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất
qua đi, thì một chấm một phết trong Lề luật
cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được
hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những
điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm
như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất
trong Nước Trời. Còn ai tuân hành, và dạy làm như thế,
thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời”
(Mt 5,17-19). [Back]
0578
Chúa Giêsu, Đấng Messia
của Israel, do đó là người lớn nhất trong Nước Trời,
đã phải chu toàn Lề luật, khi tuân giữ toàn bộ
Lề luật, theo chính lời Người nói, cho đến cả
những điều răn nhỏ nhất. Nói cho đúng, chính Người
là Đấng duy nhất đã có thể làm điều này một
cách trọn hảo. Những người Do Thái, theo chính họ
thú nhận, đã không bao giờ có thể chu toàn trọn
bộ Lề luật mà không vi phạm một điều răn nhỏ
nhất nào. Vì vậy trong lễ Xá Tội hằng năm,
con cái Israel cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho những lỗi
phạm Lề luật của họ. Thật vậy, Lề
luật tạo thành một tổng thể và, như thánh Giacôbê
nhắc nhở, “ai tuân giữ tất cả Lề luật,
mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì cũng
thành người có tội về hết mọi điểm” (Gc 2,10). [Back]
0579
Những người
Pharisêu rất trọng nguyên tắc tuân giữ toàn bộ Lề
luật, không những chỉ theo văn tự, mà cả theo
tinh thần nữa. Khi nêu nguyên tắc đó cho Israel, họ
đã dẫn đưa nhiều người Do Thái thời Chúa Giêsu tới
việc hết sức nhiệt thành giữ đạo. Điều
này, nếu không bị phá huỷ do việc xét đoán mọi sự
cách “giả hình”, thì nhất định đã chuẩn
bị cho dân hướng tới sự can thiệp chưa từng
thấy của Thiên Chúa, là việc thi hành trọn vẹn Lề
luật sẽ được hoàn thành bởi Đấng Công Chính duy
nhất thay cho mọi tội nhân. [Back]
0580
Việc chu toàn Lề
luật cách trọn hảo chỉ có thể được thực
hiện bởi Đấng ban hành Lề luật của Thiên
Chúa, là Ngôi Con, được sinh ra dưới Lề luật. Nơi Chúa
Giêsu, Lề luật không còn được ghi trên bia đá nữa,
nhưng “vào lòng dạ” và “vào tâm khảm” (Gr 31,33) của Người Tôi Trung, là người,
vì đã “trung thành làm sáng tỏ công lý” (Is 42,3), nên được đặt làm “Giao Ước với
dân” (Is 42,6). Chúa Giêsu chu toàn Lề luật cho đến
độ đảm nhận trên mình “lời nguyền rủa
của Lề luật” mà những ai “không bền chí thi hành
tất cả những gì được chép trong sách Luật”
đã chuốc lấy, bởi vì Đức Kitô đã
chịu chết “mà chuộc tội lỗi người ta
đã phạm trong thời Giao Ước Cũ” (Dt 9,15). [Back]
0581
Trước mắt người
Do Thái và các nhà lãnh đạo tinh thần của họ,
Chúa Giêsu xuất hiện như một “kinh sư”. Người thường
tranh luận về cách giải thích Lề luật của
các kinh sư. Nhưng đồng thời, Chúa Giêsu tất yếu phải
đối đầu với những tiến sĩ Luật bởi
vì khi trình bày cách giải thích của mình, Người
không tự giới hạn trong những cách giải thích của
họ; “vì Người giảng dạy như một Đấng
có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,28-29). Nơi Người, cùng một Lời của
Thiên Chúa đã từng vang lên trên núi Sinai để ban hành Lề
luật được ghi khắc cho ông Môisen, nay lại vang dội
trên núi Bát Phúc. Đấng là Ngôi Lời không bãi bỏ,
nhưng kiện toàn Lề luật, bằng cách đưa ra lời giải
thích tối hậu với một uy quyền thần linh:
“Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng….
Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết” (Mt 5,33-34). Chính Người, với cùng một thẩm
quyền thần linh ấy, phủ nhận một số
“truyền thống của người phàm” (Mc 7,8) của nhóm
Pharisêu, vì những truyền thống đó hủy bỏ
Lời Thiên Chúa. [Back]
0582
Đi xa hơn nữa, Chúa
Giêsu còn kiện toàn Lề luật về sự thanh sạch
của các thức ăn, một điều hết sức quan trọng
trong cuộc sống hằng ngày của người Do Thái, khi
Người cho thấy ý nghĩa “quản giáo” của luật
ấy bằng lời giải thích thần linh: “Bất cứ
cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể
làm cho con người ra ô uế…. Như vậy là Người tuyên bố
mọi thức ăn đều thanh sạch…. Cái gì từ
trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người
ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người,
phát xuất những ý định xấu” (Mc 7,18-21). Khi lấy thẩm quyền thần linh
mà đưa ra lời giải thích tối hậu về Lề luật,
Chúa Giêsu ở trong tình thế đối nghịch với
một số kinh sư không chấp nhận lời giải
thích của Người, mặc dù lời giải thích này được
củng cố bằng những dấu lạ thần linh
kèm theo. Điều này đặc biệt đúng, trong vấn đề
ngày sabat. Chúa Giêsu thường dựa trên chính lập luận của
các kinh sư, để nhắc nhở rằng luật nghỉ
ngơi ngày sabat không bị vi phạm khi phục vụ Thiên Chúa
hay phục vụ người lân cận, như trường hợp
các lần Người chữa lành. [Back]
Chúa Giêsu và đền thờ
Chúa
Giêsu, cũng như các Tiên tri trước Người, tỏ lòng
tôn kính rất sâu xa đối với Đền thờ Giêrusalem. Ở
đó, Người đã được thánh Giuse và Đức Maria tiến
dâng, bốn mươi ngày sau khi Người ra đời [X. Lc 2,22-39]. Lúc mười hai tuổi, Người quyết
định ở lại trong Đền thờ để nhắc cha
mẹ Người nhớ rằng Người phải lo việc
của Cha Người [X.
Lc 2,46-49]. Trong quãng đời
ẩn dật của Người, Người đều lên Đền
thờ mỗi năm ít nhất để mừng lễ Vượt
Qua [X. Lc 2,41]; thừa tác vụ công khai của Người
được đánh dấu như theo nhịp điệu những lần
Người hành hương lên Giêsusalem vào những dịp lễ lớn
của người Do Thái [X.
Ga 2,13-14; 5,1.14; 7,1.10.14; 8,2; 10,22-23]. [Back]
0584
Chúa Giêsu lên Đền thờ
với tính cách là đến một nơi để gặp gỡ
Thiên Chúa. Đối với Người, Đền thờ là nhà của
Cha Người, nhà cầu nguyện, và Người phẫn nộ
bởi vì tiền đường Đền thờ đã trở
thành nơi buôn bán. Sở dĩ Người xua đuổi những kẻ
buôn bán ra khỏi Đền thờ, đó là vì lòng yêu mến
nhiệt thành đối với Cha Người: “Đừng biến
nhà Cha tôi thành nơi buôn bán. Các môn đệ của Người nhớ
lại lời đã chép trong Thánh Kinh: ‘Vì nhiệt tâm
lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân’ (Tv 69,10)” (Ga 2,16-17). Sau khi Người phục sinh, các Tông Đồ
vẫn giữ một lòng tôn kính đạo hạnh đối
với Đền thờ. [Back]
0585
Tuy nhiên, ngay trước
cuộc khổ nạn của Người, Chúa Giêsu đã tiên
báo sự sụp đổ của công trình kiến trúc
nguy nga ấy, tại đó sẽ không còn tảng đá nào nằm
trên tảng đá nào. Người loan báo sự việc ấy như
là một dấu chỉ của thời đại sau cùng, thời
đại được khai mở bằng cuộc Vượt Qua của
Người. Nhưng lời tiên báo đó đã bị những kẻ
làm chứng gian bóp méo khi được thuật lại trong cuộc
thẩm vấn Người trước mặt vị thượng tế.
Người ta còn dùng lời ấy để nhục mạ
Người khi Người bị đóng đinh trên thập giá. [Back]
0586
Chúa Giêsu không hề có
thái độ thù nghịch Đền thờ, chính tại đó Người
đã giảng dạy một phần giáo huấn quan trọng
của Người, Người đã muốn nộp thuế Đền
thờ cho mình và cho ông Phêrô mà Người vừa mới đặt
làm nền tảng cho Hội Thánh tương lai của Người.
Hơn nữa, Người tự đồng hóa mình với Đền
thờ khi tự giới thiệu mình là nơi ở vĩnh
viễn của Thiên Chúa giữa loài người. Chính vì vậy
mà việc thân thể Người bị sát hại loan báo việc
Đền thờ bị phá hủy, điều đó cho thấy lịch
sử cứu độ đã bước vào một thời đại
mới: “Đã đến giờ các người sẽ thờ
phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem” (Ga 4,21) [Back]
Chúa Giêsu và Đức Tin của Israel vào Thiên
Chúa duy nhất và là Đấng Cứu Độ
Nếu Lề luật và
Đền thờ Giêrusalem đã có thể là cớ để giới
cầm quyền tôn giáo Israel “chống báng” [X. Lc 2,34] Chúa Giêsu, thì
nhiệm vụ của Người trong công trình Cứu
Chuộc các tội nhân, một công trình tuyệt hảo
của Thiên Chúa, mới thật sự là viên đá gây vấp phạm
đối với họ [X. Lc 20,17-18; Tv 118,22]. [Back]
0588
Chúa Giêsu đã là cớ
vấp phạm (scandalum) cho những người Pharisêu, khi Người
dùng bữa với những người thu thuế và tội lỗi
một cách rất thân mật, giống như với chính họ.
Chống lại những người “tự hào cho mình là
công chính mà khinh chê người khác” (Lc 18,9), Chúa Giêsu
xác quyết: “Tôi không đến để kêu gọi người công
chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối
ăn năn” (Lc 5,32). Người còn đi xa hơn nữa, khi tuyên
bố trước mặt nhóm Pharisêu rằng, mọi người
đều có tội, cho nên ai tự cho mình là không cần
được cứu độ, là người đui mù về chính bản
thân mình. [Back]
0589
Chúa Giêsu đã là cớ
vấp phạm đặc biệt bởi vì Người
đã đồng hóa cách xử sự nhân từ của Người
đối với các tội nhân, với cách xử sự của
chính Thiên Chúa đối với họ. Người còn đi đến
chỗ muốn cho người ta hiểu rằng, qua việc
Người đồng bàn với các tội nhân, Người đón nhận
những người đó vào bàn tiệc của Đấng Messia.
Nhưng đặc biệt khi Người tha tội, Chúa Giêsu đã
đặt các nhà cầm quyền tôn giáo của Israel trước một
tình thế tiến thoái lưỡng nan. Họ đã chẳng
sửng sốt nói rất đúng sao: “Ai có quyền tha tội,
ngoài một mình Thiên Chúa?” (Mc 2,7)? Chúa Giêsu,
khi Người tha tội, thì hoặc là Người nói phạm
thượng, bởi vì là người mà dám coi mình ngang
hàng với Thiên Chúa, hoặc là Người nói đúng, thì như vậy,
Con Người của Người làm hiện diện và mạc khải
thánh Danh của Thiên Chúa. [Back]
0590
Chỉ có căn tính thần
linh của Con Người Giêsu mới có thể biện minh cho
một đòi hỏi tuyệt đối thế này: “Ai không
đi với tôi, là chống lại tôi” (Mt 12,30); cũng
vậy, khi Người nói về mình: “Đây thì còn
hơn ông Giôna nữa. …, còn hơn vua Salômôn nữa” (Mt 12,41-42), hoặc lớn hơn cả Đền thờ;
Người cũng nói về mình, khi nhắc lại lời
vua Đavid đã gọi Đấng Messia là Chúa của ông; khi Người
xác quyết: “Trước khi có ông Abraham, thì tôi, Tôi Hằng
Hữu” (Ga 8,58); thậm chí Người còn nói: “Tôi và
Chúa Cha là một” (Ga
10,30). [Back]
0591
Chúa Giêsu yêu cầu các
nhà cầm quyền tôn giáo ở Giêrusalem hãy tin vào Người
vì những công việc của Cha Người mà Người
đã thực hiện. Nhưng hành vi đức tin như vậy
đòi phải chết đối với bản thân, để
được “sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” với
sự lôi kéo của ân sủng của Thiên Chúa. Một
đòi hỏi hối cải triệt để như vậy khi
đứng trước sự thực hiện các lời hứa
cách lạ lùng giúp chúng ta hiểu được sự sai lầm
bi thảm của Thượng Hội Đồng khi phán quyết
Chúa Giêsu đáng phải chết vì là kẻ nói phạm thượng
[X. Mc 3,6; Mt 26,64-66]. Như vậy các thành viên của Thượng Hội
Đồng đã hành động vừa do “không biết việc
họ làm”, vừa vì sự chai đá cứng lòng
không chịu tin. [Back]
Tóm lược
Chúa
Giêsu không bãi bỏ nhưng làm cho nên trọn cách hết sức
hoàn hảo Lề luật Sinai: Người đã mạc
khải ý nghĩa tối hậu của Lề luật
và chuộc lại các vi phạm Lề luật. [Back]
0593
Chúa Giêsu tôn trọng Đền thờ: Người lên Đền thờ vào những dịp lễ hành hương của người Do Thái và Người yêu mến với một tình yêu tha thiết nơi Thiên Chúa ở giữa loài người. Đền thờ báo trước mầu nhiệm của Người. Người loan báo sự sụp đổ của Đền thờ, như một biểu hiện việc chính Người sẽ bị giết và việc lịch sử cứu độ bước vào một thời đại mới trong đó Thân Thể Người sẽ là Đền thờ vĩnh viễn. [Back]
0594
Chúa Giêsu làm những hành vi, như việc tha tội, biểu lộ rằng Người là chính Thiên Chúa Cứu Độ [X. Ga 5,16-18]. Một số người Do Thái, không nhận biết Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người [X. Ga 1,14], chỉ thấy Người là một phàm nhân mà lại tự cho mình là Thiên Chúa [X. Ga 10,33], nên đã kết án Người là kẻ nói phạm thượng. [Back]
Chúa Giêsu “chịu đóng đinh trên cây thánh
giá, chết”
Vụ án Chúa Giêsu
Những chia rẽ giữa các nhà cầm quyền Do Thái về
Chúa Giêsu.
Giữa các nhà cầm quyền
tôn giáo ở Giêrusalem, không kể ông Nicôđêmô thuộc nhóm
Pharisêu [X. Ga 7,50] và ông Giuse, người Arimathêa, một nhân vật
quyền thế, cả hai là những môn đệ âm thầm của
Chúa Giêsu [X. Ga 19,38-39], nhưng từ lâu những người khác
đã có sự bất đồng với nhau về Người [X. Ga
9,16-17; 10,19-21], đến độ, hôm trước cuộc khổ nạn, thánh
Gioan đã có thể nói: “Ngay cả trong giới lãnh đạo
Do thái, cũng có nhiều người đã tin vào Chúa Giêsu.
Nhưng họ không dám xưng ra, vì sợ bị nhóm Pharisêu
khai trừ khỏi Hội Đường” (Ga 12,42). Điều này hoàn toàn
không có gì lạ nếu chúng ta lưu ý rằng ngay sau
lễ Ngũ Tuần, “cũng có một đám rất đông các tư
tế đón nhận đức tin” (Cv 6,7) và “có những người
thuộc phái Pharisêu đã trở thành tín hữu” (Cv
15,5), đến
độ thánh Giacôbê đã có thể nói với thánh Phaolô rằng:
“Thưa anh, anh thấy có hàng vạn người Do thái đã tin
theo, và tất cả đều nhiệt thành đối với luật
Môisen” (Cv 21,20). [Back]
0596
Các nhà cầm quyền tôn
giáo ở Giêrusalem đã không nhất trí với nhau về
cách xử sự đối với Chúa Giêsu [X. Ga 9,16;
10,19]. Nhóm
Pharisêu dọa khai trừ những ai đi theo Người [X. Ga
9,22]. Với
những ai sợ rằng “mọi người sẽ tin vào ông ấy,
rồi người Rôma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh
của ta lẫn dân tộc ta!” (Ga 11,48), thượng tế
Caipha đã đề nghị bằng lời tiên tri: “Các ông cũng
chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một
người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”.
Thượng Hội Đồng tuyên bố Chúa Giêsu đáng phải chết
vì tội nói phạm thượng, nhưng vì đã mất
quyền tuyên án tử hình, nên họ đã nộp
Chúa Giêsu cho người Rôma và tố cáo Người về tội
nổi loạn chính trị [X. Lc 23,2], điều đó khiến
Người bị liệt đồng hàng với Barabbas, một
người bị tống ngục “vì một vụ bạo
động” (Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời
đe dọa mang tính chất chính trị để buộc quan
Philatô kết án tử hình Chúa Giêsu [X. Ga
19,12.15.21]. [Back]
0597
Người Do Thái không có tội một cách tập thể về cái chết của Chúa Giêsu.
Xét đến tính chất phức tạp về mặt lịch sử của vụ án Chúa Giêsu, được biểu lộ trong các trình thuật của các sách Tin Mừng, và bất cứ tội cá nhân nào của những người tham gia vụ án này (Giuđa, Thượng Hội Đồng, Philatô) chỉ mình Thiên Chúa biết, nên chúng ta không thể quy trách nhiệm cho mọi người Do thái ở Giêrusalem, mặc dù đã có những tiếng la ó của đám đông bị lừa gạt [X. Mc 15,11], và những lời trách cứ tập thể trong các bài giảng kêu gọi hối cải sau lễ Ngũ Tuần. Chính Chúa Giêsu trên thập giá đã tha thứ cho họ [X. Lc 23,34], và sau Người, thánh Phêrô cũng coi những người Do thái ở Giêrusalem và cả các thủ lãnh của họ là đã hành động vì “không hiểu biết” [X. Cv 3,17]. Càng không được mở rộng trách nhiệm đến những người Do thái ở những nơi chốn khác và thời đại khác, căn cứ vào tiếng la ó của dân chúng: “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi” (Mt 27,25), vì đây chỉ là một công thức thừa nhận bản án [X. Cv 5,28; 18,6]. Vì vậy, Hội Thánh đã tuyên bố tại Công đồng Vaticanô II: Không thể quy trách nhiệm một cách không phân biệt về những tội ác người ta đã phạm trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu cho mọi người Do thái thời đó, cũng như cho người Do thái thời nay… Không thể nói rằng Thiên Chúa đã loại bỏ người Do thái hoặc đã chúc dữ cho họ, coi đó như là điều được dạy trong Thánh Kinh” [CĐ Vat. II, Nostra aetate, 4]. [Back]
0598
Mọi tội nhân đều là tác giả của cuộc khổ nạn của Đức Kitô.
Trong giáo huấn đức
tin của mình và trong chứng từ của các Thánh, Hội
Thánh không bao giờ quên chân lý này: “Các tội nhân là những
tác giả và tác viên của mọi cực hình mà Đức
Kitô đã phải chịu” [Catechismus Romanus, 1, 5, 11:
ed. P. Rodriguez (Città del Vaticano-Pamplona 1989) 64. x. Dt 12,3]. Xét vì tội
lỗi của chúng ta xúc phạm đến chính Đức Kitô [X. Mt
25,45; Cv 9,4-5], Hội Thánh không ngần ngại quy trách nhiệm tối
đa về các cực hình Chúa Giêsu phải chịu cho các
Kitô hữu, một trách nhiệm mà họ rất thường
trút trên một mình người Do thái: “Chúng ta phải coi
những kẻ thường xuyên sa ngã trong tội lỗi
là những người đã phạm lỗi tầy trời ấy.
Bởi lẽ tội lỗi của chúng ta đã làm Chúa
Kitô phải chịu khổ hình thập giá, nên chắc
chắn, chính những ai chìm đắm trong gian tà và tội
ác, là những người đã tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa
vào thập giá một lần nữa và đã công khai sỉ
nhục Người. Quả thật, có thể thấy rằng
như vậy tội ác của chúng ta là nặng nề hơn của
người Do thái, vì những người này, theo thánh Tông Đồ,
‘nếu biết, họ đã chẳng đóng đinh Chúa hiển
vinh vào thập giá’ (1 Cr 2,8); còn chúng ta, chúng ta
tuyên xưng rằng chúng ta biết Người, nên khi chúng ta chối
bỏ Người bằng hành động, thì một cách nào
đó coi như chúng ta đã ra tay tàn nhẫn giáng trên Người” [Catechismus
Romanus, 1, 5, 11].
“Và ma quỷ cũng
không đóng đinh Người vào thập giá, nhưng chính bạn cùng với
chúng đã đóng đinh Người, và bạn còn đóng đinh Người
bằng cách hưởng lạc thú trong các nết xấu và tội
lỗi” [Th. Phanxicô
Assisi, Admonitio, 5,3]. [Back]
Cái chết cứu chuộc của Đức Kitô trong kế
hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa
“Chúa Giêsu bị nộp theo kế hoạch Thiên Chúa đã định”
Cái chết tàn nhẫn của
Chúa Giêsu không phải là kết quả ngẫu nhiên do sự
kết hợp của những tình huống bất hạnh.
Cái chết đó thuộc về mầu nhiệm của kế
hoạch của Thiên Chúa, như thánh Phêrô giải thích cho người
Do thái ở Giêrusalem ngay từ bài giảng đầu tiên trong
ngày lễ Ngũ Tuần: Người đã bị nộp
“theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước”
(Cv 2,23). Thánh Kinh nói như vậy không có nghĩa là những kẻ
đã “nộp Chúa Giêsu” [X. Cv 3,13] chỉ là những người
thụ động làm theo một kịch bản do Thiên Chúa viết
trước. [Back]
0600
Đối với Thiên
Chúa mọi thời điểm trong tính thời sự của
nó đều là hiện tại. Vì vậy, chính Thiên Chúa thiết
lập kế hoạch “tiền định” vĩnh cửu của
Ngài, Ngài bao gồm trong kế hoạch ấy lời đáp trả
tự do của mỗi người đối với ân sủng của
Ngài: “Đúng vậy, Hêrôđê, Phongxiô Philatô, cùng với chư dân và dân
Israel đã toa rập trong thành này, chống lại tôi tớ
thánh của Ngài là Chúa Giêsu, Đấng Ngài đã xức dầu.
Như thế họ đã thực hiện tất cả những
gì quyền năng và ý muốn của Ngài đã định
trước” (Cv
4,27-28). Thiên Chúa cho phép xảy
ra những hành vi xuất phát từ sự mù quáng của họ,
để hoàn thành kế hoạch cứu độ của Ngài. [Back]
0601
Đức Kitô “đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như lời Thánh Kinh”
Kế hoạch cứu độ
của Thiên Chúa về việc “Người Tôi Trung Công Chính” bị
giết [X. Is 53,11; Cv 3,14] đã được báo trước
trong Thánh Kinh như một mầu nhiệm Cứu Chuộc phổ
quát, nghĩa là, giải thoát người ta khỏi ách nô lệ
tội lỗi [X. Is 53,11-12; Ga 8,34-36]. Thánh Phaolô, trong lời
tuyên xưng đức tin mà ngài nói mình đã “lãnh nhận”
[X. 1 Cr 15,3], tuyên xưng rằng “Đức Kitô đã chết vì tội
lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh” (1 Cr 15,3). Sự chết
mang lại ơn cứu chuộc của Đức Kitô hoàn thành một
cách đặc biệt lời tiên tri về Người Tôi trung đau
khổ [X. Is 53,7-8; Cv 8,32-35]. Chính Chúa Giêsu đã
trình bày ý nghĩa cuộc đời và sự chết
của Người dưới ánh sáng về Người Tôi trung đau khổ.
Sau khi Người sống lại, Người đã giải
thích Thánh Kinh như vậy cho các môn đệ Emmaus, rồi cho chính
các Tông Đồ [X. Lc 24,44-45]. [Back]
0602
Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta.
Chính vì thế thánh
Phêrô có thể diễn tả đức tin tông truyền về
kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa như sau: “Anh em
đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm
do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu
chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn,
vô tì tích, là Đức Kitô. Người là Đấng Thiên Chúa
đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được
dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em
trong thời cuối cùng này” (1 Pr 1,18-20). Các tội người
ta phạm, tiếp theo sau tội tổ tông, khiến người
ta phải chết [X. Rm 5,12; 1 Cr 15,56]. Khi sai Con Một của
Ngài đến trong thân phận tôi tớ, tức là trong thân phận
loài người đã sa ngã và tất phải chết
vì tội lỗi [X. Rm 8,3], “Đấng chẳng hề
biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến
Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng
ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr
5,21). [Back]
0603
Vì không phạm tội,
Chúa Giêsu không bao giờ biết đến việc bị Thiên
Chúa loại bỏ [X. Ga 8,46]. Nhưng trong tình yêu cứu
chuộc, một tình yêu hằng kết hợp Người
với Chúa Cha [X. Ga 8,29], Người đã đảm nhận lấy
chúng ta, những kẻ đang vì tội lỗi mà lạc
đường lìa xa Thiên Chúa, đến độ trên thập giá,
Người đã có thể thốt lên thay chúng ta: “Lạy
Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con!” (Mc 15,34). Vì đã kết hợp Đức
Kitô với chúng ta là các tội nhân, nên Thiên Chúa “đã chẳng
tiếc, nhưng đã trao nộp chính Con Một của Ngài
vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32), để
chúng ta “được giao hoà với Thiên Chúa nhờ cái chết của
Con Một Ngài” (Rm
5,10). [Back]
0604
Thiên Chúa đã khởi xướng trong tình yêu cứu chuộc mọi người.
Khi trao nộp Con của
Ngài vì tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa biểu lộ kế
hoạch của Ngài là một kế hoạch của
tình yêu lân mẫn, đi trước mọi công trạng của
chúng ta: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải
chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu
thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền
tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Đức Kitô đã chết
vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội
lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm
5,8). [Back]
0605
Tình yêu này không loại
trừ một ai. Chúa Giêsu nhắc lại điều đó để
kết luận dụ ngôn về con chiên lạc: “Cũng vậy,
Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn
cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất”
(Mt 18,14). Người quả quyết Người “hiến
dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Lời tuyên bố quan trọng này không
mang ý nghĩa hạn chế: lời đó đặt song đối
tập thể nhân loại với một mình Đấng
Cứu Chuộc, Đấng tự hiến để cứu độ
nhân loại ấy. Hội Thánh, theo sau các Tông Đồ, dạy
rằng: Đức Kitô đã chết cho tất cả mọi
người không trừ một ai. “Trước kia, hiện nay cũng
như sau này, không có một ai mà Người [Đức Kitô] không chịu khổ
nạn cho” [CĐ Carisia (năm 853), De libero arbitrio hominis et de
praedestinatione, canon 4]. [Back]
Đức Kitô đã tự hiến cho Chúa Cha vì tội lỗi chúng ta.
Cả cuộc đời của Đức Kitô là của lễ dâng hiến Chúa Cha
Con Thiên Chúa, Đấng từ
trời xuống, không phải để làm theo ý Người,
nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Người” [X. Ga
6,38], “khi
vào trần gian, Người nói: ‘Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến
để thực thi ý Ngài’… theo ý đó, chúng ta được
thánh hóa, nhờ Chúa Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình
làm lễ tế, một lần cho mãi mãi” (Dt
10,5-10).
Ngay từ phút đầu tiên Người nhập thể, Chúa Con
đã gắn bó với kế hoạch cứu độ của
Thiên Chúa trong sứ vụ cứu chuộc của mình:
“Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của
Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của
Ngài” (Ga 4,34). Hy lễ của Chúa Giêsu “đền bù tội lỗi cả
thế gian” (1 Ga 2,2) là sự diễn tả tình yêu hiệp
thông của Người với Chúa Cha: “Sở dĩ Chúa Cha yêu
mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình” (Ga
10,17). Thế
gian phải “biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm
đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14,31). [Back]
0607
Sự khao khát gắn bó với kế hoạch yêu thương cứu
chuộc của Chúa Cha truyền cảm hứng cho cả
cuộc đời Chúa Giêsu, bởi vì cuộc khổ nạn
cứu chuộc của Người là lý do việc Người
nhập thể: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ
này! Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga
12,27).
“Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng
uống?” (Ga 18,11). Và trên thập giá, trước khi mọi sự
“đã hoàn tất” (Ga 19,30), Người nói: “Tôi khát!” (Ga 19,28). [Back]
0608
Chiên xoá tội trần gian
Sau
khi chấp nhận làm phép rửa cho Chúa Giêsu giữa các tội
nhân [X. Lc 3,21; Mt
3,14-15], ông Gioan Tẩy Giả
đã thấy và giới thiệu Người là Chiên Thiên Chúa,
Đấng xoá tội trần gian. Như vậy ông cho thấy rằng
Chúa Giêsu đồng thời vừa là Người Tôi trung đau khổ,
im lặng chịu đem đi làm thịt và mang lấy tội lỗi
muôn người [X. Is
53,12], vừa là Chiên Vượt
Qua, biểu tượng cho việc Cứu Chuộc Israel trong
cuộc Vượt Qua đầu tiên. Cả cuộc đời của
Đức Kitô diễn tả sứ vụ của Người: phục
vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người
[X. Mc 10,45]. [Back]
0609
Chúa Giêsu tự do gắn bó với tình yêu cứu chuộc của Chúa Cha.
Khi gắn bó với
tình yêu của Chúa Cha đối với loài người trong
trái tim nhân loại của mình, Chúa Giêsu “đã yêu
thương họ đến cùng” (Ga 13,1), bởi vì “không có
tình thương nào cao cả hơn tình thương của người
đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của
mình” (Ga 15,13). Như vậy, nhân tính của Người trong cuộc
khổ nạn và cái chết, đã trở thành dụng cụ
tự do và hoàn hảo của tình yêu thần linh của
Người, một tình yêu muốn cứu độ mọi
người. Thật vậy, Người đã tự do chấp
nhận cuộc khổ nạn và cái chết vì
tình yêu đối với Cha Người và đối với loài
người mà Người muốn cứu độ: “Mạng sống
của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự
ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Do đó, Con Thiên Chúa
đã tự do tột bậc khi Người tiến tới
cái Chết [X. Ga 18,4-6; Mt 26,53]. [Back]
0610
Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu thực hiện trước việc tự nguyện dâng hiến mạng sống của mình.
Chúa Giêsu đã diễn tả
cách hết sức rõ ràng việc Người tự nguyện
dâng hiến chính mình trong bữa tiệc Người ăn với
mười hai Tông Đồ [X. Mt 16,20] “trong đêm bị nộp” (1 Cr
11,23). Hôm
trước ngày chịu nạn, khi còn hoàn toàn tự do,
Chúa Giêsu đã biến bữa Tiệc cuối cùng với
các Tông Đồ của Người thành lễ tưởng niệm
việc Người tự nguyện dâng hiến chính mình
cho Chúa Cha để cứu độ nhân loại: “Đây là Mình
Thầy, bị nộp vì anh em” (Lc 22,19). “Đây là Máu Thầy,
Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt
26,28). [Back]
0611
Bí tích Thánh Thể mà
Chúa Giêsu đã thiết lập lúc đó, sẽ là “việc tưởng
niệm” hy tế của Người. Người bao gồm các
Tông Đồ vào sự dâng hiến chính mình Người và dạy
họ lưu truyền việc dâng hiến này mãi mãi.
Như vậy, Chúa Giêsu đã đặt các Tông Đồ của Người
làm tư tế của Giao Ước Mới: “Vì họ, con
xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật,
họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,19) [X. CĐ Triđentinô, Sess. 22a, Doctrina de
sanctissimo Missae Sacrificio, c. 2; Sess. 23a, Doctrina de sacramento Ordinis,
c.1]. [Back]
0612
Cơn hấp hối trong vườn Giêtsêmani
Chúa Giêsu đã tham dự trước chén của Giao Ước Mới khi Người tự hiến trong bữa Tiệc Ly [X. Lc 22,20], rồi Người nhận lấy chén đó từ tay Chúa Cha trong cơn hấp hối của Người tại vườn Giêtsêmani, khi Người “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8). Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này…” (Mt 26,39). Như vậy Người diễn tả nỗi khiếp sợ mà bản tính nhân loại của Người cảm nghiệm trước cái Chết. Thật vậy, bản tính nhân loại của Chúa Giêsu, cũng như của chúng ta, được nhắm đến sự sống vĩnh cửu; nhưng khác với chúng ta, bản tính nhân loại của Người hoàn toàn không có tội, mà tội mới gây nên sự chết; nhưng đặc biệt, bản tính nhân loại của Người đã được đảm nhận bởi Ngôi Vị thần linh của “Đấng khơi nguồn sự sống”, “Đấng hằng sống”. Khi chấp nhận thánh ý Chúa Cha bằng ý chí nhân loại của mình [X. Mt 26,42], Chúa Giêsu chấp nhận cái Chết có giá trị cứu chuộc của mình, để “tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1 Pr 2,24). [Back]
0613
Cái chết của Đức Kitô là hy lễ duy nhất và tối hậu.
Cái chết của Đức
Kitô đồng thời vừa là hy lễ Vượt Qua, mang lại
ơn Cứu Chuộc tối hậu cho loài người [X. 1 Cr
5,7; Ga 8,34-36], nhờ Con Chiên, Đấng xoá tội trần gian [X. Ga 1,29;
1 Pr 1,19],
vừa là hy lễ của Giao Ước Mới [X. 1 Cr
11,25], cho
con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi
giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra
cho muôn người được tha tội [X. Mt 26,28; Lv
16,15-16]. [Back]
0614
Hy lễ này của Đức
Kitô là duy nhất, hy lễ đó hoàn tất và vượt hơn hẳn
mọi hy lễ [X. Dt 10,10]. Trước hết, hy lễ đó là một hồng
ân của chính Thiên Chúa Cha: Chúa Cha trao nộp Con của Ngài để
giao hòa chúng ta với Ngài [X. 1 Ga 4,10]. Đồng thời,
đây là sự dâng hiến của Con Thiên Chúa làm người, Đấng,
vì tình yêu [X. Ga 15,13], tự ý dâng hiến
mạng sống mình cho Cha của Người nhờ Chúa
Thánh Thần, để đền bù sự bất tuân của chúng
ta. [Back]
0615
Chúa Giêsu đền thay sự bất tuân của chúng ta bằng sự vâng phục của Người.
“Cũng như vì một
người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn
người thành tội nhân, thì nhờ một người
duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng
sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Chúa Giêsu, bằng sự
vâng phục cho đến chết của Người, đã hoàn
thành việc đền thay của Người Tôi trung đau khổ,
là hiến thân làm hy lễ đền tội, mang lấy tội
lỗi của muôn người và làm cho họ nên công chính khi
gánh lấy tội lỗi của họ [X. Is
53,10-12].
Chúa Giêsu đã đền bù các lỗi lầm của chúng ta và
tạ tội với Chúa Cha vì tội lỗi của
chúng ta [X. CĐ Triđentinô, Sess. 6a, Decretum de iustificatione,
c. 7]. [Back]
0616
Trên thập giá, Chúa Giêsu hoàn tất hy tế của Người.
Tình yêu thương đến
cùng mang lại cho hy lễ của Đức Kitô giá trị Cứu
Chuộc và đền bù, đền tội và tạ tội. Người
đã biết và yêu thương tất cả chúng ta khi Người
dâng hiến mạng sống mình. “Tình yêu Đức
Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một
người đã chết thay cho mọi người, thì mọi
người đều chết” (2 Cr 5,14). Không một ai, dù là người
thánh thiện nhất, có khả năng mang lấy trên mình
tội lỗi của mọi người và hiến mình
làm hy lễ vì mọi người. Nơi Đức Kitô, sự
hiện hữu của Ngôi Vị Chúa Con vừa vượt hơn
hẳn vừa bao gồm tất cả các nhân vị, khiến
cho Đức Kitô là Đầu của toàn thể nhân loại, và
làm cho hy tế của Người có giá trị cứu chuộc
cho tất cả mọi người. [Back]
0617
Công đồng Triđentinô dạy: “Bằng cuộc khổ nạn
rất thánh của Người trên cây thập giá, Đức Kitô
đã lập công cho chúng ta được nên công chính” [CĐ
Triđentinô, Sess. 6a, Decretum de iustificatione, c.1], qua đó nêu rõ tính duy nhất
của hy tế của Đức Kitô, Đấng là tác giả của
ơn cứu độ vĩnh cửu. Vì vậy khi tôn kính
Thánh Giá, Hội Thánh ca hát rằng: “Kính chào Thánh Giá, niềm
hy vọng duy nhất của chúng con!” [Additio liturgica ad Hymnum “Vexilla
Regis”: Các Giờ Kinh Phụng Vụ,] [Back]
0618
Sự tham dự của chúng ta vào hy tế của Đức Kitô.
Thánh giá là hy tế duy nhất
của Đức Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên
Chúa và loài người [X. 1 Tm 2,5]. Nhưng bởi vì, trong
Ngôi Vị Thiên Chúa nhập thể của Người, “một
cách nào đó Người đã tự kết hợp với toàn
thể mọi người” [CĐ Vat. II, GS 22], nên Người
đã “ban cho mọi người một khả năng để,
theo cách Thiên Chúa biết, họ được kết hợp vào mầu
nhiệm Vượt Qua” [CĐ Vat. II, GS 22]. Người kêu gọi
các môn đệ vác thập giá mình mà theo Người [X. Mt
16,24], bởi
vì Người đã chịu khổ nạn vì chúng
ta, đã để lại một gương mẫu cho chúng ta dõi
bước theo Người. Quả thật, Người cũng muốn
những người đầu tiên hưởng nhờ hy tế cứu
chuộc của Người được kết hợp vào hy tế
ấy. Điều đó được thực hiện, một cách cao cả
nhất, nơi Mẹ Người, Mẹ được kết hợp
vào mầu nhiệm cuộc khổ nạn cứu chuộc
của Người một cách mật thiết hơn bất cứ
ai khác [X. Lc 2,35]. “Đây là chiếc thang thật và duy nhất của
thiên đàng, và ngoài thập giá, không có chiếc thang nào khác để
lên trời” [Th. Rôsa
Lima]. [Back]
Tóm lược
“Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Thánh Kinh” (1 Cr 15,3). [Back]
0620
Ơn cứu độ của chúng ta xuất phát từ sự khởi xướng của tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta “chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được giao hoà với Ngài” (2 Cr 5,19). [Back]
0621
Chúa Giêsu đã tự hiến một cách tự do để cứu độ chúng ta. Người tỏ cho thấy và thực hiện trước việc ban tặng này trong bữa Tiệc Ly: “Đây là mình Thầy, bị nộp vì anh em” (Lc 22,19). [Back]
0622
Công
trình Cứu Chuộc của Đức Kitô cốt tại
điều này: Người “đến… hiến dâng mạng sống
làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28), nghĩa là, “Người
yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), để họ được
cứu chuộc khỏi lối sống phù phiếm do cha
ông họ truyền lại. [Back]
0623
Nhờ
sự vâng phục vì tình yêu đối với Chúa
Cha, vâng phục trọn vẹn cho đến nỗi “chết
trên cây thập tự” (Pl 2,8), Chúa Giêsu đã hoàn thành sứ vụ
đền tội của Người Tôi trung đau khổ, Đấng
làm cho muôn người nên công chính và chính Người gánh lấy tội
lỗi của họ. [Back]
Chúa Giêsu Kitô được
táng xác
Chúa Giêsu “đã phải nếm sự chết, là để cho
mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa” (Dt 2,9). Trong kế hoạch cứu
độ của Ngài, Thiên Chúa đã định cho Con của Ngài
không những phải chết “vì tội lỗi chúng
ta” (1 Cr 15,3), nhưng còn phải
“nếm sự chết”, nghĩa là, biết tình trạng
của sự chết, tình trạng linh hồn Người
và thân thể Người tách rời nhau một thời gian, từ
lúc Người tắt thở trên thập giá cho đến lúc Người
sống lại. Tình trạng Chúa Giêsu chịu chết
là mầu nhiệm của việc mai táng và việc xuống
ngục tổ tông. Đó là mầu nhiệm của ngày Thứ
Bảy Tuần Thánh trong đó Đức Kitô, được đặt trong
mồ, biểu lộ sự nghỉ ngơi cao cả của
Thiên Chúa vào ngày sabat, sau khi hoàn tất công trình cứu độ
loài người, đem lại bình an cho khắp trần gian. [Back]
0625
Thân thể Đức Kitô ở trong mộ
Khoảng thời gian Đức Kitô ở
trong mộ thật sự nối kết tình trạng
còn chịu đau đớn trước cuộc Vượt Qua của
Người, với tình trạng vinh hiển hiện tại
của Đấng Phục Sinh. Chính Ngôi Vị của Đấng
Hằng Sống có thể nói: “Ta đã chết, và nay Ta sống
đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,18): Đây là mầu nhiệm của sự
sắp đặt của Thiên Chúa đối với cái Chết và
sự Sống Lại từ cõi chết của Con
Ngài, là bằng cái chết, linh hồn quả thật bị
tách biệt khỏi thân thể, và Ngài đã không ngăn cản
hậu quả tất yếu của tự nhiên; tuy nhiên, nhờ
sự Sống Lại, mọi sự đã lại kết
hợp với nhau nơi Người, đến độ Người thật
sự trở thành giao điểm của sự chết và sự
sống: để Đấng đã thiết lập điều tự
nhiên bị tách biệt bằng cái chết, thì chính Người
đã là nguyên lý kết hợp những gì
đã bị tách biệt. [Back]
0626
Bởi vì Đấng khơi nguồn sự sống đã bị giết cũng là Đấng hằng sống đã phục sinh, nên tất yếu là Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa vẫn tiếp tục đảm nhận linh hồn và thân thể của Người khi cả hai bị tách biệt với nhau vì cái chết: Vì vậy, mặc dầu Đức Kitô, như một người, đã chết, và linh hồn thánh của Người đã lìa khỏi thân thể tinh tuyền của Người, nhưng thần tính không tách biệt khỏi bên nào, không hề tách biệt khỏi linh hồn cũng không hề tách biệt khỏi thân thể: Ngôi Vị duy nhất của Người không bị chia ra thành hai. Quả vậy, thân thể và linh hồn ngay từ đầu đã hiện hữu trong Ngôi Vị của Ngôi Lời; và mặc dầu hồn xác bị tách biệt nhau trong sự chết, nhưng cả hai vẫn luôn hiện hữu nơi Ngôi Vị duy nhất của Ngôi Lời. [Back]
0627
Chúa không để Đấng Thánh của Ngài phải hư nát
Cái chết của Đức Kitô cái chết thật, vì đã chấm dứt cuộc đời nhân loại nơi trần thế của Người. Nhưng vì sự kết hợp của Ngôi Vị Chúa Con với thân thể của Người, nên thân thể ấy không trở thành một xác chết giống như trong những trường hợp khác, “vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi” (Cv 2,24), và do đó, quyền năng của Thiên Chúa đã gìn giữ thân thể Đức Kitô khỏi hư nát. Về Đức Kitô, đồng thời người ta vừa có thể nói: “Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh” (Is 53,8), vừa có thể nói: “Cả thân xác con cũng nghỉ ngơi trong niềm hy vọng. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát” (Cv 2,26-27). Sự Sống Lại của Đức Kitô “ngày thứ ba” (1 Cr 15,4; Lc 24,46) là dấu chỉ của điều đó, cũng bởi vì người ta cho rằng sự hư nát được biểu lộ từ ngày thứ tư. [Back]
0628
Cùng chịu mai táng với Đức Kitô
Bí tích Rửa Tội, mà dấu chỉ nguyên thuỷ và đầy đủ của bí tích này là việc dìm xuống nước, nói lên cách hiệu nghiệm việc Kitô hữu xuống mộ để người ấy cùng với Đức Kitô chết cho tội lỗi, hầu tiến vào một đời sống mới: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,4). [Back]
Tóm lược
Chúa Giêsu đã nếm sự chết vì mọi người. Con Thiên Chúa làm người đã chết thật sự và đã được mai táng thật sự. [Back]
0630
Trong thời gian Đức Kitô ở trong mộ, Ngôi Vị thần linh của Người vẫn luôn đảm nhận cả linh hồn cả thân thể của Người, tuy lúc đó hai bên bị cái chết tách biệt. Vì vậy, thân thể của Đức Kitô đã chết mà “không phải hư nát” (Cv 13,37). [Back]
Chúa Giêsu Kitô “xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại”
Chúa Giêsu “đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất. Đấng đã xuống, cũng chính là Đấng đã lên” (Ep 4,9-10). Tín biểu của các Tông Đồ tuyên xưng trong cùng một mục, việc Đức Kitô xuống ngục tổ tông và việc ngày thứ ba Người bởi trong kẻ chết mà sống lại, bởi vì trong cuộc Vượt Qua của Người, chính từ trong lòng cái chết mà Người làm vọt lên sự sống: Đức Kitô, Con yêu quý của Cha, Đấng đã từ cõi âm ty trở lại, đem ánh sáng thanh bình soi chiếu vạn dân, Người hằng sống hiển trị muôn đời. Amen [Back]
0632
Đức Kitô xuống
ngục tổ tông
Những xác quyết
thường xuyên của Tân Ước, theo đó Chúa Giêsu “trỗi dậy
từ cõi chết” (1 Cr 15,20),
giả thiết là, trước khi Người sống lại, Người
đã ở nơi của những người chết. Lời
rao giảng của các Tông Đồ về việc Chúa Giêsu xuống
ngục tổ tông có ý nghĩa đầu tiên này: Chúa Giêsu
đã chết giống như mọi người, và linh hồn
Người đã xuống với họ, ở nơi của những
người chết. Nhưng Người xuống đó với tư cách là Đấng
Cứu Độ, để loan báo Tin Mừng cho các vong linh bị
cầm giữ ở đó. [Back]
0633
Thánh Kinh gọi nơi ở của những người chết, mà Đức Kitô khi chết đã xuống, là âm phủ, Sheol (tiếng Do thái) hoặc Hades (tiếng Hy lạp), bởi vì những kẻ ở đó không được nhìn thấy Thiên Chúa. Thật vậy, tình trạng của mọi người đã chết, dù họ công chính hay xấu xa, đều như vậy, trong khi mong đợi Đấng Cứu Chuộc, điều này không có nghĩa là số phận của họ đều như nhau, như Chúa Giêsu cho thấy trong dụ ngôn anh Lazarô nghèo khổ được đem vào lòng ông Abraham. Khi xuống ngục tổ tông, Chúa Kitô đã giải thoát linh hồn những người công chính đang ở trong lòng ông Abraham mà mong đợi Đấng Cứu Độ. Chúa Giêsu không xuống ngục tổ tông để giải thoát những kẻ đã bị kết án hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày, nhưng để giải thoát những người công chính đã đi trước Người. [Back]
0634
“Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết” (1 Pr 4,6). Việc xuống ngục tổ tông là sự hoàn thành, một cách sung mãn, việc loan báo Tin Mừng cứu độ. Đây là chặng cuối cùng trong sứ vụ làm Đấng Messia của Chúa Giêsu, trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng trong một ý nghĩa thật hết sức rộng lớn của việc mở rộng công trình cứu chuộc cho mọi người thuộc mọi thời và mọi nơi, bởi vì tất cả những ai được cứu độ đều được tham dự vào công trình Cứu Chuộc. [Back]
0635
Vì vậy, Đức Kitô đã xuống cõi thâm sâu của sự chết để “các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, ai nghe thì sẽ được sống” (Ga 5,25). Chúa Giêsu, Đấng khơi nguồn sự sống, đã “nhờ cái chết của Người, Người đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ” (Dt 2,14-l5). Từ nay, Đức Kitô phục sinh “nắm giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,18) và “khi vừa nghe Danh Thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2,10).
Hôm nay mặt đất hoàn toàn thinh lặng, hoàn toàn thinh lặng và hoàn toàn cô quạnh; hoàn toàn thinh lặng vì Đức Vua an giấc; trái đất đã sợ hãi rồi yên tĩnh, vì Thiên Chúa đang ngủ trong xác phàm, và Người đánh thức những kẻ đang ngủ từ bao đời… Chắc chắn Người đi tìm nguyên tổ như tìm con chiên lạc. Người muốn đến thăm tất cả những ai đang ngồi trong tối tăm và trong bóng sự chết; Đấng vừa là Thiên Chúa, vừa là con cháu của nguyên tổ đến để giải thoát ông Ađam đang bị cầm giữ cùng với bà Evà bị cầm giữ khỏi những sự đau buồn. Ta là Thiên Chúa của ngươi, nhưng vì ngươi, Ta đã trở thành con của ngươi… Hãy trỗi dậy, hỡi người ngủ mê: vì Ta dựng nên ngươi không phải để cho ngươi ở lại đây trong gông cùm âm phủ. Hãy trỗi dậy từ cõi chết; Ta là Sự Sống của những kẻ đã chết. [Back]
Tóm lược
Bằng kiểu nói “Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông”, Tín biểu tuyên xưng Chúa Giêsu thật sự đã chết và nhờ cái Chết của Người vì chúng ta, Người đã chiến thắng cả sự chết lẫn ma quỷ, “tên lãnh chúa gây ra sự chết” (Dt 2,14). [Back]
0637
Đức Kitô đã chết, với linh hồn được kết hợp cùng Ngôi Vị thần linh, Người đã xuống nơi ở của những kẻ chết. Người đã mở cửa trời cho những người công chính đã đi trước Người. [Back]
Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết
mà sống lại
“Chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Ngài đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ông, khi làm cho Chúa Giêsu sống lại” (Cv l3,32-33). Sự Sống Lại của Chúa Giêsu là chân lý cao cả nhất của đức tin chúng ta vào Đức Kitô, với tính cách là một chân lý trung tâm đã được tin và thể hiện trong cuộc sống bởi cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi, đã được lưu truyền bởi Thánh Truyền như chân lý nền tảng, đã được xác lập bởi các văn kiện của Tân Ước, và được rao giảng, đồng thời cùng với thập giá, như là phần thiết yếu của mầu nhiệm Vượt Qua: Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, Nhờ cái Chết của Người, Người đã chiến thắng sự chết, Người đã ban sự sống cho những kẻ đã chết. [Back]
0639
Biến cố lịch sử và siêu việt
Mầu nhiệm của sự Sống lại của Đức Kitô là một biến cố có thật, với những cuộc tỏ hiện đã được kiểm chứng theo lịch sử, như Tân Ước làm chứng. Khoảng năm 56, thánh Phaolô đã có thể viết cho tín hữu Côrintô: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã sống lại, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với nhóm Mười Hai” (1 Cr l5,3-4). Ở đây vị Tông Đồ nói đến truyền thống sống động về sự Sống lại mà ngài đã học được sau cuộc hối cải của ngài ở cổng thành Đamas. [Back]
0640
Ngôi mộ trống
“Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã sống lại rồi” (Lc 24,5-6). Trong các biến cố Vượt Qua, yếu tố đầu tiên mà ta gặp là ngôi mộ trống. Tự nó, điều này không phải là một bằng chứng trực tiếp. Việc thân thể Đức Kitô không còn trong mộ có thể được giải thích cách khác. Dầu vậy, ngôi mộ trống vẫn là một dấu chỉ căn bản đối với mọi người. Việc phát hiện ngôi mộ trống là bước đầu dẫn các môn đệ đến việc nhìn nhận chính sự kiện Sống lại. Trước hết đó là trường hợp của các phụ nữ thánh thiện, rồi đến ông Phêrô. Người môn đệ “Chúa Giêsu thương mến” (Ga 20,2), khi vào trong mộ và thấy “những băng vải để ở đó” (Ga 20,6), khẳng định rằng ông đã thấy và đã tin. Điều này giả thiết rằng khi thấy ngôi mộ trống ông đã nhận ra rằng việc thân thể Chúa Giêsu không còn đó không phải là một việc do người phàm và Chúa Giêsu đã không đơn thuần trở lại cuộc sống trần thế như trường hợp anh Lazarô. [Back]
0641
Những lần hiện ra của Đấng Phục Sinh
Bà Maria Magđalêna và các phụ nữ thánh thiện, những người đã đến để hoàn thành việc xức dầu cho thân thể của Chúa Giêsu, vốn được mai táng cách vội vã vào chiều ngày Thứ Sáu vì đã đến ngày sabat, là những người đầu tiên được gặp Đấng Phục Sinh. Như vậy, các phụ nữ là những sứ giả đầu tiên loan báo sự sống lại của Đức Kitô cho chính các Tông Đồ. Sau đó Chúa Giêsu hiện ra với các ông, trước hết là với ông Phêrô, sau đó với nhóm Mười Hai. Vì vậy ông Phêrô, người đã được kêu gọi để củng cố đức tin của các anh em mình, đã thấy Đấng Phục Sinh trước các anh em và dựa trên chứng từ của ông mà cộng đoàn kêu lên: “Chúa đã sống lại thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon” (Lc 24,34). [Back]
0642
Tất cả những gì đã xảy
ra trong những ngày lễ Vượt Qua đó, đòi buộc mỗi
vị Tông Đồ, đặc biệt là ông Phêrô, xây dựng một
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đã bắt đầu từ
sáng ngày Vượt Qua. Với tư cách là những chứng nhân của
Đấng Phục Sinh, các ngài mãi là những tảng đá nền
móng của Hội Thánh Người. Đức tin của cộng
đoàn các tín hữu tiên khởi được xây dựng trên lời
chứng của những con người cụ thể mà các
Kitô hữu quen biết và phần đông lúc đó còn sống
giữa họ. Những chứng nhân về cuộc Phục
Sinh của Đức Kitô trước hết là ông Phêrô và Nhóm Mười
Hai, nhưng không chỉ có các vị ấy: ông Phaolô nói đến
hơn năm trăm người đã được Chúa Giêsu hiện ra một
lượt, rồi với ông Giacôbê và với tất cả các
Tông Đồ. [Back]
0643
Trước những lời chứng đó, không thể giải thích rằng sự phục sinh của Đức Kitô nằm bên ngoài trật tự thể lý, và không thể không công nhận sự phục sinh đó có tính cách là một sự kiện lịch sử. Qua các sự kiện, người ta thấy rõ là đức tin của các môn đệ đã bị lung lay tận gốc do cuộc khổ nạn và cái Chết trên thập giá của Thầy họ, mà chính Người đã báo trước. Sự chấn động tâm hồn do cuộc khổ nạn gây nên là mạnh mẽ đến nỗi các môn đệ (hoặc ít nhất một số người trong họ) không tin ngay lời loan báo về việc Sống Lại. Các sách Tin Mừng không hề trình bày cho chúng ta thấy một cộng đoàn đầy hứng khởi thần bí; nhưng cho chúng ta thấy những môn đệ mất tinh thần (“buồn rầu”: Lc 24,17) và hoảng sợ. Vì vậy họ đã không tin các phụ nữ thánh thiện từ ngôi mộ trở về, và những lời của các bà, họ “cho là chuyện vớ vẩn” (Lc 24,11). Khi Chúa Giêsu hiện ra với Nhóm Mười Một chiều ngày Vượt Qua, “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người sống lại” (Mc 16,14). [Back]
0644
Các môn đệ, cả khi đứng trước thực tại Chúa Giêsu phục sinh, vẫn còn nghi ngờ; đối với các ông, coi như không thể nào có việc ấy: họ tưởng là thấy ma, “các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng” (Lc 24,41). Ông Tôma cũng đã nghi ngờ như vậy, và trong dịp hiện ra lần cuối cùng mà sách Matthêu thuật lại, “có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17). Vì vậy, giả thuyết cho rằng sự Phục Sinh là “sản phẩm” của lòng tin (hay sự dễ tin) của các Tông Đồ, không có cơ sở. Hoàn toàn trái lại, đức tin của các ông vào sự Phục Sinh phát xuất từ kinh nghiệm trực tiếp về thực tại Chúa Giêsu sống lại, dưới tác động của ân sủng của Thiên Chúa. [Back]
0645
Trạng thái nhân tính đã phục sinh của Đức Kitô
Chúa Giêsu phục sinh liên hệ trực tiếp với các môn đệ của Người qua đụng chạm và qua việc chia sẻ thực phẩm. Như vậy, Người mời gọi họ nhìn nhận Người không phải là ma, nhưng nhất là để các ông thấy rõ rằng thân thể phục sinh của Người đang hiện diện với các ông, chính là thân thể đã bị hành hạ và bị đóng đinh vào thập giá, bởi vì thân thể đó vẫn còn mang các dấu vết của cuộc khổ nạn của Người. Tuy nhiên, thân thể đích thực và hiện thực này đồng thời có những đặc tính mới của một thân thể vinh hiển: thân thể đó không còn bị ràng buộc trong không gian và thời gian nữa, nhưng có thể tự do hiện diện ở đâu và lúc nào Người muốn bởi vì nhân tính của Người không còn có thể bị ràng buộc ở trần thế nữa và chỉ thuộc về quyền năng thần linh của Chúa Cha. Cũng vì vậy, Chúa Giêsu phục sinh hoàn toàn tự do để hiện ra như Người muốn: dưới hình dạng một người làm vườn hoặc “dưới một hình dạng khác” (Mc 16,12), không giống hình dạng các môn đệ đã quen, chính là để khơi dậy đức tin của các ông. [Back]
0646
Sự Phục Sinh của Đức Kitô không phải là việc trở lại với cuộc sống trần thế, giống như trường hợp của những kẻ Người đã cho sống lại trước cuộc Vượt Qua: con gái ông Giairô, người thanh niên Naim, anh Lazarô. Các sự kiện này là những biến cố kỳ diệu, nhưng những người được hưởng phép lạ đó, nhờ quyền năng của Chúa Giêsu, chỉ trở lại với cuộc sống trần thế “thông thường”. Một lúc nào đó họ sẽ lại chết. Sự phục sinh của Đức Kitô thì hoàn toàn khác hẳn. Trong thân thể phục sinh của Người, Người chuyển từ trạng thái phải chết sang một sự sống khác vượt trên thời gian và không gian. Thân thể của Chúa Giêsu trong sự Phục Sinh đầy tràn quyền năng của Chúa Thánh Thần; thân thể này tham dự vào sự sống thần linh trong trạng thái vinh quang của Người, đến độ thánh Phaolô đã có thể nói Đức Kitô là một người thiên giới. [Back]
0647
Sự Phục Sinh xét như một biến cố siêu việt
Thánh thi Exultet trong đêm Canh thức Vượt Qua hát: Ôi! Đêm thật diễm phúc, đêm duy nhất biết được thời giờ Đức Kitô từ cõi chết phục sinh. Thật vậy, không ai chứng kiến tận mắt chính biến cố Phục Sinh và không một tác giả sách Tin Mừng nào mô tả biến cố đó. Không ai có thể nói sự Phục Sinh đã xảy ra về mặt thể lý như thế nào. Bản chất thâm sâu nhất của biến cố đó, tức là sự chuyển qua một cuộc sống khác, lại càng khó nhận biết bằng giác quan. Sự Phục Sinh, một biến cố lịch sử có thể được xác nhận bằng dấu chỉ là ngôi mộ trống và bằng thực tại là những lần gặp gỡ của các Tông Đồ với Đức Kitô phục sinh, vẫn mãi nằm trong trung tâm của mầu nhiệm đức tin, vì biến cố đó siêu việt và vượt hẳn trên lịch sử. Chính vì vậy, Đức Kitô phục sinh không tỏ mình ra cho thế gian, nhưng cho các môn đệ của Người, “những kẻ từng theo Người từ Galilê lên Giêrusalem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân” (Cv 13,31). [Back]
Sự Phục Sinh, công trình của Ba Ngôi Chí Thánh
Sự Phục Sinh của Đức Kitô là đối tượng của đức tin, vì đó là sự can thiệp siêu việt của chính Thiên Chúa trong công trình tạo dựng và trong lịch sử. Trong biến cố này, Ba Ngôi Thiên Chúa vừa cùng hoạt động chung, vừa biểu lộ tính cách riêng biệt của mỗi Ngôi. Sự Phục Sinh được thực hiện do quyền năng của Chúa Cha, Đấng “đã làm sống lại” (Cv 2,24) Đức Kitô, Con của Ngài, và bằng cách đó, Chúa Cha đưa nhân tính của Người, cùng với thân thể của Người, vào Ba Ngôi một cách hoàn hảo. Chúa Giêsu được mạc khải một cách vĩnh viễn là “Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1,4). Thánh Phaolô nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa biểu lộ quyền năng qua hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho nhân tính đã chết của Chúa Giêsu được sống lại và kêu gọi nhân tính đó vào trạng thái vinh hiển của Chúa. [Back]
0649
Về phần Chúa Con, Người thực hiện việc Phục Sinh của chính mình bằng sức mạnh của quyền năng thần linh của mình. Chúa Giêsu loan báo rằng Con Người sẽ phải chịu đau khổ, chịu chết rồi sống lại (động từ với nghĩa chủ động). Nơi khác, Người xác quyết cách minh nhiên: “Tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại… Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10,17-18). “Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại” (1 Tx 4,14). [Back]
0650
Các Giáo phụ chiêm ngắm sự Phục Sinh, khởi từ Ngôi Vị thần linh của Đức Kitô, Ngôi Vị này vẫn kết hợp với linh hồn Người và thân thể Người, khi hai phần đã bị tách biệt bởi cái chết: Nhờ sự duy nhất của bản tính Thiên Chúa hiện diện ở cả hai phần của con người, nên hai phần bị chia lìa và tách biệt, lại được tái hợp và liên kết với nhau. Như vậy sự chết là do sự tách rời những phần vốn kết hợp, còn sự Phục Sinh là do sự kết hợp các phần bị tách rời. [Back]
Ý nghĩa và ảnh hưởng cứu độ của sự Phục
Sinh
“Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15,14). Trước hết, sự Phục Sinh tạo nên việc xác nhận tất cả những gì chính Đức Kitô đã làm và đã giảng dạy. Tất cả các chân lý, kể cả những chân lý mà tâm trí nhân loại không thể đạt tới, đều được biện minh, một khi Đức Kitô phục sinh đưa ra lý chứng tối hậu, mà Người đã hứa, về thẩm quyền thần linh của Người. [Back]
0652
Sự phục sinh của Đức Kitô là việc hoàn thành những lời hứa của Cựu Ước và của chính Chúa Giêsu trong cuộc đời trần thế của Người. Kiểu nói đúng như lời Thánh Kinh nêu rõ rằng sự phục sinh của Đức Kitô đã hoàn thành các lời tiên báo này. [Back]
0653
Chân lý về thần tính của Chúa Giêsu được xác nhận bằng sự phục sinh của Người. Người đã nói: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,28). Sự phục sinh của Đấng bị đóng đinh chứng minh rằng Người thật sự là “Đấng Hằng Hữu”, là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã có thể tuyên bố với người Do thái: “Chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Ngài đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Chúa Giêsu sống lại, đúng như lời đã chép trong thánh vịnh thứ hai: Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Cv 13,32-33). Sự Phục Sinh của Đức Kitô được liên kết chặt chẽ với mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Sự phục sinh là việc hoàn thành mầu nhiệm này theo kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. [Back]
0654
Trong mầu nhiệm Vượt Qua có hai khía cạnh: Đức Kitô, nhờ sự Chết của Người, giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, nhờ sự Phục Sinh của Người, mở đường cho chúng ta tiến vào cuộc sống mới. Trước hết, đây là sự công chính hoá, phục hồi chúng ta trong ân sủng của Thiên Chúa, để “cũng như Đức Kitô đã được sống lại từ cõi chết…, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,4). Đời sống mới này cốt tại việc chiến thắng cái chết của tội lỗi, và việc tham dự mới vào ân sủng[42]. Đời sống mới hoàn thành ơn được làm nghĩa tử, bởi vì người ta trở thành anh em của Đức Kitô, như chính Chúa Giêsu gọi các môn đệ Người sau cuộc phục sinh của Người: “Về báo cho anh em của Thầy” (Mt 28,10). Anh em đây không phải do bản tính, nhưng do hồng ân của ân sủng, bởi vì ơn được làm nghĩa tử cho chúng ta thật sự thông phần vào sự sống của Người Con Một, sự sống đó đã được mạc khải trọn vẹn trong sự Phục Sinh của Người. [Back]
0655
Cuối cùng, sự phục sinh của Đức Kitô – và chính Đức Kitô phục sinh – là nguyên lý và nguồn mạch cho chúng ta ngày sau được sống lại: “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu... Như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống” (1 Cr 15,20-22). Trong khi mong đợi việc hoàn thành này, Đức Kitô phục sinh sống trong trái tim các tín hữu của Người. Nơi Người, các Kitô hữu được nếm “những sức mạnh của thế giới tương lai” (Dt 6,5) và đời sống của họ được Đức Kitô lôi cuốn vào trong lòng đời sống thần linh, “để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2 Cr 5,15). [Back]
Tómlược
Đức tin vào sự phục sinh có đối tượng là một biến cố, vừa được xác nhận theo lịch sử bằng lời chứng của các môn đệ, những người đã thật sự gặp Đấng Phục Sinh, đồng thời vừa có tính siêu việt một cách bí nhiệm, xét như là việc nhân tính của Đức Kitô tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa. [Back]
0657
Ngôi mộ trống và những băng vải xếp ở đó tự chúng nói lên rằng, thân thể của Đức Kitô, nhờ quyền năng của Thiên Chúa, đã thoát khỏi xiềng xích của sự chết và sự hư nát. Những dấu chỉ đó chuẩn bị các môn đệ để họ gặp gỡ Đấng Phục Sinh. [Back]
0658
Đức Kitô, “trưởng tử trong số những người từ cõi chết” (Cl 1,18), là nguyên lý của sự sống lại của chính chúng ta, ngay bây giờ nhờ sự công chính hóa linh hồn chúng ta, và sau này nhờ sự làm cho thân thể chúng ta được sống. [Back]
Chúa Giêsu lên trời, ngự bên hữu
Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng.
“Sau khi nói với họ, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19). Thân thể Đức Kitô đã được vinh hiển ngay khi Người sống lại; điều này được chứng tỏ qua các đặc tính mới và siêu phàm mà thân thể của Người được hưởng từ đó và mãi mãi về sau. Nhưng trong bốn mươi ngày, khi Người ăn uống thân mật với các môn đệ của Người, và dạy dỗ họ về Nước Trời, thì vinh quang của Người vẫn còn được che giấu dưới những nét của một nhân tính thông thường. Lần hiện ra cuối cùng của Chúa Giêsu được kết thúc bằng việc nhân tính của Người tiến vào vinh quang thần linh một cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây và trời, nơi từ nay Người ngự bên hữu Thiên Chúa. Một cách ngoại lệ và duy nhất, Người sẽ tỏ mình ra cho thánh Phaolô “như cho một đứa trẻ sinh non” (1 Cr 15,8) và trong lần cuối cùng này, Người đặt ông làm Tông Đồ. [Back]
0660
Tính chất còn che giấu của vinh
quang của Đấng Phục Sinh trong thời gian này được
soi sáng qua những lời bí nhiệm Người nói với bà
Maria Magđalêna: “Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp
anh em Thầy và bảo họ: ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy,
cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng
là Thiên Chúa của anh em’” (Ga 20,17).
Điều này nói lên sự khác biệt của việc biểu
lộ giữa vinh quang của Đức Kitô phục sinh và vinh
quang của Đức Kitô được tôn vinh bên hữu Chúa Cha. Biến
cố Lên Trời, vừa có tính lịch sử đồng thời
vừa có tính siêu việt, đánh dấu sự chuyển đổi
từ vinh quang này đến vinh quang kia. [Back]
0661
Bước cuối cùng này vẫn liên kết chặt
chẽ với bước đầu tiên, nghĩa là với việc
từ trời xuống thế, được thực hiện
trong việc Nhập Thể. Chỉ có Đấng từ Chúa
Cha mà đến” mới có thể “trở về cùng Chúa Cha: đó
là Đức Kitô. “Không ai đã lên trời, ngoại trừ
Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Nhân loại, với sức
tự nhiên của mình, không thể vào được Nhà Cha, không thể đạt tới sự sống và sự
vinh phúc của Thiên Chúa. Chỉ có Đức Kitô mới có thể
mở lối cho con người tiến vào: Người lên trời
không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của
chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin
tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Đầu
và là Thủ lãnh của chúng con đã đến trước. [Back]
0662
“Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Việc bị giương cao trên thập giá có ý chỉ và loan báo việc được đưa lên trời của mầu nhiệm Thăng Thiên. Thập giá là khởi đầu của Thăng Thiên. Chúa Giêsu Kitô, vị Thượng Tế duy nhất của Giao Ước mới và vĩnh cửu, “đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra… nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 9,24). Trên trời, Đức Kitô thực thi chức tư tế của Người một cách thường hằng, “Người hằng sống để chuyển cầu cho họ” “nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa” (Dt 7,25). Với tư cách là “Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai” (Dt 9,11), Người là trung tâm và là chủ sự của phụng vụ tôn vinh Chúa Cha trên trời. [Back]
0663
Đức Kitô, từ nay, ngự bên hữu Chúa Cha: Khi nói rằng Người ngự bên hữu Chúa Cha, chúng ta muốn nói đến danh dự và vinh quang của thần tính, trong đó Con Thiên Chúa, với tư cách là Thiên Chúa và đồng bản thể với Chúa Cha, đã hiện hữu từ trước muôn đời, nay sau khi trở thành xác phàm, Người ngự một cách có thể nói được là thể lý, với thân thể Người đã đảm nhận, trong chính vinh quang đó. [Back]
0664
Việc Đức Kitô ngự bên hữu Chúa Cha có nghĩa là sự khai mạc Nước của Đấng Messia, sự hoàn thành thị kiến của tiên tri Đaniel về Con Người: “Người được trao cho quyền thống trị, vinh quang và Nước; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; Nước Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7,14). Kể từ lúc ấy, các Tông Đồ trở thành chứng nhân của Nước sẽ không bao giờ cùng. [Back]
0665
Tóm lược
Cuộc Thăng
Thiên của Đức Kitô đánh dấu việc nhân tính của
Chúa Giêsu vĩnh viễn tiến vào quyền năng thiên giới
của Thiên Chúa, từ đó Người sẽ lại đến,
nhưng trong khoảng thời gian đó, việc Thăng Thiên đã
che giấu Người khỏi mắt người ta. [Back]
0666
Chúa Giêsu Kitô, là Đầu của Hội Thánh, đã đi
trước chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha, để
chúng ta, là chi thể của Thân Thể Người, sống
trong niềm hy vọng một ngày kia sẽ được vĩnh
viễn ở với Người. [Back]
0667
Chúa Giêsu Kitô, đã tiến vào cung thánh trên trời một
lần cho mãi mãi, không ngừng chuyển cầu
cho chúng ta với tư cách là Đấng trung gian, Đấng luôn luôn
tuôn ban Chúa Thánh Thần cho chúng ta. [Back]
Ngày sau bởi trời, Người lại
xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết
Người sẽ trở lại trong vinh quang
Đức Kitô đã hiển trị nhờ
Hội Thánh…
“Đức Kitô đã
chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống
cũng như kẻ chết” (Rm 14,9). Việc Đức Kitô lên trời cho thấy nhân tính của
Người cũng được tham dự vào quyền năng và uy quyền
của chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Chúa: Người nắm mọi
quyền bính trên trời dưới đất. Người “vượt
trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước
vị có thể có được” vì Chúa Cha “đã đặt tất
cả dưới chân Người” (Ep 1,20-22). Đức Kitô là Chúa của tất cả
vũ trụ và của lịch sử. Nơi Người, lịch
sử của con người, kể cả toàn bộ công
trình tạo dựng, tìm gặp được “nơi quy tụ”
của mình, tột đỉnh siêu việt của
mình. [Back]
0669
Là Chúa, Đức
Kitô cũng là Đầu Hội Thánh, Thân Thể của Người.
Được đưa lên trời và được tôn vinh sau khi chu toàn sứ
vụ, Đức Kitô vẫn hiện diện nơi trần thế
trong Hội Thánh của Người. Công trình cứu chuộc
là nguồn mạch của quyền bính mà Đức Kitô thực
thi trong Hội Thánh bằng sức mạnh của Chúa Thánh
Thần. Nước của Đức Kitô đã hiện diện
một cách mầu nhiệm trong Hội Thánh, là “hạt giống
và điểm khởi đầu của Nước Trời nơi trần
thế. [Back]
0670
Khởi từ cuộc Thăng Thiên, kế hoạch
của Thiên Chúa bước vào giai đoạn hoàn thành. Chúng ta đang sống
trong “giờ cuối cùng” (1 Ga 2,18).
Quả vậy, những thời đại cuối cùng đã
đến với chúng ta và sự canh tân trần gian đã được
thiết lập một cách không thể đảo ngược, và
trong thời đại này sự canh tân đó đã được tiền
dự một cách hiện thực nào đó: thật vậy, Hội
Thánh nơi trần gian được ghi dấu bằng sự thánh
thiện thật, tuy còn bất toàn. Nước Đức
Kitô đã biểu lộ sự hiện diện của
mình nhờ những dấu chỉ kỳ diệu đi
kèm theo việc loan báo Nước đó nhờ Hội Thánh. [Back]
0671
Cho tới khi mọi sự quy phục Người
Tuy nhiên, Nước Đức Kitô, đang hiện
diện trong Hội Thánh của Người, chưa phải là tuyệt
đối với “quyền năng và vinh quang” (Lc 21,27) do việc Vua ngự đến trần
gian. Nước này còn bị các thế lực sự dữ
tấn công, mặc dù chúng đã bị đánh bại tận
gốc rễ do cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. Cho tới
khi mọi sự quy phục Người, cho tới khi có trời
mới đất mới, nơi công lý ngự trị, Hội
Thánh lữ hành, trong các bí tích và các định chế của
mình, vốn là những điều thuộc thời đại
này, vẫn mang hình dáng của thời đại chóng qua
này và chính Hội Thánh đang sống giữa các thụ tạo
còn đang rên siết và quằn quại như sắp sinh nở
và mong đợi cuộc tỏ hiện của các con cái Thiên
Chúa. Vì vậy, các Kitô hữu cầu nguyện, nhất
là trong bí tích Thánh Thể, để Đức Kitô mau lại đến,
bằng cách thưa với Người: “Lạy Chúa, xin ngự đến
!” (Kh
22,20) [Back]
0672
Đức Kitô, trước cuộc Thăng Thiên của
Người, đã khẳng định rằng chưa đến giờ
Người thiết lập Nước của Đấng Messia một
cách vinh hiển mà Israel mong đợi, Nước đó phải mang lại
cho mọi người, theo lời các tiên tri, một trật tự
vĩnh viễn của công lý, của tình yêu, và của
hoà bình. Thời gian hiện tại, theo Chúa, là thời
gian của Thần Khí và của việc làm chứng, nhưng cũng
là thời gian được ghi dấu bằng nỗi khó khăn hiện
tại và bằng sự thử thách của sự dữ,
thời gian này không buông tha Hội Thánh, và khởi đầu cuộc
chiến của những ngày sau cùng. Đây là thời gian của
sự mong đợi và tỉnh thức. [Back]
0673
Việc ngự đến vinh hiển của Đức Kitô, niềm hy vọng của Israel
Sau cuộc Thăng Thiên, việc Ngự đến trong vinh quang của Đức Kitô luôn gần kề, mặc dù chúng ta “không biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Cv 1,7). Biến cố cánh chung này có thể xảy ra bất cứ lúc nào, mặc dù chính biến cố đó cũng như cuộc thử thách cuối cùng phải xảy ra trước biến cố đó, còn được tr hoãn. [Back]
0674
Việc Ngự đến của Đấng Messia
vinh hiển vào bất cứ lúc nào trong lịch sử tùy
thuộc vào việc Người
được nhận biết bởi toàn thể Israel mà một
phần dân ấy còn cứng lòng “không tin” (Rm 11,20) vào Chúa Giêsu. Thánh Phêrô nói với
người Do Thái ở Giêrusalem sau lễ Ngũ Tuần: “Anh
em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để
Ngài xóa bỏ tội lỗi cho anh em. Như vậy, thời kỳ
an lạc mà Chúa ban cho anh em sẽ đến, khi Ngài sai Đấng
Kitô Ngài đã dành cho anh em, là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu còn phải
được giữ lại trên trời, cho đến thời phục
hồi vạn vật, thời mà Thiên Chúa đã dùng miệng
các vị thánh ngôn sứ của Ngài mà loan báo tự ngàn xưa” (Cv 3,19-21). Thánh Phaolô cũng nhắc
lại điều đó: “Thật vậy, nếu vì họ bị
gạt ra một bên mà thế giới được hòa giải
với Thiên Chúa, thì việc họ được thâu nhận
lại là gì, nếu không phải là từ cõi chết
bước vào cõi sống?” (Rm
11,15). Việc gia nhập của đông đủ người Do
Thái vào ơn cứu độ của Đấng Messia, sau việc gia
nhập đông đủ của các dân ngoại[34], sẽ làm cho
dân Chúa đạt “tới tầm vóc viên mãn của Đức
Kitô” (Ep 4,13), trong đó, “Thiên Chúa có
toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). [Back]
0675
Cuộc thử thách cuối cùng của Hội Thánh
Trước cuộc Ngự đến của Đức Kitô, Hội Thánh phải trải qua một cuộc thử thách cuối cùng, làm lung lạc đức tin của nhiều tín hữu[35]. Cuộc bách hại, luôn đi theo Hội Thánh trên đường lữ thứ trần gian, sẽ làm lộ rõ “mầu nhiệm sự dữ” dưới hình thức một sự đánh lừa về tôn giáo, có vẻ như mang đến cho người ta một giải pháp về các vấn đề của họ với giá phải trả là sự chối bỏ chân lý. Sự đánh lừa về tôn giáo ở mức cao nhất là của tên Phản Kitô, nghĩa là, của một chủ nghĩa Messia giả hiệu, trong đó con người tự tôn vinh chính mình thay vì tôn vinh Thiên Chúa và Đấng Messia của Ngài đã đến trong xác phàm. [Back]
0676
Sự đánh lừa của tên Phản Kitô đã được phác hoạ trên trần gian mỗi khi người ta cho rằng mình thực hiện được trong lịch sử niềm hy vọng về Đấng Messia, một niềm hy vọng vốn chỉ có thể được hoàn thành vượt quá giới hạn lịch sử, nhờ cuộc phán xét cánh chung: Hội Thánh đã bác bỏ sự giả mạo này về Vương quốc tương lai, và cả dưới một hình thức giảm nhẹ của sự giả mạo đó, có tên là thuyết ngàn năm (millenarismus), nhất là dưới một hình thức chính trị của một chủ thuyết Messia đã bị tục hoá (messianismus saecularizatus), đồi bại tự bản chất. [Back]
0677
Hội Thánh chỉ tiến vào vinh quang Nước
Trời sau cuộc Vượt Qua cuối cùng này, trong đó Hội
Thánh đi theo Chúa của mình trong sự chết và sự
sống lại của Người. Vì vậy Nước Trời
sẽ không được thực hiện bằng một chiến
thắng của Hội Thánh trong lịch sử, theo một
đà tiến từ dưới đi lên nào đó, nhưng bằng sự chiến
thắng của Thiên Chúa trên cuộc tấn công cuối cùng
của sự dữ, sự chiến thắng đó làm cho Tân
nương của Ngài từ trời xuống. Chiến thắng của
Thiên Chúa trên sự nổi loạn của sự dữ sẽ
mang hình thức cuộc Phán Xét cuối cùng, sau cuộc
đảo lộn cuối cùng khắp vũ trụ của trần
gian đang qua đi. [Back]
Để phán xét kẻ sống và kể chết
Chúa Giêsu, sau các Tiên tri và ông Gioan Tẩy Giả, trong lời rao giảng của mình, đã loan báo cuộc Phán Xét vào ngày tận thế. Lúc đó những cách sống của mỗi người và sự kín nhiệm trong các tâm hồn được đưa ra ánh sáng. Lúc đó tội cứng lòng tin, tức là tội coi thường ân sủng do Thiên Chúa ban, sẽ bị kết án. Cách đối xử với đồng loại sẽ biểu lộ là người ta đã đón nhận hay đã từ chối ân sủng và tình yêu Thiên Chúa. Chúa Giêsu sẽ phán trong ngày tận thế: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). [Back]
0679
Đức Kitô là Chúa của sự sống vĩnh
cửu. Thẩm quyền đầy đủ để xét xử một
cách vĩnh viễn về các công việc và các tâm hồn của
mọi người là thuộc về Người, với tư cách là
Đấng Cứu Chuộc trần gian. Người “đã đạt
được” quyền này nhờ thập giá của Người.
Chúa Cha cũng “đã ban cho Người Con mọi quyền xét
xử” (Ga 5,22). Nhưng Chúa Con không
đến để xét xử, mà để cứu độ, và để
ban sự sống Người có nơi chính mình. Qua việc từ
chối ân sủng khi còn sống ở đời này, mỗi
người tự xét xử chính mình, lãnh nhận tuỳ
theo các công việc của mình, và cũng có thể tự
kết án mình muôn đời khi từ chối Thần Khí
tình yêu. [Back]
Tóm lược
Chúa Kitô đã hiển trị nhờ Hội Thánh, nhưng mọi sự ở trần gian này chưa quy phục Người. Chiến thắng của Nước Đức Kitô sẽ chỉ đến sau cuộc tấn công cuối cùng của các thế lực sự dữ. [Back]
0681
Trong Ngày Phán Xét, lúc cùng tận trần gian, Đức Kitô sẽ đến trong vinh quang để hoàn thành cuộc chiến thắng vĩnh viễn của sự lành trên sự dữ, cả hai, như lúa tốt và cỏ lùng, đã cùng phát triển trong suốt dòng lịch sử. [Back]
0682
Đức Kitô vinh hiển, khi ngự đến vào lúc cùng tận thời gian để phán xét kẻ sống và kẻ chết, sẽ làm tỏ lộ những điều kín nhiệm trong các tâm hồn và sẽ trả lại cho mỗi người tuỳ theo các công việc của họ và tuỳ theo việc họ đã đón nhận hoặc từ chối ân sủng. [Back]
0683
Tôi tin kính Đức Chúa ThánhThần
“Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: ‘Abba, Cha ơi!’” (Gl 4,6). Sự nhận biết đó của đức tin chỉ có thể có được trong Chúa Thánh Thần. Để được hiệp thông với Đức Kitô, trước hết cần phải được Chúa Thánh Thần đánh động. Ngài đến với chúng ta trước và khơi dậy đức tin trong chúng ta. Nhờ phép Rửa Tội của chúng ta, là bí tích đầu tiên của đức tin, mà sự sống, vốn bắt nguồn nơi Chúa Cha và được ban cho chúng ta trong Chúa Con, được truyền thông một cách thân mật và cá vị bởi Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh: Bí tích Rửa Tội “ban cho chúng ta ơn tái sinh trong Chúa Cha, nhờ Con của Ngài, trong Chúa Thánh Thần. Bởi vì những ai mang Thần Khí Thiên Chúa, thì được dẫn đến với Ngôi Lời, nghĩa là đến với Chúa Con; nhưng Chúa Con trình diện họ với Chúa Cha và Chúa Cha ban cho họ sự bất diệt. Vì vậy, không có Thần Khí thì không thể thấy Con Thiên Chúa, và không có Chúa Con thì không ai có thể đến gần Chúa Cha, bởi vì Chúa Con là sự nhận biết Chúa Cha, và sự nhận biết Con Thiên Chúa là nhờ Chúa Thánh Thần. [Back]
0684
Chúa Thánh Thần, bằng ân sủng của mình, là Đấng đầu tiên trong việc khơi dậy đức tin của chúng ta và trong sự sống mới, sự sống đó là nhận biết Chúa Cha và Đấng Chúa Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên Chúa Thánh Thần lại là Đấng cuối cùng trong cuộc mạc khải các Ngôi Vị trong Ba Ngôi Chí Thánh. Thánh Grêgôriô Nazianzênô, Nhà thần học, giải thích tiến trình này qua đường lối sư phạm là sự hạ cố của Thiên Chúa: Cựu Ước đã giảng dạy một cách tỏ tường về Chúa Cha, nhưng một cách hơi lờ mờ về Chúa Con. Rồi Tân Ước cho chúng ta thấy cách rõ ràng về Chúa Con, và trình bày một cách lờ mờ nào đó về thần tính của Chúa Thánh Thần. Còn bây giờ, chính Thần Khí ngự giữa chúng ta và công bố cho chúng ta một cách tỏ tường hơn về Ngài. Quả vậy, sẽ là không khôn ngoan, nếu thần tính của Chúa Cha chưa được tuyên xưng, mà đã giảng dạy cách tỏ tường về Chúa Con; và nếu thần tính của Chúa Con chưa được đón nhận, thì việc giảng dạy về Chúa Thánh Thần, nói một cách quá đáng, là như chất thêm một gánh khá nặng cho chúng ta:… Nhờ những tiếp cận âm thầm thích hợp hơn và… những tiến dần lên, rồi những phát triển và tăng tiến ‘từ sự sáng sủa này đến sự sáng sủa khác’, ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi chiếu toả những tia sáng rạng ngời. [Back]
0685
Vì vậy, tin vào Chúa Thánh Thần là tuyên xưng rằng Ngài là Một trong Ba Ngôi Chí Thánh, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Do đó, vấn đề về mầu nhiệm thần linh của Chúa Thánh Thần đã được trình bày trong “thần học về Ba Ngôi. Vì vậy ở đây chúng ta chỉ bàn về Chúa Thánh Thần trong Nhiệm cục thần linh. [Back]
0686
Chúa Thánh Thần cùng hoạt động với Chúa Cha và Chúa Con từ lúc khởi đầu cho đến khi hoàn tất kế hoạch cứu độ chúng ta. Nhưng chỉ trong “thời sau hết”, bắt đầu từ cuộc Nhập Thể cứu chuộc của Chúa Con, Chúa Thánh Thần mới được mạc khải và truyền thông, được nhận biết và đón nhận với tư cách là một Ngôi Vị. Lúc đó kế hoạch của Thiên Chúa, được hoàn thành trong Đức Kitô, Đấng là Trưởng tử và là Đầu của công trình tạo dựng mới, đã có thể được thành hình cụ thể trong nhân loại nhờ việc tuôn đổ Thần Khí: Hội Thánh, các Thánh thông công, phép tha tội, xác phàm sẽ sống lại, và sự sống đời đời. [Back]
Tôi tin kính Đức
Chúa Thánh Thần
“Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa” (1 Cr 2,11). Tuy nhiên, Thần Khí, Đấng mạc khải Thiên Chúa, làm cho chúng ta nhận biết Đức Kitô, Ngôi Lời hằng sống của Thiên Chúa, lại không nói về chính mình Ngài. Ngài đã dùng các Tiên tri mà phán dạy để giúp chúng ta nghe được Lời của Chúa Cha. Nhưng chúng ta không nghe tiếng Chúa Thánh Thần. Chúng ta chỉ nhận biết Ngài trong tiến trình Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng ta và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận Ngôi Lời trong đức tin. Thần chân lý, Đấng “vén màn” Đức Kitô cho chúng ta, không nói về chính mình Ngài. Sự ẩn mình mang tính chất thần linh cách riêng biệt như vậy giải thích tại sao Ngài là “Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Ngài” còn những ai tin vào Đức Kitô, thì nhận biết Ngài, bởi vì Ngài luôn ở với họ (Ga 14,17). [Back]
0688
Hội Thánh, sự hiệp thông sống động
trong đức tin của các Tông Đồ do chính Hội Thánh lưu
truyền, là môi trường để chúng ta nhận biết Chúa
Thánh Thần:
– trong Thánh Kinh do Ngài linh hứng;
– trong Thánh Truyền, mà các Giáo phụ là những chứng
nhân luôn hiện đại;
– trong Huấn quyền của Hội Thánh, được Ngài trợ
lực;
– trong phụng vụ bí tích, qua các lời nói và các biểu
tượng của bí tích, trong đó Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta
được hiệp thông với Đức Kitô;
– trong kinh nguyện, chính Ngài chuyển cầu cho chúng ta;
– trong các đặc sủng và các thừa tác vụ, nhờ đó Hội
Thánh được xây dựng;
– trong các dấu chỉ của đời sống tông đồ và
thừa sai;
– trong chứng từ của các Thánh, qua đó Ngài biểu lộ
sự thánh thiện của Ngài và tiếp tục công
trình cứu độ. [Back]
0689
Sứ vụ phối
hợp của Chúa Con và Chúa Thánh Thần
Đấng mà
Chúa Cha đã sai đến trong tâm hồn chúng ta, Thần Khí của
Con Ngài, Đấng ấy thật sự là Thiên Chúa. Là Đấng
đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, Ngài không thể
bị tách biệt khỏi Chúa Cha và Chúa Con, trong đời sống
thâm sâu của Ba Ngôi cũng như trong hồng ân tình yêu của
Ba Ngôi dành cho trần gian. Nhưng đức tin của Hội
Thánh, khi tôn thờ Ba Ngôi Chí Thánh ban sự sống, đồng
bản thể và không thể phân chia, cũng tuyên xưng sự
phân biệt giữa các Ngôi Vị. Khi Chúa Cha sai Lời của
Ngài đến, Ngài luôn sai Thần Khí của Ngài nữa: một
sứ vụ phối hợp trong đó Chúa Con và Chúa Thánh Thần
được phân biệt, nhưng không thể tách biệt. Đức
Kitô là Đấng xuất hiện vì Người là hình ảnh
hữu hình của Thiên Chúa vô hình, nhưng chính Chúa
Thánh Thần là Đấng mạc khải Đức Kitô. [Back]
0690
Chúa Giêsu là Đức Kitô, Đấng được xức dầu, bởi vì Thần Khí là sự Xức dầu của Người, và mọi sự xảy ra khởi từ cuộc Nhập Thể, đều bắt nguồn từ sự sung mãn này. Sau cùng, khi Đức Kitô được tôn vinh, đến lượt Người, Người có thể sai Thần Khí từ nơi Chúa Cha đến với những ai tin vào Người: Người truyền thông cho họ vinh quang của mình, nghĩa là truyền thông Chúa Thánh Thần, Đấng tôn vinh Người. Từ lúc đó, sứ vụ phối hợp này được mở rộng đến những người được Chúa Cha nhận làm nghĩa tử trong thân thể của Con Ngài: sứ vụ của Thần Khí nghĩa tử sẽ là kết hợp họ với Đức Kitô và làm cho họ sống trong Người.
Việc Xức dầu nói lên ý nghĩa là không có khoảng cách nào giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần; cũng như lý trí và giác quan không nhận thấy một trung gian nào giữa da thịt và dầu xức, thì sự kết hợp giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng không thể phân chia như vậy, đến độ ai muốn tiếp xúc với Đức Kitô bằng đức tin, cần phải tiếp xúc với dầu trước đã: quả vậy, không có chi thể nào, mà không có Chúa Thánh Thần. Vì vậy, việc tuyên xưng quyền làm Chúa của Chúa Con được thực hiện trong Chúa Thánh Thần do những kẻ đón nhận Chúa Con, những người này được Chúa Thánh Thần từ muôn phương đến gặp khi họ đến với Chúa Con bằng đức tin. [Back]
Các danh hiệu và các biểu tượng của Chúa
Thánh Thần
Chúa Thánh Thần là danh xưng riêng của Đấng chúng ta phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Hội Thánh đã lãnh nhận danh xưng này từ Chúa Giêsu và tuyên xưng danh này trong bí tích Rửa Tội của những người con mới của mình. Từ Thần Khí xuất phát từ chữ Ruah trong tiếng Do thái và có nghĩa đầu tiên là hơi thở, không khí, gió. Chúa Giêsu dùng đúng hình ảnh khả giác gió để gợi ý cho ông Nicôđêmô hiểu sự mới mẻ siêu việt của Đấng, theo Ngôi Vị, là Hơi Thở của Thiên Chúa, là Thần Khí. Đàng khác, Thánh và Thần là những thuộc tính thần linh chung cho Ba Ngôi Vị thần linh. Nhưng Thánh Kinh, phụng vụ và ngôn ngữ thần học, khi kết hợp hai từ đó lại với nhau, muốn nói cách riêng đến Ngôi Vị khôn tả của Chúa Thánh Thần, không thể nào lẫn lộn với những cách sử dụng khác của các từ thánh và thần. [Back]
0692
Những danh hiệu của Chúa Thánh Thần
Khi Chúa Giêsu loan báo và hứa rằng Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến, Người gọi Chúa Thánh Thần là “Đấng Bào Chữa” (Paracletus), hoặc sát chữ là “Đấng được gọi đến bên mình”, ad-vocatus (Ga 14,16.26; 15,26; 16,7). Paracletus cũng thường được dịch là Đấng An ủi, và Chúa Giêsu là Đấng An ủi thứ nhất. Chính Chúa gọi Chúa Thánh Thần là Thần chân lý. [Back]
0693
Ngoài danh xưng riêng của Ngài, rất thường được dùng trong sách Công Vụ Tông Đồ và các Thánh Thư, ta còn thấy những danh hiệu nơi thánh Phaolô như sau: Thần Khí của lời hứa (Ep 1,13; Gl 3,14), Thần Khí nghĩa tử (Rm 8,15; Gl 4,6), Thần Khí của Đức Kitô (Rm 8,9) Thần Khí của Chúa (2 Cr 3,17), Thần Khí của Thiên Chúa (Rm 8,9.14; 15,19; 1 Cr 6,11; 7,40); và nơi thánh Phêrô: Thần Khí của vinh quang (1 Pr 4,14). [Back]
0694
Những biểu tượng chỉ Chúa Thánh Thần
Nước. Trong bí tích Rửa Tội, nước là một biểu tượng nói lên tác động của Chúa Thánh Thần, vì vậy, sau lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần, nước trở thành dấu chỉ bí tích hữu hiệu của việc tái sinh: giống như trong lần sinh ra thứ nhất chúng ta được cưu mang trong nước, thì cũng vậy, nước Rửa Tội thật sự nói lên rằng việc chúng ta được sinh vào đời sống thần linh được ban trong Chúa Thánh Thần. Nhưng, “chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí”, “và tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13): Vì vậy đích thân Thần Khí cũng là Nước hằng sống, chảy ra từ Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá như từ nguồn mạch của mình, và vọt ra thành sự sống vĩnh cửu trong chúng ta. [Back]
0695
Sự xức dầu. Sự xức dầu cũng là một biểu tượng nói về Chúa Thánh Thần, đến độ từ này trở thành đồng nghĩa với Chúa Thánh Thần. Trong nghi thức khai tâm Kitô giáo, việc xức dầu là dấu chỉ bí tích của phép Thêm Sức, mà các Giáo Hội Đông phương gọi cách chính xác là Sự Xức dầu thánh. Nhưng để hiểu thật rõ, phải trở lại với cuộc xức dầu đầu tiên bởi Chúa Thánh Thần: cuộc xức dầu cho Chúa Giêsu. “Kitô” có nghĩa là “người được xức dầu” bằng Thần Khí Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, có một số nhân vật là “những người được xức dầu” của Chúa, nổi bật là vua Đavid. Nhưng Chúa Giêsu là Đấng Được Xức Dầu của Thiên Chúa một cách độc nhất vô nhị: nhân tính mà Chúa Con đảm nhận, “được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần” một cách trọn vẹn. Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thiết đặt làm Đức Kitô. Đức Trinh Nữ Maria thụ thai Đức Kitô bởi Chúa Thánh Thần, Đấng đã dùng Thiên thần loan báo rằng Người là Đức Kitô khi Người giáng sinh, và là Đấng thúc đẩy ông Simêon đến đền thờ để ông được thấy Đức Kitô của Chúa; Đức Kitô được đầy Thánh Thần, và sức mạnh của Chúa Thánh Thần xuất phát từ Đức Kitô trong những hành vi chữa lành và cứu độ của Người. Cuối cùng chính Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết. Lúc đó Chúa Giêsu, được thiết đặt làm Đức Kitô một cách trọn vẹn trong nhân tính đã chiến thắng sự chết của Người, tuôn đổ Chúa Thánh Thần cách tràn đầy cho đến khi “các Thánh”, trong sự kết hợp với nhân tính của Con Thiên Chúa, làm nên “con người trưởng thành tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13), làm nên “Đức Kitô toàn thể theo cách nói của thánh Augustinô.
Lửa. Trong khi nước là biểu tượng của việc sinh sản và sinh sôi nảy nở của sự sống được ban trong Chúa Thánh Thần, thì lửa là biểu tượng của sức mạnh có sức biến đổi của các hoạt động của Chúa Thánh Thần. Tiên tri Êlia, người “xuất hiện… chẳng khác nào ngọn lửa, lời của ông tựa đuốc cháy bừng bừng” (Hc 48,1), bằng lời cầu nguyện, ông kéo lửa từ trời xuống thiêu cháy hy lễ trên núi Carmel, lửa này như hình ảnh của ngọn lửa là Chúa Thánh Thần, làm biến đổi những gì lửa đó chạm tới. Ông Gioan Tẩy Giả, người đi trước Chúa “đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia” (Lc 1,17), đã loan báo Đức Kitô là Đấng “sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3,16), trong Đấng là Thần Khí mà Chúa Giêsu sẽ nói về Ngài: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49). Dưới hình ảnh những cái lưỡi “như bằng lửa”, Chúa Thánh Thần ngự trên các môn đệ vào sáng ngày lễ Ngũ Tuần và xuống đầy lòng các ông. Truyền thống linh đạo sẽ giữ lại biểu tượng ngọn lửa như biểu tượng diễn cảm nhất của hành động của Chúa Thánh Thần: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí” (1 Tx 5,19). [Back]
0696
Lửa. Trong khi nước là biểu tượng của việc sinh sản và sinh sôi nảy nở của sự sống được ban trong Chúa Thánh Thần, thì lửa là biểu tượng của sức mạnh có sức biến đổi của các hoạt động của Chúa Thánh Thần. Tiên tri Êlia, người “xuất hiện… chẳng khác nào ngọn lửa, lời của ông tựa đuốc cháy bừng bừng” (Hc 48,1), bằng lời cầu nguyện, ông kéo lửa từ trời xuống thiêu cháy hy lễ trên núi Carmel, lửa này như hình ảnh của ngọn lửa là Chúa Thánh Thần, làm biến đổi những gì lửa đó chạm tới. Ông Gioan Tẩy Giả, người đi trước Chúa “đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia” (Lc 1,17), đã loan báo Đức Kitô là Đấng “sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3,16), trong Đấng là Thần Khí mà Chúa Giêsu sẽ nói về Ngài: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49). Dưới hình ảnh những cái lưỡi “như bằng lửa”, Chúa Thánh Thần ngự trên các môn đệ vào sáng ngày lễ Ngũ Tuần và xuống đầy lòng các ông. Truyền thống linh đạo sẽ giữ lại biểu tượng ngọn lửa như biểu tượng diễn cảm nhất của hành động của Chúa Thánh Thần: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí” (1 Tx 5,19). [Back]
0697
Áng mây và ánh sáng. Hai biểu tượng này là không thể tách biệt trong các cuộc tỏ hiện của Chúa Thánh Thần. Trong các cuộc thần hiện thời Cựu Ước, áng mây khi mờ tối, khi chói sáng, vừa mạc khải Thiên Chúa hằng sống và cứu độ, vừa che khuất sự siêu việt của vinh quang Ngài; với ông Môisen trên núi Sinai, trong Lều Hội Ngộ và suốt cuộc hành trình trong hoang địa; với vua Salômôn dịp cung hiến Đền Thờ. Rồi những hình ảnh này được Đức Kitô hoàn thành trong Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần ngự đến trên Đức Trinh Nữ Maria và “phủ bóng” trên Bà, để Bà thụ thai và hạ sinh Chúa Giêsu. Trên núi Hiển Dung, chính Chúa Thánh Thần đến trong đám mây bao phủ Chúa Giêsu, ông Môisen và ông Êlia, cùng với các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan, và “từ đám mây có tiếng phán rằng: ‘Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người’” (Lc 9,35). Cuối cùng, cũng chính đám mây này “quyện lấy Chúa Giêsu khuất mắt” các môn đệ trong ngày Thăng Thiên và sẽ mạc khải Con Người trong vinh quang của Người vào ngày Người ngự đến. [Back]
0698
Dấu ấn là một biểu tượng rất gần với biểu tượng xức dầu. Thật vậy, Đức Kitô là Đấng “Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6,27), và trong Người, Chúa Cha cũng ghi dấu xác nhận chúng ta. Hình ảnh “dấu ấn”, bởi vì nói lên hiệu quả không thể xoá nhoà của việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần trong các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh, nên đã được dùng trong một số truyền thống thần học để diễn tả “ấn tín” không thể xoá được, được ghi dấu bởi ba bí tích không thể được tái ban đó.
0699
Bàn tay. Chúa Giêsu đặt tay để chữa lành cho các bệnh nhân và chúc lành cho các trẻ em. Các Tông Đồ cũng làm như vậy nhân danh Người. Hơn nữa, chính qua việc đặt tay của các Tông Đồ mà Chúa Thánh Thần được ban. Thư gửi tín hữu Do Thái kể việc đặt tay vào số “các mục căn bản” của giáo huấn của mình. Hội Thánh đã giữ lại dấu chỉ này của việc tuôn đổ tràn đầy Thánh Thần trong các kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần trong các bí tích.
Ngón tay. Chúa Giêsu dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ
quỷ. Nếu Lề luật của Thiên Chúa được ghi
trên các bia đá “do chính tay Thiên Chúa viết” (Xh 31,18), thì “lá thư của Đức Kitô”, được
trao cho các tông đồ chăm sóc, “đã được viết… bằng
Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi
trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm
bia bằng thịt, tức là lòng người” (2 Cr 3,3). Thánh thi “Veni Creator Spiritus”
khẩn cầu Chúa Thánh Thần bằng những lời
này: Chúa là ngón tay trong bàn tay mặt của Chúa Cha. [Back]
0700
Ngón tay. Chúa Giêsu dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ. Nếu Lề luật của Thiên Chúa được ghi trên các bia đá “do chính tay Thiên Chúa viết” (Xh 31,18), thì “lá thư của Đức Kitô”, được trao cho các tông đồ chăm sóc, “đã được viết… bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (2 Cr 3,3). Thánh thi Veni Creator Spiritus khẩn cầu Chúa Thánh Thần bằng những lời này: Chúa là ngón tay trong bàn tay mặt của Chúa Cha. [Back]
0701
Chim bồ câu. Vào cuối trận lụt đại hồng thủy (đây là một biểu tượng chỉ bí tích Rửa Tội), chim bồ câu được ông Nôê thả ra đã trở về, ngậm một nhánh ô liu xanh tươi, báo cho biết mặt đất lại đã có thể cư ngụ được. Khi Chúa Giêsu tiến lên từ dòng nước phép rửa của Người, Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đáp xuống và ngự trên Người. Chúa Thánh Thần đáp xuống trái tim đã được thanh tẩy của những người lãnh bí tích Rửa Tội và nghỉ ngơi ở đó. Trong một số nhà thờ, Thánh Thể được lưu giữ trong một bình bằng kim loại có hình chim bồ câu (gọi là columbarium) treo bên trên bàn thờ. Trong truyền thống nghệ thuật ảnh tượng Kitô giáo, chim bồ câu là biểu tượng để chỉ Chúa Thánh Thần. [Back]
Thần Khí và Lời Thiên Chúa trong thời đại
của các lời hứa
Từ lúc khởi đầu cho đến khi thời gian đến hồi viên mãn, sứ vụ phối hợp của Ngôi Lời và của Thần Khí Chúa Cha tuy còn ẩn giấu, nhưng đã hoạt động. Thần Khí của Thiên Chúa chuẩn bị cho thời đại của Đấng Messia, và cả hai Đấng, lúc này chưa được mạc khải trọn vẹn, nhưng đã được hứa ban để nhân loại chờ mong và đón nhận khi các Ngài tỏ hiện. Vì vậy, khi đọc Cựu Ước, Hội Thánh tìm hiểu kỹ càng những gì Thần Khí, Đấng đã dùng các Tiên tri mà phán dạy, có ý muốn nói với chúng ta về Đức Kitô.
Ở đây, đức tin của Hội Thánh dùng từ “các Tiên tri” chỉ chung tất cả những vị được Chúa Thánh Thần linh hứng trong việc loan báo sống động và trong việc soạn thảo các Sách Thánh, thuộc Cựu Ước cũng như Tân Ước. Truyền thống Do thái phân biệt Lề luật (năm sách đầu tiên hoặc Ngũ Thư), các Tiên tri (các sách chúng ta gọi là lịch sử và tiên tri) và các Văn phẩm (chủ yếu là các sách khôn ngoan và các Thánh vịnh). [Back]
Trong công trình tạo dựng
Lời Thiên Chúa và Hơi Thở của Ngài là nguồn gốc của sự hiện hữu và sự sống của mọi thụ tạo: Chúa Thánh Thần ngự trị, thánh hóa và làm cho các thụ tạo có sinh khí, bởi vì Ngài là Thiên Chúa đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con…. Vì Ngài là Thiên Chúa nên Ngài đem lại sức mạnh cho mọi thụ tạo và gìn giữ chúng trong Chúa Cha và Chúa Con. [Back]
0704
Còn đối với con người, Thiên Chúa dùng các bàn tay của Ngài [nghĩa là Chúa Con và Chúa Thánh Thần] để nhào nắn nó… và vẽ hình dáng riêng của Ngài trên xác phàm đã được nhào nắn, đến độ dầu nó là hữu hình, nó cũng mang dáng dấp thần linh. [Back]
0705
Thần Khí của lời hứa
Con người, bị biến dạng bởi tội lỗi và cái chết, vẫn còn là theo hình ảnh Thiên Chúa, theo hình ảnh Chúa Con, nhưng bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, không còn giống như Thiên Chúa. Lời hứa với tổ phụ Abraham khai mạc nhiệm cục cứu độ; vào cuối nhiệm cục này, chính Chúa Con sẽ đảm nhận hình ảnh và sẽ phục hồi cho nó lại giống với Chúa Cha, khi trả lại cho con người vinh quang, tức là Thần Khí ban sự sống. [Back]
0706
Trái với mọi hy vọng phàm
nhân, Thiên Chúa hứa cho tổ phụ Abraham một dòng
dõi như hoa trái của đức tin và của quyền năng
Chúa Thánh Thần. Nơi dòng dõi của ông, mọi dân
tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc. Dòng
dõi đó sẽ là Đức Kitô, trong Người sự tuôn đổ
Thánh Thần sẽ thực hiện việc quy tụ nên một
các con cái Thiên Chúa đang tản mát. Tự ràng buộc mình
bằng một lời thề, Thiên Chúa cam kết sẽ ban
Con chí ái của Ngài, cũng như sẽ ban Thần Khí của
Lời hứa, Đấng chuẩn bị công cuộc cứu
chuộc dân mà Thiên Chúa đã thủ đắc cho mình. [Back]
0707
Trong những cuộc thần hiện và trong lề luật
Những cuộc Thần hiện (những cuộc tỏ hiện của Thiên Chúa), từ thời các Tổ phụ cho đến ông Môisen, và từ ông Jôsuê cho đến các thị kiến mở đầu sứ vụ của các Tiên tri lớn, soi sáng con đường của Lời hứa. Truyền thống Kitô giáo luôn nhận biết Ngôi Lời Thiên Chúa tỏ mình cho người ta thấy được và nghe được trong các cuộc Thần hiện đó, Ngài đồng thời vừa được mạc khải vừa bị che khuất trong áng mây của Chúa Thánh Thần. [Back]
0708
Đường lối sư phạm này của Thiên Chúa tỏ lộ rõ ràng trong việc ban Lề luật. Lề luật đã được ban như một người quản giáo để dẫn dân tới Đức Kitô. Nhưng sự bất lực của Lề luật, không thể cứu độ con người đã mất sự giống như Thiên Chúa, và sự ý thức mạnh hơn về tội, do Lề luật mang lại đã khơi dậy lòng khao khát Chúa Thánh Thần. Những lời than vãn của các Thánh vịnh làm chứng điều đó.
0709
Trong thời các Vua và thời Lưu Đày
Lề luật, dấu chỉ của Lời hứa và của Giao Ước, lẽ ra phải điều khiển trái tim cũng như các thể chế của dân phát sinh từ đức tin của tổ phụ Abraham. “Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta… Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,5-6). Nhưng, sau thời Đavid, Israel đã sa chước cám dỗ muốn thiết lập một nước giống như các dân tộc khác. Tuy nhiên, nước, đối tượng của Lời hứa được ban cho Đavid sẽ là công trình của Chúa Thánh Thần; nước đó sẽ thuộc về những người nghèo theo Thần Khí. [Back]
0710
Việc quên lãng Lề luật và bất trung với Giao Ước dẫn đến cái chết: cuộc lưu đày có vẻ là sự thất bại của các Lời hứa, mà thật ra là sự trung tín bí nhiệm của Thiên Chúa, Đấng cứu độ, và là khởi đầu của cuộc phục hồi như đã hứa, nhưng theo Thần Khí. Dân Thiên Chúa cần phải trải qua cuộc thanh tẩy này; cuộc lưu đày mang bóng dáng cây thập giá trong kế hoạch của Thiên Chúa, và số sót những người nghèo trở về từ cuộc lưu đày, là một trong những hình ảnh rõ ràng nhất của Hội Thánh. [Back]
0711
Sự mong đợi Đấng Messia và Thần Khí của Người
“Này Ta sắp làm một việc mới” (Is 43,19). Hai đường hướng tiên tri được phác hoạ, một đường dẫn đến sự mong đợi Đấng Messia; đường kia hướng đến việc loan báo một Thần Khí mới, hai đường hướng này đồng quy nơi “số sót” nhỏ bé, nơi dân của những người nghèo, họ đang mong đợi niềm an ủi của Israel và “sự cứu chuộc Giêrusalem” (Lc 2,25.38) trong niềm hy vọng.
Ở trên, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu hoàn thành những lời tiên tri nói về Người như thế nào. Ở đây, chúng ta giới hạn vào những lời tiên tri trong đó tương quan giữa Đấng Messia và Thần Khí của Người xuất hiện rõ ràng hơn. [Back]
0712
Những nét phác hoạ dung mạo Đấng
Messia được mong đợi, bắt đầu được biểu lộ
trong sách Emmanuel (khi “ngôn sứ Isaia… đã thấy vinh
quang” của Đức Kitô: Ga 12,41), đặc biệt trong
đoạn văn Is 11,1-2:
Từ gốc tổ Giessê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, Từ
cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần
Khí Chúa sẽ ngự trên vị này: Thần
khí khôn ngoan và minh mẫn, Thần
khí mưu lược và dũng mãnh, Thần
khí hiểu biết và kính sợ Chúa. [Back]
0713
Những nét phác hoạ về Đấng Messia được mạc khải chủ yếu trong các bài ca về Người Tôi trung. Những bài ca này loan báo ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và cho thấy cách Người sẽ đổ tràn Thần Khí để cho muôn người được sống: không phải từ bên ngoài, nhưng bằng cách mặc lấy thân nô lệ của chúng ta (Pl 2,7). Khi mang lấy cái chết của chúng ta trên mình Người, Người có thể truyền thông cho chúng ta Thần Khí riêng của Người, Thần Khí sự sống của Người.
0714
Chính vì vậy, Đức Kitô khởi
đầu công cuộc loan báo Tin Mừng của Người bằng
cách áp dụng cho mình đoạn sau đây của tiên tri Isaia (Lc 4,18-19):
Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
Vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn,
Ngài đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết
họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố một năm hồng ân của Chúa. [Back]
0715
Các bản văn tiên tri trực tiếp liên quan đến việc sai Chúa Thánh Thần đến, là những lời sấm trong đó Thiên Chúa lấy ngôn ngữ Lời hứa mà nói vào trái tim của dân Ngài, bằng cung giọng yêu thương và trung tín, sáng ngày lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô sẽ tuyên bố việc hoàn thành những điều đó. Theo những lời hứa đó, trong thời sau hết, Thần Khí Thiên Chúa sẽ đổi mới trái tim người ta bằng cách ghi khắc Lề luật mới trong họ; Ngài sẽ quy tụ và giao hoà những dân tộc đã bị phân tán và chia rẽ; Ngài sẽ biến đổi công trình tạo dựng thứ nhất và Thiên Chúa sẽ ở đó với người ta trong hoà bình. [Back]
0716
Đoàn dân của những người nghèo, những người khiêm nhu và hiền lành, hoàn toàn phó thác cho kế hoạch bí nhiệm của Thiên Chúa của mình, những người mong chờ công lý không bởi người ta nhưng bởi Đấng Messia, đoàn dân ấy cuối cùng là công trình cao cả mà âm thầm của Chúa Thánh Thần, trải suốt thời gian của các Lời hứa, để chuẩn bị cho cuộc Ngự đến của Đức Kitô. Phẩm chất tâm hồn của những người đó, đã được thanh tẩy và soi sáng bởi Thần Khí, được diễn tả trong các Thánh vịnh. Nơi những người nghèo này, Thần Khí chuẩn bị cho Chúa một dân hoàn hảo. [Back]
Thần Khí của Đức Kitô lúc thời gian
viên mãn
Gioan, vị tiền hô, tiên tri và tẩy giả
“Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan” (Ga 1,6). Ông Gioan được “đầy Thánh Thần, ngay khi còn trong lòng mẹ” (Lc 1,15), do chính Đức Kitô mà Đức Trinh Nữ Maria vừa thụ thai bởi Chúa Thánh Thần. Như vậy, việc Đức Maria viếng thăm bà Êlisabeth đã trở thành việc Thiên Chúa viếng thăm dân Ngài. [Back]
0718
Ông Gioan chính là tiên tri Êlia phải đến: ngọn lửa của Thần Khí ở trong ông và làm cho ông (với tư cách là người tiền hô) chạy trước Chúa, Đấng ngự đến. Nơi ông Gioan, vị Tiền hô, Chúa Thánh Thần hoàn tất việc “chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17). [Back]
0719
Ông Gioan còn hơn một Tiên tri nữa. Nơi ông, Chúa Thánh Thần hoàn thành việc dùng các Tiên tri mà phán dạy. Ông Gioan kết thúc hàng ngũ các Tiên tri khởi đầu từ ông Êlia. Ông loan báo niềm an ủi Israel đã gần kề, là “tiếng” của Đấng An Ủi, Đấng ngự đến. Chính ông, như Thần chân lý cũng sẽ làm, “đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng” (Ga 1,7). Nơi ông Gioan, Thần Khí hoàn thành điều các tiên tri tìm hiểu và các Thiên thần ước mong: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thật rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn…. Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,33-36). [Back]
0720
Cuối cùng, với ông Gioan Tẩy
Giả, Chúa Thánh Thần khởi sự và biểu hiện
trước những gì Ngài sẽ thực hiện với
Đức Kitô và trong Đức Kitô: đó là phục hồi cho con người
sự “giống như” Thiên Chúa. Phép rửa của ông Gioan là
phép rửa thống hối, còn Phép Rửa trong nước
và trong Thần Khí sẽ là sự tái sinh. [Back]
0721
Mừng
vui lên, hỡi người đầy ân phúc
Đức Maria, Mẹ rất thánh
của Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, là công
trình tuyệt tác của sứ vụ phối hợp
giữa Chúa Con và Thần Khí lúc thời gian viên mãn.
Trong kế hoạch cứu độ, bởi vì Thần
Khí Thiên Chúa đã chuẩn bị Mẹ, lần đầu
tiên Chúa Cha đã tìm được Chỗ Ở, nơi Con của
Ngài và Thần Khí của Ngài có thể cư ngụ giữa loài
người. Theo ý nghĩa này, Truyền thống Hội
Thánh thường đọc những bản văn đẹp nhất viết
về đức Khôn Ngoan trong tương quan với Đức Maria: trong
phụng vụ Đức Maria được ca ngợi và được
trình bày như là Toà Đấng Khôn Ngoan. Nơi Đức Maria, những
kỳ công của Thiên Chúa mà Thần Khí sắp hoàn thành trong
Đức Kitô và trong Hội Thánh, bắt đầu được biểu
lộ.
0722
Chúa Thánh Thần đã dùng ân sủng của Ngài mà chuẩn bị Đức Maria. Mẹ của Đấng “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9) tất phải “đầy ơn phúc”. Đức Maria đã được thụ thai, trong ân sủng thuần tuý, không hề có tội, với tư cách là người khiêm tốn nhất trong các thụ tạo, xứng đáng nhất trong mọi người để đón nhận hồng ân khôn tả của Đấng Toàn Năng. Thiên thần Gabriel chào Mẹ cách chính xác là Con gái Sion: Kính mừng (“Mừng vui lên”). Chính Mẹ, trong bài thánh ca của mình, đã làm cho lời tạ ơn của toàn dân Thiên Chúa và của Hội Thánh lên tới Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, khi Mẹ cưu mang nơi mình Chúa Con vĩnh cửu. [Back]
0723
Nơi Đức Maria, Chúa Thánh Thần thực hiện kế hoạch nhân ái của Chúa Cha. Bởi Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ đã thụ thai và sinh hạ Con Thiên Chúa. Sự đồng trinh mà vẫn sinh con của Mẹ là độc nhất vô nhị nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần và của đức tin. [Back]
0724
Nơi Đức Maria, Chúa Thánh Thần làm tỏ hiện Con của Chúa Cha đã trở thành Con của Đức Trinh Nữ. Mẹ là bụi gai bừng cháy của cuộc Thần hiện tối hậu: chính Mẹ, được đầy tràn Chúa Thánh Thần, tỏ cho thấy Ngôi Lời trong xác phàm khiêm hạ của Người, và làm cho những kẻ nghèo hèn và những của đầu mùa của các dân tộc nhận biết Người. [Back]
0725
Cuối cùng, qua Đức Maria, Chúa Thánh Thần bắt đầu làm cho được hiệp thông với Đức Kitô, những người là đối tượng của tình yêu nhân ái của Thiên Chúa (“những người thiện tâm” của Thiên Chúa[96]), và những người khiêm hạ luôn luôn là những người đầu tiên đón nhận Người: các mục đồng, các đạo sĩ, ông Simêon và bà Anna, cô dâu chú rể ở Cana và các môn đệ đầu tiên. [Back]
0726
Vào cuối sứ vụ này của Chúa Thánh Thần, Đức Maria trở nên Người Đàn Bà, bà Evà mới, Mẹ của chúng sinh, Mẹ của Đức Kitô toàn. Chính với tư cách này, Mẹ hiện diện với nhóm Mười Hai, “đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện” (Cv 1,14), vào lúc bình minh của thời đại cuối cùng mà Thần Khí sắp khai mạc vào sáng ngày lễ Ngũ Tuần với việc làm tỏ hiện Hội Thánh. [Back]
0727
Đức Kitô Giêsu
Toàn bộ sứ vụ của
Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong thời gian viên mãn tập
trung vào sự kiện Chúa Con là Đấng Được Xức Dầu
bằng Thần Khí của Chúa Cha khởi từ cuộc Nhập
Thể của Người: Chúa Giêsu là Đức Kitô, Đấng
Messia. Toàn bộ chương hai của Tín biểu phải được
đọc dưới ánh sáng này. Toàn bộ công trình của Đức
Kitô là sứ vụ phối hợp của Chúa Con và của
Chúa Thánh Thần. Ở đây, chúng ta sẽ chỉ đề cập
những gì liên quan đến lời Chúa Giêsu hứa ban
Thánh Thần và việc Người thực hiện lời hứa
đó sau khi Người được tôn vinh. [Back]
0728
Chúa Giêsu không mạc khải trọn
vẹn Chúa Thánh Thần, cho tới khi Người được tôn vinh
qua cái Chết và sự Sống lại của Người. Tuy
nhiên, Người cũng dần dần gợi ý về
Chúa Thánh Thần khi Người giảng dạy dân chúng, khi Người
mạc khải Thịt của Người sẽ là của ăn
cho thế gian được sống. Người cũng gợi
ý cho ông Nicôđêmô, cho người phụ nữ Samaria và những
người tham dự Lễ Lều. Người nói cách tỏ tường
cho các môn đệ của Người nhân khi dạy họ cầu
nguyện và khi báo trước việc họ phải là nhân chứng
cho Người. [Back]
0729
Chỉ khi đến Giờ Chúa Giêsu phải được tôn vinh, Người mới hứa rằng Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến, vì cái Chết và sự Sống lại của Người sẽ là sự hoàn thành Lời đã hứa với các Tổ phụ: Thần chân lý, Đấng Bào Chữa khác, sẽ được Chúa Cha ban nhờ lời cầu xin của Chúa Giêsu; chính Ngài sẽ được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu; Chúa Giêsu sẽ sai Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha mà đến, bởi vì Ngài xuất phát từ Chúa Cha. Chúa Thánh Thần sẽ đến, và chúng ta sẽ nhận biết Ngài, Ngài sẽ ở cùng chúng ta mãi mãi, Ngài sẽ cư ngụ với chúng ta; Ngài sẽ dạy dỗ chúng ta mọi sự và nhắc cho chúng ta nhớ tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói, và Ngài sẽ làm chứng cho Đức Kitô; Ngài sẽ dẫn chúng ta đến chân lý trọn vẹn và sẽ tôn vinh Đức Kitô. Còn đối với thế gian, Ngài sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính, và về việc xét xử. [Back]
0730
Cuối cùng, Giờ của Chúa Giêsu
đã đến: Chúa Giêsu phó thác thần khí của Người
trong tay Chúa Cha vào đúng lúc Người toàn thắng sự chết
bằng cái Chết của mình, đến độ khi “sống
lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển
của Chúa Cha” (Rm 6,4), Người liền “thổi
hơi” ban Chúa Thánh Thần trên các môn đệ của Người. Từ
Giờ đó, sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa
Thánh Thần trở thành sứ vụ của Hội Thánh:
“Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh
em” (Ga 20,21). [Back]
Thần Khí và Hội Thánh trong thời
đại cuối cùng
Lễ Ngũ Tuần
Ngày lễ Ngũ Tuần (vào cuối bảy tuần mừng lễ Vượt Qua), cuộc Vượt Qua của Đức Kitô được hoàn thành bằng việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần, Đấng được biểu lộ, được ban, và được truyền thông với tư cách là một Ngôi Vị thần linh: Chúa Kitô từ nguồn sung mãn của Người tuôn đổ cách đầy tràn Thần Khí của Người . [Back]
0732
Trong ngày đó, mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh được mạc khải trọn vẹn. Sau ngày đó, Nước mà Đức Kitô đã loan báo, được mở ra cho những ai tin vào Người: trong sự khiêm hạ của xác phàm và trong đức tin, họ đã được tham dự vào sự hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh. Chúa Thánh Thần, nhờ việc Ngài ngự đến, mà Ngài không ngừng ngự đến, dẫn đưa trần gian vào “thời đại cuối cùng”, thời đại của Hội Thánh, vào Nước đã được sở hữu làm gia sản, nhưng chưa hoàn tất: Chúng ta đã thấy Ánh sáng thật, chúng ta đã lãnh nhận Thánh Thần Thiên Chúa, chúng ta đã tìm được đức tin chân chính: chúng ta tôn thờ Ba Ngôi bất khả phân ly, vì chính Ba Ngôi đã cứu độ chúng ta. [Back]
0733
Chúa Thánh Thần - Hồng ân của Thiên Chúa
“Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8.16) và tình yêu là hồng ân đầu tiên, chứa đựng tất cả mọi sự khác. Tình yêu này “Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,5). [Back]
0734
Bởi vì do tội mà chúng ta chết hoặc ít nhất là bị thương, nên hiệu quả đầu tiên của hồng ân tình yêu là ơn tha thứ các tội của chúng ta. Chính “ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” (2 Cr 13,13) trong Hội Thánh phục hồi những người đã được Rửa Tội trở lại tình trạng giống như Thiên Chúa mà họ đã đánh mất vì tội lỗi. [Back]
0735
Lúc đó Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta bảo chứng hoặc những ân huệ khởi đầu của phần gia sản của chúng ta: đó là chính sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh, là yêu thương như chính Ngài đã yêu thương chúng ta. Tình yêu này là nguyên lý của đời sống mới trong Đức Kitô, nay có thể thực hiện được bởi vì chúng ta đã lãnh nhận “sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống” (Cv 1,8). [Back]
0736
Nhờ sức mạnh đó của Chúa Thánh Thần, các con cái Thiên Chúa có thể mang lại hoa trái. Đấng đã tháp chúng ta vào Cây Nho thật, sẽ làm cho chúng ta mang lại hoa trái của Thần Khí, là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23). Thần Khí là sự sống của chúng ta; chúng ta càng từ bỏ chính mình, Thần Khí càng làm cho chúng ta hoạt động.
Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta được phục hồi để vào thiên đàng, được dẫn lên Nước Trời, được ban ơn làm nghĩa tử: chúng ta được vững lòng để gọi Thiên Chúa là Cha của mình, và thông phần vào ân sủng của Đức Kitô, được gọi là con cái ánh sáng và dự phần vào vinh quang vĩnh cửu. [Back]
0737
Chúa Thánh Thần và Hội Thánh
Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần được thực hiện trong Hội Thánh, là Thân Thể Đức Kitô và Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Sứ vụ phối hợp này từ nay đưa các tín hữu của Đức Kitô vào sự hiệp thông của Người với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần: Thần Khí chuẩn bị người ta, Ngài đến với họ trước bằng ân sủng của Ngài để lôi kéo họ đến với Đức Kitô. Chính Ngài làm tỏ hiện Chúa phục sinh cho họ, nhắc cho họ nhớ Lời của Người và mở trí cho họ hiểu được sự Chết và sự Sống Lại của Người. Ngài làm cho mầu nhiệm của Đức Kitô hiện diện cho họ, nhất là trong bí tích Thánh Thể, để hòa giải họ, và cho họ được hiệp thông với Thiên Chúa, để làm cho họ mang lại nhiều hoa trái. [Back]
0738
Như vậy, sứ vụ của Hội Thánh không phải là được thêm vào sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần, nhưng là bí tích của sứ vụ đó: Hội Thánh, tự bản chất và trong tất cả các chi thể của mình, được sai đi để loan báo và làm chứng, hiện tại hóa và truyền bá mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh (đây sẽ là nội dung của mục kế tiếp): Tất cả chúng ta đã lãnh nhận cùng một Thần Khí duy nhất là Thánh Thần, nên một cách nào đó chúng ta được kết hợp với nhau và với Thiên Chúa. Mặc dầu chúng ta nhiều người, và mặc dầu Đức Kitô đã làm cho Thần Khí của Chúa Cha và của Người cư ngụ trong mỗi người chúng ta, Thần Khí vẫn là một và không thể phân chia, Ngài quy tụ những thần trí riêng rẽ… trong sự hợp nhất nhờ chính Ngài và làm cho tất cả như nên một trong Ngài. Cũng như sức mạnh của Mình Thánh Chúa Kitô làm cho những ai ăn Mình Thánh Người được thuộc về một thân thể duy nhất như thế nào, thì cũng một cách đó, theo tôi nghĩ, Thần Khí duy nhất và không thể phân chia của Thiên Chúa đang ngự trong mọi người, cũng đưa mọi người đến sự hợp nhất tinh thần như vậy. [Back]
0739
Bởi vì Chúa Thánh Thần là sự Xức Dầu của Đức Kitô, nên Đức Kitô, là Đầu của thân thể, tuôn đổ Thánh Thần cho các chi thể của Người để nuôi dưỡng và chữa lành họ, cắt đặt họ vào trong các phận vụ đối với nhau, làm cho họ được sống, sai họ đi làm chứng, liên kết họ vào việc Người dâng mình lên Chúa Cha và vào việc Người chuyển cầu cho khắp cả trần gian. Qua các bí tích của Hội Thánh, Đức Kitô truyền thông cho các chi thể của Người Thần Khí của Người, là Đấng Thánh và là Đấng Thánh Hóa (đây sẽ là nội dung của Phần Thứ Hai của Sách Giáo Lý này). [Back]
0740
Những kỳ công của Thiên Chúa” đang nói ở đây, được ban cho các tín hữu trong các bí tích của Hội Thánh, sẽ mang lại hoa trái trong đời sống mới trong Đức Kitô theo Thần Khí (đây sẽ là nội dung của Phần Thứ Ba của Sách Giáo Lý này). [Back]
0741
“Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” (Rm 8,26). Chúa Thánh Thần, Đấng thực hiện các công trình của Thiên Chúa, là Thầy dạy cầu nguyện (đây sẽ là nội dung của Phần Thứ Tư của Sách Giáo Lý này). [Back]
Tóm lược
Để chứng thực anh em là con cái,
Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự
trong lòng anh em mà kêu lên: Abba, Cha ơi” (Gl 4,6). [Back]
0743
Từ
lúc khởi đầu cho đến lúc hoàn tất thời gian, khi
Thiên Chúa sai Con của Ngài, Ngài luôn luôn sai Thần Khí của
Ngài: Sứ vụ của hai Ngôi được phối hợp và
không thể tách biệt nhau. [Back]
0744
Khi thời
gian đến hồi viên mãn, Chúa Thánh Thần hoàn thành nơi
Đức Maria mọi công cuộc chuẩn bị để Đức
Kitô ngự đến giữa dân của Thiên Chúa. Qua hành động
của Chúa Thánh Thần nơi Đức Maria, Chúa Cha ban cho trần
gian Đấng Emmanuel, Đấng là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). [Back]
0745
Con
Thiên Chúa qua việc Xức Dầu bằng Chúa Thánh Thần
được thánh hiến làm Đức Kitô (Đấng Messia)
trong cuộc Nhập Thể của Người. [Back]
0746
Chúa Giêsu, nhờ sự Chết và sự Sống lại của Người, được thiết đặt làm Chúa và làm Đức Kitô trong vinh quang. Chính Người, từ nguồn sung mãn của mình, tuôn đổ Chúa Thánh Thần trên các Tông Đồ và trên Hội Thánh. [Back]
0747
Chúa Thánh
Thần, Đấng mà Đức Kitô là Đầu đã tuôn đổ
cho các chi thể của Người, xây dựng, ban sinh khí và
thánh hóa Hội Thánh. Hội Thánh là bí tích của sự hiệp
thông giữa Ba Ngôi Chí Thánh và loài người. [Back]
Tôi tin Hội Thánh Công giáo
Ánh sáng muôn dân chính là Đức Kitô, nên Thánh Công đồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước chiếu giãi trên mọi người ánh sáng của Đức Kitô, phản chiếu trên dung nhan Hội Thánh, bằng việc rao truyền Tin Mừng cho mọi thụ tạo. Những lời trên đây mở đầu Hiến chế tín lý về Hội Thánh” của Công đồng Vaticanô II. Như vậy, Công đồng cho thấy đề mục đức tin về Hội Thánh hoàn toàn tùy thuộc vào những đề mục quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô. Hội Thánh không có ánh sáng nào khác ngoài ánh sáng của Đức Kitô; Hội Thánh có thể so sánh, theo hình ảnh các Giáo phụ thích dùng, với mặt trăng, mọi ánh sáng của nó đều là phản chiếu ánh sáng mặt trời. [Back]
0749
Đề mục về Hội Thánh cũng hoàn toàn tùy thuộc đề mục trước, về Chúa Thánh Thần. Bởi vì khi đã cho thấy Chúa Thánh Thần là nguồn mạch và là Đấng ban phát mọi sự thánh thiện, bây giờ chúng tôi tuyên xưng rằng chính Ngài đã ban cho Hội Thánh sự thánh thiện. Hội Thánh, theo cách diễn tả của các Giáo phụ, là nơi Thần Khí trổ hoa. [Back]
0750
Tin rằng Hội Thánh có đặc tính
là Thánh thiện và Công giáo, và Hội Thánh có đặc tính Duy nhấ”
và Tông truyền (như Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli thêm vào),
là điều không thể tách biệt khỏi đức tin vào
Thiên Chúa là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong Tín biểu
của các Tông Đồ, chúng ta tuyên xưng chúng ta tin Hội Thánh (“Tôi tin có Hội
Thánh”), chứ không phải “tôi tin kính Hội Thánh”, để
chúng ta không lẫn lộn Thiên Chúa với các công trình của
Ngài và để chúng ta quy một cách rõ ràng về
lòng nhân hậu của Thiên Chúa tất cả mọi hồng
ân mà Ngài đã đặt vào Hội Thánh của Ngài. [Back]
Hội Thánh trong kế hoạch
của Thiên Chúa
Danh xưng và hình ảnh về Hội Thánh
Hội Thánh trong tiếng La tinh là Ecclesia (tiếng Hy lạp là Ekklèsia, Ek-kalein, “gọi ra, triệu tập”) có nghĩa là “một cuộc triệu tập”. Danh từ này được dùng để chỉ một cuộc tập họp dân chúng thông thường mang tính chất tôn giáo. Từ này thường được bản Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp sử dụng để chỉ việc tập họp dân Chúa chọn trước mặt Thiên Chúa, nhất là cuộc tập họp ở núi Sinai khi Israel lãnh nhận Lề luật và được Thiên Chúa thiết lập làm dân thánh của Ngài. Khi gọi mình là “Ecclesia” (Hội Thánh), cộng đoàn tiên khởi của những người tin vào Đức Kitô tự nhận mình là thừa kế của cuộc tập họp dân Chúa trong Cựu Ước. Trong cộng đoàn mới này, Thiên Chúa “triệu tập” dân của Ngài từ khắp cùng cõi đất. Từ “Kyriakè”, từ gốc của “Church” trong tiếng Anh, và “Kirche” trong tiếng Đức, có nghĩa là “điều thuộc về Chúa”. [Back]
0752
Trong ngôn ngữ Kitô giáo, từ Ecclesia (Hội Thánh) dùng để chỉ một cuộc tập họp phụng vụ, nhưng cũng để chỉ một cộng đoàn các tín hữu ở một địa phương và toàn thể cộng đoàn các tín hữu trên khắp thế giới. Ba nghĩa này thật ra không thể tách biệt nhau. Hội Thánh là dân được Thiên Chúa quy tụ từ khắp thế gian. Hội Thánh hiện diện trong những cộng đoàn địa phương và trở nên hiện thực trong một cộng đoàn phụng vụ, đặc biệt là cộng đoàn cử hành Thánh Thể. Hội Thánh sống nhờ Lời và Mình Thánh Đức Kitô và như vậy, Hội Thánh trở thành Thân Thể Đức Kitô. [Back]
0753
Các biểu tượng về Hội Thánh
Trong Thánh Kinh, chúng ta gặp nhiều hình ảnh và biểu tượng có tương quan mật thiết với nhau, được Mạc Khải dùng để nói về mầu nhiệm khôn lường của Hội Thánh. Các hình ảnh trong Cựu ước đều là những biến thể của một ý tưởng căn bản, ý tưởng về dân Thiên Chúa. Trong Tân Ước, tất cả những hình ảnh này có một tâm điểm mới là Đức Kitô, Đấng trở thành Đầu của dân này, một dân từ nay là Thân Thể của Người. Chung quanh tâm điểm đó, những hình ảnh được tổng hợp rút ra hoặc từ đời sống chăn nuôi hay trồng trọt, hoặc từ việc xây dựng, hoặc từ đời sống gia đình và hôn nhân. [Back]
0754
Quả thật, Hội Thánh là chuồng chiên mà cửa vào duy nhất và cần thiết của chuồng chiên đó là Đức Kitô. Hội Thánh cũng là đàn chiên mà chính Thiên Chúa đã tiên báo Ngài sẽ là mục tử của đàn chiên đó, và những con chiên của đàn ấy, tuy do các mục tử phàm nhân chăn dắt, nhưng luôn được dẫn dắt và nuôi dưỡng bởi chính Đức Kitô, vị Mục tử nhân lành và Thủ lãnh các mục tử, Đấng đã hiến mạng sống mình cho các con chiên. [Back]
0755
Hội Thánh là thửa ruộng, hay cánh đồng của Thiên Chúa. Trong cánh đồng đó, mọc lên cây ôliu cổ thụ mà gốc rễ thánh là các Tổ phụ, và nơi cây này, sự giao hoà giữa những người Do thái và các dân ngoại đã được và sẽ được thực hiện. Hội Thánh được Nhà Làm Vườn thiên quốc trồng như một cây nho được tuyển chọn. Đức Kitô là cây nho thật, ban sức sống và sự sinh sôi nảy nở các ngành, tức là chúng ta, những kẻ được ở trong Người nhờ Hội Thánh, và không có Người, chúng ta không thể làm gì được. [Back]
0756
Hội Thánh cũng thường được
gọi là toà nhà của Thiên Chúa. Chính Chúa đã tự ví Người
như viên đá mà các thợ xây nhà loại bỏ, nhưng đã trở
nên viên đá góc tường (Mt 21,42 và ss;
Cv 4,11; 1 Pr 2,7; Tv 118,22). Trên nền móng này, Hội Thánh
được xây dựng bởi các Tông Đồ và nhờ nền
móng này Hội Thánh có được sự vững vàng và kết cấu.
Toà nhà này được gọi bằng nhiều tên khác nhau: nhà
Thiên Chúa nơi gia đình của Ngài cư ngụ, chỗ ở của
Thiên Chúa trong Thần Khí, lều của Thiên Chúa giữa loài
người, và nhất là Đền thánh, được tượng trưng bằng
các đền thánh bằng đá được các Thánh Giáo phụ ca tụng,
và trong phụng vụ được so sánh, một cách không phải
vô lý, với Thành thánh, là Giêrusalem mới. Quả thật,
ở trần gian này, chúng ta như những viên đá sống động
được sử dụng để xây nên Thành thánh đó. Ông Gioan
đã chiêm ngưỡng Thành thánh đó từ trời, từ nơi
Thiên Chúa mà xuống trong cuộc canh tân trần gian, ‘sẵn
sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang’ (Kh 21,1-2). [Back]
0757
“Hội Thánh cũng được gọi
là ‘thành Giêrusalem trên trời’, và ‘Mẹ chúng ta’ (Gl 4,26);
được mô tả như Hiền Thê tinh tuyền của Con Chiên
không tì ố, được Đức Kitô ‘yêu thương và hiến
mình để thánh hóa’ (Ep 5,25-26),
được Người kết hợp bằng một giao ước
bất khả tiêu hủy, và được Người ‘nuôi nấng
và chăm sóc’ không ngừng. [Back]
Nguồn gốc, nền tảng và sứ vụ của
Hội Thánh
Để tìm hiểu mầu nhiệm Hội Thánh, trước hết cần phải suy tư về nguồn gốc của Hội Thánh trong kế hoạch của Ba Ngôi Chí Thánh rồi việc Hội Thánh được hình thành dần dần trong lịch sử.
0759
Một kế hoạch xuất phát từ trái tim của Chúa Cha
Chúa Cha hằng hữu, bởi kế hoạch hoàn toàn tự do và bí nhiệm do sự khôn ngoan và nhân hậu của Ngài, đã tạo dựng trần gian, đã quyết định nâng người ta lên cho tham dự đời sống thần linh, Ngài kêu gọi mọi người tới đời sống đó trong Con của Ngài. Ngài đã quyết định tập họp những người tin vào Đức Kitô thành Hội Thánh thánh thiện. Gia đình này của Thiên Chúa được thiết lập và từng bước được hình thành qua các giai đoạn của lịch sử nhân loại theo sự an bài của Chúa Cha: Thật vậy, Hội Thánh đã được hình dung trước, từ lúc khởi đầu trần gian, được chuẩn bị một cách kỳ diệu trong lịch sử dân Israel và trong Giao Ước cũ, được thiết lập trong thời đại cuối cùng, được tỏ hiện bằng việc Thần Khí được tuôn đổ, và sẽ được hoàn tất cách vinh hiển vào lúc tận thế. [Back]
0760
Hội Thánh được hình dung trước, từ lúc khởi đầu trần gian
Các Kitô hữu thời sơ khai cho rằng: Trần gian đã được tạo dựng vì Hội Thánh. Thiên Chúa đã tạo dựng trần gian để trần gian được hiệp thông vào đời sống thần linh của Ngài, sự hiệp thông này được thực hiện qua việc triệu tập người ta trong Đức Kitô, và sự triệu tập này là Hội Thánh. Hội Thánh là mục đích của mọi sự, và cả những thăng trầm đau thương, như việc các thiên thần sa ngã và loài người phạm tội, đã chẳng được Thiên Chúa cho phép xảy ra nếu như đó không là cơ hội và phương thế để biểu dương toàn thể sức mạnh của cánh tay Ngài, toàn thể mức độ của tình yêu Ngài muốn dành cho trần gian: Quả vậy, cũng như ý muốn của Thiên Chúa là một công trình, và công trình đó có tên là trần gian, thì cũng vậy, ý định của Ngài là cứu độ loài người, và công trình cứu độ ấy có tên là Hội Thánh. [Back]
0761
Hội Thánh được chuẩn bị trong Giao Ước cũ
Việc tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu ngay từ lúc tội lỗi phá hủy sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Việc tập họp Hội Thánh là như sự phản ứng của Thiên Chúa trước cảnh hỗn độn do tội lỗi gây ra. Công cuộc tái hợp âm thầm này được thực hiện giữa lòng tất cả các dân tộc: “Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10,35) [Back]
0762
Việc chuẩn bị xa cho cuộc
tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu bằng ơn gọi
của ông Abraham, Thiên Chúa hứa cho ông trở thành cha tương
lai của một dân tộc vĩ đại. Việc chuẩn
bị gần bắt đầu bằng việc tuyển chọn
Israel làm dân Thiên Chúa. Nhờ việc được tuyển chọn,
Israel phải là dấu chỉ cuộc tập họp trong
tương lai gồm tất cả các dân tộc. Nhưng các Tiên tri tố
cáo Israel đã phản bội Giao ước và đã hành xử
như một gái điếm. Các ngài loan báo một Giao Ước mới
và vĩnh cửu. Giao ước mới này, chính Đức Kitô
đã thiết lập. [Back]
0763
Hội Thánh được Đức Kitô thiết lập
Chúa Con là Đấng thực hiện kế hoạch cứu độ của Chúa Cha vào lúc thời gian đến hồi viên mãn: đó là lý do Người được sai đế]. Chúa Giêsu đã khởi đầu Hội Thánh của Người bằng việc rao giảng Tin Mừng, nghĩa là rao giảng Nước Thiên Chúa ngự đến, Nước đã được hứa trong Thánh Kinh từ nhiều thế kỷ. Để chu toàn ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khai mạc Nước Trời nơi trần thế. Hội Thánh là Nước của Đức Kitô đã hiện diện trong mầu nhiệm. [Back]
0764
Quả thật, Nước Thiên Chúa sáng
tỏ trước mặt mọi người trong lời nói, hành
động và sự hiện diện của Đức Kitô. Ai đón
nhận lời của Chúa Giêsu là đón nhận chính Nước
Thiên Chúa. Mầm mống và điểm khởi đầu của
Nước Thiên Chúa là một đoàn chiên nhỏ bé (Lc 12,32),
gồm những người được Chúa Giêsu đến triệu tập
quanh Người và chính Người là mục tử của họ.
Những người đó họp thành gia đình đích thực của
Chúa Giêsu. Những ai Người đã quy tụ quanh Người,
Người đã dạy cho họ một cách hành động mới,
và cả một kinh nguyện riêng. [Back]
0765
Chúa Giêsu đã thiết lập cho cộng đoàn của Người một cơ cấu tồn tại cho tới khi Nước Thiên Chúa được hoàn thành trọn vẹn. Trước hết, Người tuyển chọn nhóm Mười Hai với ông Phêrô làm thủ lãnh. Những vị này, đại diện cho mười hai chi tộc Israel, là những tảng đá nền móng của Giêrusalem mới. Nhóm Mười Hai và các môn đệ khác được tham dự vào sứ vụ của Đức Kitô, vào quyền năng của Người, và cả số phận của Người. Bằng tất cả các hành động này, Đức Kitô chuẩn bị và xây dựng Hội Thánh của Người. [Back]
0766
Nhưng Hội Thánh được sinh ra một
cách chủ yếu từ việc hiến thân trọn vẹn
của Đức Kitô để cứu độ chúng ta, việc hiến
thân ấy được thể hiện trước trong việc thiết
lập bí tích Thánh Thể và được thực hiện trên thập
giá. Sự khởi đầu và tăng trưởng của Hội
Thánh được đánh dấu bằng việc máu và nước trào ra
từ cạnh sườn rộng mở của Chúa Giêsu bị
đóng đinh trên thập giá. Chính từ cạnh sườn của Đức
Kitô yên nghỉ trên thập giá đã phát sinh bí tích kỳ diệu
là toàn thể Hội Thánh. Như bà Evà được tạo ra từ
cạnh sườn của ông Ađam, thì cũng vậy, Hội
Thánh được sinh từ trái tim bị đâm thâu của Đức
Kitô chết trên thập giá. [Back]
0767
Hội Thánh – được tỏ hiện bởi Chúa Thánh Thần
Vậy sau khi công trình mà Chúa Cha trao cho Chúa Con thực hiện nơi trần thế đã được hoàn tất, thì Chúa Thánh Thần được sai đến vào ngày lễ Ngũ Tuần, để Ngài thánh hoá Hội Thánh một cách liên lỉ. Lúc đó Hội Thánh được tỏ hiện một cách công khai trước mặt dân chúng, và Tin Mừng bắt đầu được truyền bá cho muôn dân qua việc rao giảng. Bởi vì là “cuộc triệu tập” mọi người đến với ơn cứu độ, nên tự bản chất của mình, Hội Thánh có tính chất thừa sai, được Đức Kitô sai đến với mọi dân tộc để làm cho họ thành môn đệ. [Back]
0768
Chúa Thánh Thần dạy dỗ và hướng
dẫn Hội Thánh bằng nhiều hồng ân theo phẩm
trật và theo đặc sủng, để Hội Thánh thực hiện
sứ vụ của mình. Từ đó, được trang bị
bằng các hồng ân của Đấng Sáng Lập và trong khi
trung thành tuân giữ các giới luật của Người về
bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Hội Thánh lãnh nhận
sứ vụ loan báo và thiết lập Nước của Đức
Kitô và của Thiên Chúa nơi mọi dân tộc, và tạo thành mầm
mống và điểm khởi đầu của Nước này trên
trái đất. [Back]
0769
Hội Thánh – được hoàn tất trong vinh quang
Hội Thánh… sẽ chỉ được hoàn tất trong vinh quang thiên quốc, trong cuộc Ngự đến vinh hiển của Đức Kitô. Cho đến ngày đó, Hội Thánh vẫn tiến bước trên đường lữ thứ giữa những cuộc bách hại của thế gian và những ơn an ủi của Thiên Chúa. Nơi trần thế, Hội Thánh biết mình đang ở chốn lưu đày, đang trên đường lữ thứ xa cách Chúa, Hội Thánh khao khát cuộc ngự đến trọn vẹn của Nước Thiên Chúa, khao khát “giờ sẽ được kết hợp cùng Vua của mình trong vinh quang. Sự hoàn tất của Hội Thánh, và qua đó, sự hoàn tất của trần gian trong vinh quang sẽ chỉ xảy ra sau nhiều thử thách lớn lao. Chỉ khi đó mọi người công chính từ ông Ađam, từ ông Abel người công chính cho đến người được tuyển chọn cuối cùng’ sẽ được quy tụ trong Hội Thánh phổ quát bên cạnh Chúa Cha. [Back]
Mầu Nhiệm Hội Thánh
Hội Thánh sống trong lịch sử, nhưng đồng thời siêu việt trên lịch sử. Chỉ tâm trí được soi sáng bởi đức tin mới có thể nhận ra trong thực tại hữu hình của Hội Thánh một thực tại thiêng liêng mang sự sống thần linh. [Back]
0771
Hội Thánh - vừa hữu hình vừa thiêng liêng
Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất, đã thiết lập và không ngừng nâng đỡ Hội Thánh của Người, một cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến, như một cơ cấu hữu hình nơi trần thế, qua Hội Thánh đó Người ban phát chân lý và ân sủng cho mọi người. Hội Thánh đồng thời:
– vừa là một xã hội…
có tổ chức theo phẩm trật, vừa là Thân Thể
mầu nhiệm của Đức Kitô;
– vừa là một tập thể hữu hình vừa là
một cộng đoàn thiêng liêng;
– vừa là một Hội Thánh được phong phú bởi những
của cải trần thế vừa là một Hội Thánh
được phong phú bởi những của cải thiên quốc”
Các chiều kích trên đồng thời “cấu thành một thực tại phức hợp duy nhất, kết hợp hai yếu tố nhân loại và thần linh.
Hội Thánh có đặc điểm là vừa mang tính nhân loại vừa mang tính thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành trong hành động vừa siêu thoát trong chiêm niệm, vừa hiện diện trong trần gian vừa xa lạ với trần gian; tuy nhiên, trong Hội Thánh, yếu tố nhân loại quy hướng về yếu tố thần linh và tuỳ thuộc vào đó; yếu tố hữu hình quy hướng về yếu tố vô hình; yếu tố hoạt động quy hướng về yếu tố chiêm niệm, và hiện tại quy hướng về thành đô tương lai mà chúng ta đang tìm kiếm.
Ôi thật khiêm cung! Ôi thật cao trọng! Lều tạm bằng gỗ tùng và thánh điện của Thiên Chúa, lều tạm trần thế và cung điện thiên quốc; ngôi nhà bằng đất sét và lâu đài hoàng gia; thân thể của sự chết và đền thờ của ánh sáng; và sau cùng, đối tượng bị khinh miệt bởi những kẻ kiêu căng, và hiền thê của Đức Kitô! Tôi đen nhưng tôi đẹp, hỡi các thiếu nữ Giêrusalem: mặc dầu lao động và đau khổ của cuộc lưu đày lâu dài làm nàng xanh xao, nhưng nàng lại được trang điểm bằng vẻ đẹp thiên quốc. [Back]
0772
Hội Thánh – mầu nhiệm hợp nhất người ta với Thiên Chúa
Trong Hội Thánh, Đức Kitô hoàn
thành và mạc khải mầu nhiệm riêng của Người
như mục đích của kế hoạch của Thiên Chúa: “quy tụ
muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ
lãnh là Đức Kitô” (Ep l,l0).
Thánh Phaolô gọi cuộc kết hợp phu phụ của Đức
Kitô với Hội Thánh là “một mầu nhiệm cao cả”
(Ep 5,32). Bởi vì được kết hợp với Đức
Kitô như với Phu Quân của mình, nên chính Hội Thánh cũng
trở thành một mầu nhiệm. Khi chiêm ngắm mầu
nhiệm nơi Hội Thánh, thánh Phaolô đã thốt lên: “Đức
Kitô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy
vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27). [Back]
0773
Trong Hội Thánh, sự hiệp thông này giữa người ta với Thiên Chúa nhờ đức mến “không bao giờ mất được” (1 Cr l3,8) là mục đích chi phối tất cả những gì là phương tiện bí tích gắn liền với thế giới đang qua đi này. Toàn bộ cơ cấu của Hội Thánh đều hướng về sự thánh thiện của các chi thể của Đức Kitô. Sự thánh thiện ấy lại được xác định theo ‘mầu nhiệm cao cả’, là mầu nhiệm Hiền Thê dùng tặng phẩm tình yêu của riêng mình đáp trả lại tặng phẩm của Đấng Phu Quân. Đức Maria trổi vượt tất cả chúng ta về sự thánh thiện, vốn là mầu nhiệm của Hội Thánh, như một Hiền Thê không tỳ ố, không vết nhăn. Vì vậy, “chiều kích Maria của Hội Thánh trổi vượt trên chiều kích Phêrô. [Back]
0774
Hội Thánh - bí tích phổ quát của ơn cứu độ
Từ mysterion trong tiếng Hy Lạp được dịch sang tiếng La tinh bằng hai từ là mysterium (mầu nhiệm) và sacramentum (bí tích). Trong cách giải thích về sau này, từ sacramentum (bí tích) diễn tả dấu chỉ hữu hình của thực tại ẩn giấu của ơn cứu độ, thực tại ẩn giấu đó được diễn tả bằng từ mysterium (mầu nhiệm). Theo nghĩa này, chính Đức Kitô là mầu nhiệm của ơn cứu độ: Mầu nhiệm của Thiên Chúa không là gì khác ngoài Đức Kitô. Công trình cứu độ do nhân tính thánh thiện và có sức thánh hóa của Đức Kitô thực hiện là bí tích của ơn cứu độ. Bí tích này được biểu lộ và hoạt động trong các bí tích của Hội Thánh (mà các Giáo Hội Đông phương cũng gọi là các “mầu nhiệm thánh”). Bảy bí tích là những dấu chỉ và những dụng cụ Chúa Thánh Thần dùng để tuôn đổ ân sủng của Đức Kitô là Đầu, trên Hội Thánh là Thân Thể của Người. Như vậy, Hội Thánh chứa đựng và truyền thông ân sủng vô hình mà mình là dấu chỉ. Trong ý nghĩa loại suy này, chính Hội Thánh được gọi là một bí tích. [Back]
0775
Trong Đức Kitô, Hội Thánh là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất của toàn thể nhân loại: là bí tích của sự kết hợp mật thiết con người với Thiên Chúa: đó là mục đích đầu tiên của Hội Thánh. Bởi vì sự hiệp thông giữa con người bắt rễ trong sự kết hợp với Thiên Chúa, nên Hội Thánh cũng là bí tích của sự hợp nhất của nhân loại. Trong Hội Thánh, sự hợp nhất đó đã bắt đầu, bởi vì Hội Thánh quy tụ những người “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9); đồng thời, Hội Thánh là “dấu chỉ và dụng cụ” để thực hiện trọn vẹn sự hợp nhất này mà cho đến nay vẫn còn phải đạt tới. [Back]
0776
Với tính cách là bí tích, Hội Thánh
là dụng cụ của Đức Kitô. Hội Thánh cũng được
Đức Kitô sử dụng như dụng cụ để cứu
chuộc mọi người, Hội Thánh là bí tích phổ quát của
ơn cứu độ qua đó Đức Kitô biểu lộ và đồng
thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu của
Thiên Chúa đối với con người. Hội Thánh là kế hoạch
hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân
loại, trong kế hoạch này, Thiên Chúa muốn cho “nhân loại
phổ quát họp thành Dân duy nhất của Thiên Chúa, quy tụ
thành Thân thể duy nhất của Đức Kitô, xây dựng
nên một Đền thờ duy nhất của Chúa Thánh Thần. [Back]
Tóm lược
Từ
Hội Thánh (Ecclesia) có nghĩa gốc là “cuộc triệu tập”.
Từ này chỉ sự tập họp những người được
Lời Chúa triệu tập, để hợp thành dân Thiên Chúa,
và những người này, được nuôi dưỡng bằng
Mình Thánh Đức Kitô, chính họ trở thành Thân Thể
Đức Kitô. [Back]
0778
Hội
Thánh vừa là con đường, đồng thời vừa là mục
đích của kế hoạch của Thiên Chúa: Được
hình dung trước trong công trình tạo dựng, được
chuẩn bị trong Cựu Ước, được thành lập do
các lời và hành động của Chúa Giêsu Kitô, được thực
hiện nhờ thập giá cứu chuộc và sự phục
sinh của Người, Hội Thánh được làm tỏ hiện
như mầu nhiệm cứu độ qua việc tuôn đổ Chúa
Thánh Thần. Hội Thánh sẽ được hoàn tất trong vinh
quang thiên quốc như cuộc tập họp mọi người
được cứu chuộc từ cõi đất. [Back]
0779
Hội Thánh vừa hữu hình vừa thiêng liêng, vừa là một xã hội có phẩm trật vừa là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô. Hội Thánh là duy nhất, được tạo thành bởi hai yếu tố nhân loại và thần linh. Đó là mầu nhiệm Hội Thánh, mầu nhiệm này chỉ có thể được đón nhận bằng đức tin. [Back]
0780
Trên trần
gian này, Hội Thánh là bí tích cứu độ, là dấu chỉ
và dụng cụ của sự hiệp thông giữa Thiên
Chúa với con người. [Back]
Hội
Thánh – Dân Thiên Chúa, Thân Thể Đức Kitô, Đền Thờ Chúa
Thánh Thần
Quả thật, trong mọi thời và trong mọi dân, bất
cứ ai kính sợ Thiên Chúa và thực hành sự công chính đều
được Ngài đón nhận. Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn thánh
hoá và cứu độ người ta riêng rẽ từng người
một, không liên kết với nhau, nhưng Ngài muốn thiết
lập họ thành một Dân, là dân nhận biết Ngài trong
chân lý, và phụng sự Ngài một cách thánh thiện.
Vì vậy, Ngài đã chọn dân Israel làm dân của
Ngài, thiết lập với họ một Giao ước, giáo
huấn họ dần dần, bằng cách biểu lộ
chính mình Ngài và ý muốn của Ngài trong lịch sử
của họ và thánh hiến họ cho Ngài. Tuy nhiên, tất
cả những điều đó chỉ là chuẩn bị và
hình bóng của Giao Ước mới và hoàn hảo, sẽ
được ký kết trong Đức Kitô… Đó là Giao Ước mới
Đức Kitô đã thiết lập trong máu Người, Người
kêu gọi những người Do thái và dân ngoại làm thành một
Dân, liên kết nhau hướng về sự hợp nhất
không theo xác thịt nhưng trong Thần Khí. [Back]
0782
Những đặc tính của dân
Thiên Chúa
Dân Thiên Chúa có những đặc
tính, phân biệt họ một cách rõ ràng với tất
cả những tập thể trong lịch sử về tôn
giáo, chủng tộc, chính trị hoặc văn hóa:
– Đây là dân của Thiên Chúa: Thiên Chúa không thuộc riêng một dân nào. Nhưng Ngài thủ đắc cho mình một dân từ những người trước kia không phải là một dân: “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh” (1 Pr 2,9).
– Người ta trở nên phần tử của dân này, không nhờ sự sinh ra theo thể lý, nhưng nhờ sự sinh ra “bởi ơn trên”, “bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,3-5), nghĩa là, nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ bí tích Rửa Tội.
– Dân này có Đấng làm Đầu là Chúa Giêsu Kitô (Đấng Được Xức Dầu, Đấng Messia): bởi vì cùng một Sự Xức Dầu, là Chúa Thánh Thần, chảy từ Đầu vào Thân thể, nên đây là “Dân thuộc về Đấng Được Xức Dầu.
– Dân này có phẩm giá và sự tự do của các con cái Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần ngự trong trái tim của họ như trong một đền thờ.
– Dân này có Luật là giới răn mới của yêu thương như chính Đức Kitô đã yêu thương chúng ta. Đó là Luật mới của Chúa Thánh Thần.
– Sứ vụ của dân này là làm muối đất và ánh sáng thế gian. Dân này là hạt giống chắc chắn nhất mang lại sự hợp nhất, niềm hy vọng và ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.
– Cuối cùng, mục đích của dân này là Nước Thiên Chúa, đã được chính Thiên Chúa khởi sự nơi trần thế và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Ngài hoàn tất trong ngày tận thế. [Back]
0783
Dân
tư tế, tiên tri và vương đế
Chúa Cha đã dùng Thánh Thần xức
dầu và thiết đặt Chúa Giêsu Kitô làm Tư tế, Tiên tri và
Vương đế. Toàn thể dân Thiên Chúa tham dự vào ba chức
năng này của Đức Kitô và lãnh trách nhiệm về sứ
vụ và về sự phục vụ, xuất phát từ ba
chức năng đó. [Back]
0784
Khi một người gia nhập dân
Thiên Chúa nhờ đức tin và nhờ bí tích Rửa Tội,
thì người đó được tham dự vào ơn gọi duy nhất
của dân đó: vào ơn gọi làm tư tế của dân Thiên Chúa.
Chúa Kitô được cất nhắc làm Thượng tế giữa
loài người, đã làm cho dân mới thành một nước,
thành những tư tế cho Thiên Chúa, Cha của Người. Thật
vậy, những ai đã lãnh Phép Rửa, nhờ ơn
tái sinh và việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, đều
được thánh hiến để trở thành ngôi nhà thiêng liêng và
hàng tư tế thánh. [Back]
0785
Dân thánh của Thiên Chúa cũng được tham dự vào chức năng tiên tri của Đức Kitô. Chủ yếu nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, một cảm thức riêng của toàn thể dân Thiên Chúa, giáo dân và giáo phẩm, khi họ luôn luôn gắn bó với đức tin đã được truyền lại cho các Thánh một lần cho mãi mãi, khi họ đào sâu để hiểu biết đức tin hơn, và trở thành chứng nhân cho Đức Kitô giữa trần gian này.
0786
Cuối cùng, dân Thiên Chúa được tham dự vào chức năng vương đế của Đức Kitô. Đức Kitô thực thi quyền vương đế của Người khi Người lôi kéo mọi người đến với mình qua cái Chết và sự Sống lại của Người. Đức Kitô, là Vua và là Chúa của vũ trụ, đã trở nên tôi tớ mọi người, vì “Người đến không phải để được người ta phục vu, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28). Đối với Kitô hữu, cai trị là phục vụ Đức Kitô; Hội Thánh đặc biệt nhận ra trong những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh của Đấng Sáng Lập nghèo khó và đau khổ của mình. Dân Thiên Chúa thực hiện phẩm giá vương đế của mình khi sống theo ơn gọi phục vụ cùng với Đức Kitô.
Quả thật, tất cả những người được tái sinh trong Đức Kitô, dấu thánh giá làm cho họ trở thành Vua, việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần thánh hiến họ làm tư tế, để, ngoại trừ sự phục vụ đặc biệt của thừa tác vụ của chúng tôi, tất cả các Kitô hữu có tinh thần và có lý trí đều nhận ra mình thuộc dòng dõi vương đế và có chức vụ tư tế. Thật vậy, có gì mang tính vương đế đối với một tâm hồn cho bằng hướng dẫn thân xác mình quy phục Thiên Chúa? Và có gì mang tính tư tế cho bằng dâng lên Chúa một lương tâm trong sạch và dâng những lễ vật tinh tuyền của lòng đạo hạnh trên bàn thờ của trái tim? [Back]
Hội Thánh – Thân thể Đức Kitô
Hội Thánh là sự hiệp thông với Chúa Giêsu
Ngay từ đầu, Chúa Giêsu
đã kết hợp các môn đệ Người vào cuộc đời
Người; Người đã mạc khải cho họ mầu
nhiệm Nước Trời; và cho họ được tham dự vào
sứ vụ, niềm vui và những đau khổ của Người.
Chúa Giêsu còn nói đến một sự hiệp thông mật
thiết hơn nữa giữa Người với những ai đi
theo Người: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy
ở lại trong anh em… Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,4-5). Và
Người loan báo một sự hiệp thông bí nhiệm và thật
sự giữa thân thể của Người và thân thể của
chúng ta: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại
trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56). [Back]
0788
Khi không còn hiện diện hữu
hình với các môn đệ của Người, Chúa Giêsu
đã không để họ phải mồ côi. Người hứa
Người sẽ ở với họ cho đến tận thế.
Người sai Thần Khí của Người đến với họ.
Như vậy sự hiệp thông với Chúa Giêsu một cách nào
đó đã trở nên mật thiết hơn: Quả thật, bằng
việc truyền thông Thần Khí của Người, Chúa Giêsu
đã thiết lập các anh em Người, được triệu
tập từ muôn dân, thành thân thể của Người một
cách mầu nhiệm. [Back]
0789
Việc so sánh Hội Thánh với một thân thể làm sáng tỏ sự ràng buộc thân mật giữa Hội Thánh và Đức Kitô. Hội Thánh không chỉ được quy tụ quanh Đức Kitô; Hội Thánh được nên một trong Người, trong Thân Thể của Người. Có ba khía cạnh của Hội Thánh – Thân Thể Đức Kitô, cần được lưu ý đặc biệt: sự hợp nhất của mọi chi thể với nhau nhờ họ kết hợp với Đức Kitô; Đức Kitô là Đầu của Thân Thể; và Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô. [Back]
0790
Một Thân Thể duy nhất
Khi đáp lại Lời Thiên Chúa và
trở nên chi thể của Thân Thể Đức Kitô, các tín hữu
được kết hợp mật thiết với Đức Kitô:
Trong thân thể đó, sự sống của Đức Kitô được
truyền thông cho các tín hữu là những kẻ, nhờ các
bí tích, đã được kết hợp một cách bí nhiệm
và thật sự với Đức Kitô chịu nạn và được
tôn vinh. Điều này đặc biệt là thật đối với
bí tích Rửa Tội, nhờ bí tích này chúng ta được kết
hợp với cái Chết và sự Sống lại của Đức
Kitô, và đối với bí tích Thánh Thể, nhờ bí tích này khi
chúng ta được tham dự thật sự vào Thân Thể của
Chúa, chúng ta được nâng lên đến sự hiệp thông với
Người và với nhau. [Back]
0791
Sự hợp nhất trong Thân Thể không làm mất tính đa dạng của các chi thể: Trong việc xây dựng Thân Thể của Đức Kitô, có sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ. Chỉ có một Thần Khí, Đấng phân phát các hồng ân khác nhau của Ngài, theo sự phong phú của Ngài và theo nhu cầu của các thừa tác vụ để mang lại lợi ích cho Hội Thánh. Sự hợp nhất của Nhiệm Thể làm phát sinh và cổ võ đức mến giữa các tín hữu. Từ đó, nếu một chi thể đau khổ, thì tất cả các chi thể đều đau khổ; còn nếu một chi thể được vinh dự, thì tất cả các chi thể đều chung vui. Sau cùng, sự hợp nhất của Thân Thể Đức Kitô chiến thắng mọi chia rẽ nhân loại: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô; không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,27-28).
0792
Đức
Kitô là Đầu của Thân Thể này
Đức Kitô là “Đầu của
Thân Thể, nghĩa là Đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18). Người
là Nguyên Lý của cả công trình tạo dựng
và công trình cứu chuộc. Khi được siêu thăng vào trong
vinh quang của Chúa Cha, “Người đứng hàng đầu trong mọi
sự” (Cl 1,18), nhất
là trong Hội Thánh, và qua Hội Thánh, Người mở rộng
Nước của Người trên mọi sự. [Back]
0793
Chính Người kết hợp chúng ta với
cuộc Vượt Qua của Người: Mọi chi thể phải
trở nên giống như Người “cho đến khi Đức Kitô được
hình thành” nơi họ (Gl 4,l9).
“Chính vì thế chúng ta… được đảm nhận lấy
các mầu nhiệm của cuộc đời Người, hiệp
thông với những đau khổ của Người như thân thể
hiệp thông với Đầu, cùng chịu đau khổ với
Người, để cùng được tôn vinh với Người. [Back]
0794
Chính Người làm cho chúng ta được tăng trưởng: Để làm cho chúng ta tăng trưởng trong Người, là Đầu của chúng ta, Đức Kitô phân phối các hồng ân và các thừa tác vụ trong Thân Thể Người là Hội Thánh, nhờ đó chúng ta giúp đỡ lẫn nhau trên con đường cứu độ. [Back]
0795
Vì vậy, Đức Kitô và Hội Thánh là “Đức Kitô toàn thể” (Christus totus). Hội Thánh là một với Đức Kitô. Các Thánh ý thức một cách rất sống động về sự hợp nhất này: Vậy chúng ta hãy vui mừng và cảm tạ, vì không những chúng ta trở thành Kitô hữu, mà còn trở thành chính Đức Kitô. Thưa anh em, anh em có hiểu ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là Đầu, trên chúng ta không? Anh em hãy cảm phục và vui mừng: chúng ta được trở thành Đức Kitô. Quả vậy, nếu Người là Đầu và chúng ta là chi thể, thì con người toàn thể (totus homo) chính là Người và chúng ta… Vậy sự viên mãn của Đức Kitô, là Đầu và các chi thể. Nhưng Đầu và các chi thể là gì? Đó là Đức Kitô và Hội Thánh.
Đấng Cứu Chuộc chúng ta
đã tỏ cho thấy, Người cùng với Hội Thánh
mà Người đã đảm nhận, là như một người duy
nhất.
Đầu và các chi thể là như một
người huyền nhiệm duy nhất.
Một câu nói của thánh nữ
Jeanne d’Arc trước toà án tóm tắt đức tin của các Thánh
tiến sĩ và cũng diễn tả lương tri của tín hữu:
Về Chúa chúng ta và Hội Thánh thì tôi nghĩ cả hai
chỉ là một, không phải rắc rối làm gì. [Back]
0796
Hội Thánh là Hiền Thê của
Đức Kitô
Sự hợp nhất giữa Đức
Kitô và Hội Thánh, giữa Đầu và các chi thể của
Thân Thể, cũng bao hàm sự phân biệt giữa hai bên
trong một tương quan cá vị. Khía cạnh này thường được
diễn tả bằng hình ảnh phu quân và hiền
thê. Đề tài Đức Kitô phu quân của Hội Thánh đã
được các Tiên tri chuẩn bị và ông Gioan Tẩy Giả
loan báo. Chính Chúa cũng tự xưng như là “chàng rể” (Mc 2,l9).
Thánh Tông Đồ trình bày Hội Thánh và mỗi tín hữu,
chi thể của Thân Thể Người, như là Hiền Thê “được
kết hôn với Chúa Kitô để nên một Thần Khí với
Người. Hội Thánh là Hiền Thê tinh tuyền của Con
Chiên tinh tuyền[38], mà Đức Kitô đã yêu thương, Người
đã hiến mạng sống mình vì Hội
Thánh “để thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh” (Ep 5,26), Người
liên kết Hội Thánh với mình bằng một giao
ước vĩnh cửu, và không ngừng chăm sóc Hội Thánh
như thân thể riêng của Người.
Đây là Đức Kitô toàn thể, gồm Đầu và thân thể, và là một do bởi nhiều người… Vậy hoặc là đầu nói, hoặc là các chi thể nói, thì đều là Đức Kitô nói: Người nói trong cương vị là Đầu (ex persona capitis), và Người nói trong cương vị là Thân Thể (ex persona corporis). Nhưng nói gì? ‘Cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh’ (Ep 5,3l-32). Và chính Chúa cũng nói trong Tin Mừng: “Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt l9,6). Vậy như anh em đã biết, thật sự thì có hai người, nhưng cả hai đã nên một khi thành vợ thành chồng… Với tư cách là Đầu, Người tự xưng là ‘Phu quân’; với tư cách là Thân Thể, Người tự xưng là Hiền thê. [Back]
Hội Thánh – Đền Thờ của Chúa Thánh
Thần
Tinh thần hay linh hồn chúng ta tương quan với các chi thể thế nào, thì Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với các chi thể của Đức Kitô, đối với Thân Thể Đức Kitô là Hội Thánh. “Cũng phải quy về Thần Khí của Đức Kitô, như về một nguyên lý không hữu hình, việc tất cả các phần của Thân Thể được kết hợp với nhau, cũng như với Đầu cao trọng của mình, vì Thần Khí hiện diện trọn vẹn nơi Đầu, trọn vẹn nơi Thân Thể, trọn vẹn nơi mỗi một chi thể. Chúa Thánh Thần làm cho Hội Thánh trở nên “Đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2 Cr 6,l6): Quả vậy, hồng ân của Thiên Chúa đã được uỷ thác cho Hội Thánh… và sự hiệp thông của Đức Kitô đã được ký thác cho Hội Thánh, đó là Chúa Thánh Thần, Ngài là bảo chứng của sự bất diệt, là sức mạnh củng cố đức tin của chúng ta và là chiếc thang đưa chúng ta lên tới Thiên Chúa… Quả vậy, ở đâu có Hội Thánh, thì ở đó có Thần Khí của Thiên Chúa; và ở đâu có Thần Khí của Thiên Chúa, thì ở đó có Hội Thánh và mọi ân sủng. [Back]
0798
Chúa Thánh Thần là nguyên lý của mọi hành động tác sinh và thật sự có giá trị cứu độ trong mỗi phần của Thân Thể. Ngài hoạt động bằng nhiều cách để xây dựng toàn thân trong đức mến: bằng Lời Thiên Chúa là “Lời có sức xây dựng” (Cv 20,32); bằng bí tích Rửa Tội nhờ đó Ngài làm nên Thân Thể Đức Kitô; bằng các bí tích giúp cho các chi thể của Đức Kitô được tăng trưởng và được chữa lành; bằng ân sủng của các Tông Đồ, là điều trổi vượt trong các hồng ân của Ngài; bằng các nhân đức, giúp các tín hữu hành động theo sự lành, và cuối cùng bằng nhiều ân sủng đặc biệt (được gọi là “các đặc sủng”) giúp các tín hữu có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và phận vụ khác nhau, để mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Hội Thánh. [Back]
0799
Các đặc
sủng
Các đặc sủng,
hoặc ngoại thường hoặc đơn giản và khiêm tốn,
là những ân sủng của Chúa Thánh Thần, đều hữu
ích cho Hội Thánh cách trực tiếp hay gián tiếp, theo mức
độ các đặc sủng đó quy về việc xây dựng Hội
Thánh, về việc mưu ích cho con người và về những
nhu cầu của trần gian. [Back]
0800
Các đặc sủng phải được đón nhận với lòng biết ơn, không những bởi người lãnh nhận các đặc sủng đó, mà còn bởi tất cả các phần tử của Hội Thánh. Đó là sự phong phú thật kỳ diệu của ân sủng cho sức sống tông đồ và cho sự thánh thiện của toàn Thân Thể Đức Kitô; miễn là đó phải là những hồng ân thật sự xuất phát bởi Chúa Thánh Thần, và được thực thi hoàn toàn phù hợp với những thúc đẩy đích thực của Ngài, nghĩa là theo đức mến, là thước đo thật của các đặc sủng. [Back]
0801
Theo nghĩa này, rõ ràng là sự phân định
các đặc sủng luôn luôn là cần thiết. Không có đặc
sủng nào được miễn khỏi tương quan với và quy phục
các Mục tử của Hội Thánh. Các ngài có thẩm quyền
đặc biệt, không phải để dập tắt Thần
Khí, nhưng phải thử thách tất cả và giữ lại
điều gì là tốt, để tất cả các đặc sủng,
trong sự khác biệt và bổ sung lẫn nhau, cùng cộng
tác “vì lợi ích chung” (1 Cr 12,7). [Back]
Tóm lược
Chúa Giêsu Kitô “đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành dân riêng của Người” (Tt 2,14). [Back]
0803
“Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” (1 Pr 2,9). [Back]
0804
Chúng ta gia nhập
dân Thiên Chúa nhờ đức tin và nhờ bí tích Rửa Tội.
Tất cả mọi người đều được kêu gọi gia
nhập dân mới của Thiên Chúa, để trong Đức Kitô
người ta làm thành một gia đình duy nhất và một
dân duy nhất của Thiên Chúa. [Back]
0805
Hội Thánh là Thân Thể của Đức Kitô. Nhờ Thần Khí và nhờ hành động của Ngài trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Đức Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, làm cho cộng đoàn các tín hữu nên Thân Thể của Người. [Back]
0806
Trong sự hợp nhất của Thân Thể này, có sự đa dạng của các chi thể và các chức năng. Tất cả các chi thể đều được liên kết với nhau, nhất là với những người đau khổ, những người nghèo và những người bị bách hại. [Back]
0807
Hội Thánh là một Thân Thể có Đức Kitô là Đầu: Hội Thánh sống do Người, trong Người, và cho Người; chính Người sống với Hội Thánh và trong Hội Thánh. [Back]
0808
Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô: Người đã yêu mến Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh. Người đã thanh tẩy Hội Thánh bằng Máu Người. Người làm cho Hội Thánh trở thành Mẹ, sinh ra tất cả các con cái của Thiên Chúa. [Back]
0809
Hội Thánh là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần. Thần Khí là như linh hồn của Nhiệm Thể, là nguyên lý của sự sống của Nhiệm Thể, nguyên lý của sự hợp nhất trong khác biệt, nguyên lý của sự phong phú các hồng ân và đặc sủng của Nhiệm Thể. [Back]
0810
Như vậy Hội
Thánh phổ quát xuất hiện như một dân được quy tụ
trong sự hợp nhất của Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa
Thánh Thần. [Back]
Hội
Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền
Đây là Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô, mà trong
Tín biểu chúng ta tuyên xưng là duy nhất, thánh thiện, công
giáo và tông truyền. Bốn đặc tính này nối kết với
nhau một cách không thể tách biệt, và nêu rõ những
nét căn bản của Hội Thánh và của sứ vụ của
Hội Thánh. Hội Thánh không tự mình có các thuộc
tính ấy; Đức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần, đã làm
cho Hội Thánh được duy nhất, thánh thiện công giáo và
tông truyền, và cũng chính Người kêu gọi Hội Thánh
hãy thực hiện từng điều trong các đặc tính
đó. [Back]
0812
Chỉ đức tin mới có thể nhận biết rằng Hội Thánh có các đặc tính này từ nguồn mạch thần linh. Nhưng những biểu hiện lịch sử của các đặc tính đó cũng là những dấu chỉ nói lên cách rõ ràng trước lý trí nhân loại. Công đồng Vaticanô I nhắc lại: “Bởi sự thánh thiện trổi vượt,… sự hợp nhất công giáo và sự vững bền không gì thắng nổi của mình, Hội Thánh tự mình đã là một lý do quan trọng và thường xuyên về tính khả tín, và là một bằng chứng không thể phi bác về sứ vụ thần linh của mình. [Back]
0813
Hội Thánh duy nhất
Mầu nhiệm thánh thiêng của tính duy nhất của Hội
Thánh
Hội Thánh là duy nhất vì nguồn mạch của mình: “Khuôn mẫu mực tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này, là sự hợp nhất trong Ba Ngôi của Thiên Chúa duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. Hội Thánh là duy nhất vì Đấng Sáng Lập của mình: Quả thật, chính Chúa Con nhập thể… đã nhờ cây thập giá của mình mà giao hoà mọi người với Thiên Chúa… tái lập sự hợp nhất mọi người trong một dân tộc và một thân thể. Hội Thánh là duy nhất vì “linh hồn” của mình: Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong các tín hữu, đầy tràn và điều khiển toàn Hội Thánh, làm cho các tín hữu hiệp thông với nhau cách kỳ diệu và kết hợp tất cả trong Đức Kitô cách rất mật thiết, cho nên Ngài là nguyên lý của sự hợp nhất của Hội Thánh. Vì vậy, theo bản chất, Hội Thánh là duy nhất: Ôi mầu nhiệm lạ lùng thay! Có Chúa Cha duy nhất của vũ trụ, có Ngôi Lời duy nhất của vũ trụ, và Chúa Thánh Thần duy nhất, và chính Ngài ở khắp nơi. Cũng có một người Mẹ Đồng Trinh duy nhất; mà tôi thích gọi người mẹ đó là Hội Thánh. [Back]
0814
Tuy nhiên, ngay từ khởi đầu, Hội Thánh duy nhất đó cho thấy mình rất đa dạng, điều này vừa xuất phát từ những hồng ân khác nhau của Thiên Chúa đồng thời vừa từ vô số những người lãnh nhận các hồng ân đó. Những đa dạng của các dân tộc và các nền văn hoá được quy tụ thành sự duy nhất của dân Thiên Chúa. Giữa các phần tử của Hội Thánh có sự đa dạng về các hồng ân, các chức năng, các hoàn cảnh và các cách sống; trong sự hiệp thông của Hội Thánh, có sự hiện diện cách chính đáng của các Giáo Hội địa phương với những truyền thống riêng. Những phong phú lớn lao của sự đa dạng này không nghịch lại tính duy nhất của Hội Thánh. Tuy nhiên tội lỗi và những hậu quả nặng nề của nó không ngừng đe doạ hồng ân là sự duy nhất. Vì vậy thánh Tông Đồ đã khuyên phải duy trì “sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau” (Ep 4,3). [Back]
0815
Những mối dây của sự duy nhất này là gì? Trên hết mọi sự, đó là đức mến, là “mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,l4). Nhưng sự duy nhất của Hội Thánh lữ hành cũng được nâng đỡ bằng những mối dây hiệp thông hữu hình:
– Nhờ việc tuyên xưng một đức tin duy nhất đã tiếp nhận từ các Tông Đồ;
– Nhờ sự cử hành chung việc phượng tự thần linh, nhất là các bí tích;
– Nhờ sự kế nhiệm tông truyền qua bí tích Truyền Chức Thánh, điều này duy trì sự hòa hợp huynh đệ của gia đình Thiên Chúa. [Back]
0816
Đây là Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô,… mà Đấng Cứu Độ chúng ta, sau khi Người phục sinh, đã trao cho ông Phêrô chăn dắt, và truyền cho ông và các tông đồ khác phải truyền bá và cai quản… Được thiết lập trên trần gian như một xã hội có phẩm trật, Hội Thánh ấy tồn tại trong (subsistit in) Hội Thánh Công giáo, do Vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Giám mục hiệp thông với ngài điều khiển.
Sắc lệnh về Đại Kết (de Oecumenismo) của Công đồng Vaticanô II giải thích: “Quả vậy, nhờ Hội Thánh duy nhất công giáo của Đức Kitô, là sự trợ giúp thông thường của ơn cứu độ, người ta có thể đạt được cách viên mãn các phương tiện cứu độ. Thật sự, chúng tôi tin, Chúa đã ủy thác tất cả sản nghiệp Tân Ước cho riêng Tông Đồ Đoàn do thánh Phêrô lãnh đạo, để tạo thành một Thân Thể duy nhất của Đức Kitô nơi trần thế; tất cả những ai thuộc về dân Thiên Chúa một cách nào đó, đều phải được tháp nhập một cách đầy đủ vào Thân Thể này. [Back]
0817
Những vết thương của sự duy nhất
Thật ra, trong Hội Thánh duy nhất và độc nhất này của Thiên Chúa, ngay từ buổi sơ khai, đã xuất hiện một số rạn nứt mà thánh Tông Đồ đã nặng lời khiển trách là đáng lên án. Trong những thế kỷ sau đó, còn phát sinh những xung đột trầm trọng hơn và những cộng đoàn không nhỏ đã tách biệt khỏi sự hiệp thông đầy đủ với Hội Thánh Công giáo, có khi không phải không do lỗi của những người ở cả hai bên. Những sự đoạn tuyệt, làm tổn thương sự duy nhất của Thân Thể Đức Kitô (được phân biệt là lạc giáo, bội giáo và ly giáo), đã xảy ra do tội lỗi của con người: Ở đâu có tội lỗi, ở đó có lộn xộn, ly giáo, lạc giáo, và xung đột; còn ở đâu có nhân đức, ở đó có sự duy nhất, sự kết hợp, nhờ đó tất cả các tín hữu chỉ có một trái tim, và một linh hồn. [Back]
0818
Ngày nay những người sinh ra trong các cộng đoàn phát sinh từ những cuộc ly khai ấy và đang sống đức tin vào Đức Kitô, không thể bị tố cáo về tội chia rẽ, và Hội Thánh Công giáo quý mến họ với lòng tôn trọng và yêu thương huynh đệ… Được công chính hóa bởi đức tin trong bí tích Rửa Tội, họ được tháp nhập vào Đức Kitô, và vì vậy họ có quyền mang danh Kitô hữu, và xứng đáng được con cái của Hội Thánh Công giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa. [Back]
0819
Hơn nữa, nhiều yếu tố của sự thánh hóa và của chân lý hiện hữu bên ngoài những giới hạn hữu hình của Hội Thánh Công giáo: Lời Chúa bằng văn tự, đời sống trong ân sủng, đức tin, đức cậy, đức mến, và những hồng ân nội tâm khác của Chúa Thánh Thần cùng những yếu tố hữu hình. Thần Khí của Đức Kitô dùng những Giáo Hội và những cộng đoàn giáo hội đó như những phương tiện cứu độ, sức mạnh của những phương tiện này xuất phát từ sự sung mãn của ân sủng và của chân lý mà Đức Kitô đã giao phó cho Hội Thánh Công giáo. Tất cả những điều thiện hảo đó đều xuất phát từ Đức Kitô và dẫn đến Người, và tự chúng là lời kêu gọi tiến đến sự hợp nhất phổ quát. [Back]
0820
Trên đường tiến đến hợp nhất
Đức Kitô từ ban đầu đã rộng ban cho Hội Thánh ơn hợp nhất. Chúng tôi tin rằng sự hợp nhất ấy tồn tại mãi trong Hội Thánh Công Giáo và chúng tôi hy vọng sự hợp nhất ngày càng phát triển cho đến ngày tận thế. Đức Kitô vẫn luôn luôn ban cho Hội Thánh ơn hợp nhất, nhưng Hội Thánh phải luôn luôn cầu nguyện và hành động để duy trì, tăng cường và hoàn chỉnh sự hợp nhất như Đức Kitô muốn. Vì thế, chính Chúa Giêsu cầu nguyện trong giờ khổ nạn và không ngừng cầu xin Chúa Cha cho các môn đệ được hợp nhất: “Để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga l7,2l). Lòng ao ước lập lại sự hợp nhất của tất cả các Kitô hữu là một hồng ân của Đức Kitô và một lời kêu gọi của Chúa Thánh Thần. [Back]
0821
Để đáp lại lời kêu gọi hợp
nhất của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh cần:
– canh tân thường xuyên để ngày càng trung thành hơn với ơn gọi
của mình; sự canh tân này là động lực của
phong trào hợp nhất.
– hối cải tận đáy lòng để sống phù hợp
hơn với Tin Mừng, vì chính sự bất trung với
ân sủng của Đức Kitô là nguyên nhân gây chia rẽ giữa
các chi thể;
– cầu nguyện chung, vì sự
hối cải tận đáy lòng và sự thánh thiện
trong đời sống, cùng với những lời kinh chung và
riêng cầu cho sự hợp nhất các Kitô hữu, phải
được coi như là linh hồn của mọi phong trào đại kết
và có thể xứng đáng được mệnh danh là sự đại
kết trong tinh thần;
– hiểu biết nhau trong tình huynh đệ;
– đào tạo tinh thần đại kết cho các tín hữu và nhất là cho các linh mục;
– đối thoại giữa các nhà thần học và gặp gỡ giữa các Kitô hữu của các Giáo Hội và các cộng đoàn khác nha;
– hợp tác giữa các Kitô hữu trong các lãnh vực khác nhau để phục vụ con người. [Back]
0822
Toàn thể Hội Thánh, tín hữu cũng như mục tử, đều có bổn phận quan tâm đến việc tái lập sự hợp nhất. Nhưng cũng cần ý thức rằng ý nguyện thánh thiện muốn giao hoà toàn thể Kitô hữu trong sự hợp nhất của Hội Thánh duy nhất và độc nhất của Đức Kitô, vượt quá sức lực và khả năng loài người”. Vì thế, chúng ta đặt hết hy vọng “vào lời Đức Kitô cầu nguyện cho Hội Thánh, vào tình thương của Chúa Cha đối với chúng ta và vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. [Back]
Hội Thánh thánh thiện
Chúng tôi tin Hội Thánh… mãi mãi thánh thiện. Thật vậy, Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần được ca tụng là ‘Đấng Thánh duy nhất’, đã yêu dấu Hội Thánh như Hiền Thê của mình, và đã tự hiến vì Hội Thánh, để thánh hóa Hội Thánh, và kết hợp Hội Thánh với mình như Thân Thể của mình, và ban cho dư đầy hồng ân của Chúa Thánh Thần để làm vinh danh Thiên Chúa. Vì vậy Hội Thánh là “dân thánh của Thiên Chúa và các phần tử của Hội Thánh được gọi là các Thánh. [Back]
0824
Hội Thánh, nhờ kết hợp với Đức Kitô, được chính Người thánh hóa; nhờ Người và trong Người, Hội Thánh cũng có khả năng thánh hóa: Tất cả các công việc của Hội Thánh đều hướng về mục đích là thánh hóa con người trong Đức Kitô và tôn vinh Thiên Chúa Hội Thánh được giao cho “đầy đủ các phương tiện cứu độ. Trong Hội Thánh, chúng ta đạt đến sự thánh thiện nhờ ân sủng của Thiên Chúa. [Back]
0825
Hội Thánh nơi trần thế được ghi dấu đặc biệt bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa trọn hảo”[38]. Các chi thể của Hội Thánh còn phải đạt tới sự thánh thiện trọn hảo: Được ban cho những phương tiện cứu độ dồi dào và cao cả như thế, tất cả các Kitô hữu, dù trong hoàn cảnh và bậc sống nào, mỗi người trong con đường của mình, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự thánh thiện trọn hảo như Chúa Cha là Đấng trọn hảo. [Back]
0826
Đức mến là linh hồn của sự thánh thiện mà mọi người được kêu gọi đạt tới: Đức mến hướng dẫn, hình thành và đưa tới mục đích, tất cả các phương tiện thánh hoá: Tôi hiểu rằng nếu Hội Thánh là một thân thể gồm những bộ phận khác nhau, thì không thể thiếu bộ phận cần thiết nhất và cao quý nhất; tôi hiểu rằng Hội Thánh có một trái tim và trái tim ấy bừng cháy Tình Yêu. Tôi hiểu rằng chỉ có Tình Yêu khiến các chi thể của Hội Thánh hoạt động, nếu Tình Yêu bị tàn lụi, thì các Tông Đồ sẽ không loan báo Tin Mừng nữa, các vị Tử Đạo sẽ từ chối đổ máu mình ra… Tôi hiểu rằng Tình Yêu bao gồm nơi mình tất cả các Ơn Gọi, Tình Yêu là mọi sự, và Tình Yêu bao trùm khắp không gian và thời gian… tắt một lời, Tình Yêu thì vĩnh cửu. [Back]
0827
Trong khi Đức Kitô thật sự là Đấng ‘thánh thiện, vô tội, tinh tuyền’, không hề biết đến tội, nhưng đến để đền các tội riêng của dân, thì, vì mang trong lòng mình những kẻ tội lỗi, vừa thánh thiện vừa phải luôn được thanh tẩy, Hội Thánh luôn tiếp tục việc sám hối và canh tân. Tất cả các chi thể của Hội Thánh, kể cả các thừa tác viên, đều phải nhận mình là kẻ tội lỗi. Trong tất cả mọi người, cỏ lùng của tội lỗi còn lẫn lộn với lúa tốt của Tin Mừng cho đến tận thế. Vì vậy, Hội Thánh quy tụ những người tội lỗi đã được lãnh nhận ơn cứu độ của Đức Kitô, nhưng còn đang trên đường thánh hóa: Vì vậy, Hội Thánh “thánh thiện, dù mang trong lòng mình những người tội lỗi; bởi vì Hội Thánh không có sự sống nào khác ngoài sự sống của ân sủng; quả thật, nếu các chi thể của Hội Thánh được nuôi dưỡng bằng sự sống này, thì họ được thánh hoá, nếu họ tách mình khỏi sự sống này, thì họ rơi vào tội lỗi và các xấu xa của tâm hồn, những điều đó ngăn cản không cho sự thánh thiện rạng ngời của Hội Thánh được lan toả. Vì vậy, Hội Thánh chịu đau khổ và thống hối vì những tội lỗi đó, tuy có quyền giải thoát các con cái mình khỏi tội lỗi nhờ Máu Đức Kitô và hồng ân của Chúa Thánh Thần. [Back]
0828
Khi phong thánh cho một số tín hữu, nghĩa là khi long trọng tuyên bố những tín hữu này đã thực hành các nhân đức một cách anh dũng và đã sống trung thành với ân sủng của Thiên Chúa, Hội Thánh nhìn nhận quyền năng của Thần Khí thánh thiện đang ngự nơi mình và Hội Thánh nâng đỡ niềm hy vọng của các tín hữu khi đưa các thánh làm gương mẫu và làm người chuyển cầu cho họ. Trong những hoàn cảnh khó khăn nhất suốt dòng lịch sử Hội Thánh, các Thánh nam nữ luôn là nguồn mạch và là khởi điểm của sự canh tân. Quả thật, sự thánh thiện của Hội Thánh là nguồn mạch bí ẩn và là thước đo không thể sai lầm của hoạt động tông đồ và nhiệt tình truyền giáo của Hội Thánh. [Back]
0829
Trong khi Hội Thánh đã đạt tới sự trọn hảo không tì ố, không vết nhăn, nơi Đức Trinh Nữ diễm phúc, thì các Kitô hữu vẫn còn phải cố gắng, để chiến thắng tội lỗi mà tiến tới trong sự thánh thiện; vì vậy họ ngước mắt nhìn lên Đức Maria: nơi Đức Mẹ, Hội Thánh đã hoàn toàn thánh thiện. [Back]
Hội Thánh Công Giáo
“Công giáo” là gì?
Thuật ngữ “công giáo” (catholica) có nghĩa là “phổ quát”, hoặc “theo tính toàn bộ” hoặc “theo sự toàn vẹn”. Hội Thánh là công giáo theo cả hai nghĩa: Hội Thánh là công giáo bởi vì trong Hội Thánh có Đức Kitô hiện diện. Ở đâu có Đức Kitô Giêsu, ở đó có Hội Thánh Công giáo. Nơi Hội Thánh, tồn tại sự sung mãn của Thân Thể Đức Kitô, được kết hợp với Đầu của mình điều đó có nghĩa là Hội Thánh đã nhận được từ Đức Kitô “đầy đủ các phương tiện cứu độ theo như Người muốn: lời tuyên xưng đức tin chính xác và trọn vẹn, đời sống bí tích toàn vẹn và thừa tác vụ thánh chức trong sự kế nhiệm tông truyền. Theo ý nghĩa căn bản này, Hội Thánh đã là công giáo từ ngày lễ Ngũ Tuần và mãi mãi sẽ là công giáo cho đến ngày Chúa quang lâm. [Back]
0831
Hội Thánh là công giáo bởi vì Hội Thánh được Đức Kitô sai đến với toàn thể nhân loại: Mọi người được kêu gọi vào dân mới của Thiên Chúa. Vì thế dân này, vẫn là một dân duy nhất, phải được mở rộng khắp trần gian và qua mọi thế hệ, để kế hoạch của thánh ý Thiên Chúa được hoàn thành: từ nguyên thủy Ngài đã tạo dựng một bản tính nhân loại duy nhất, và đã quyết định quy tụ nên một các con cái đã tản mát của Ngài…. Đặc tính phổ quát này, làm vinh dự cho dân Thiên Chúa, là một hồng ân của chính Chúa, nhờ đó Hội Thánh Công Giáo, một cách hữu hiệu và liên lỉ, hướng tới việc quy tụ toàn thể nhân loại cùng mọi điều thiện hảo của họ, dưới quyền Đức Kitô là Đầu, trong sự hợp nhất của Thần Khí của Người. [Back]
0832
Mỗi Giáo Hội địa phương cũng là “công giáo”
Hội Thánh Đức Kitô thật sự hiện diện trong mọi cộng đoàn hợp pháp các tín hữu ở các địa phương, các cộng đoàn này gắn bó với các Mục tử của mình và trong Tân Ước được gọi là các Hội Thánh… Trong các cộng đoàn đó, các tín hữu được quy tụ nhờ việc rao giảng Tin Mừng Đức Kitô, và mầu nhiệm Bữa Tiệc của Chúa được cử hành… Trong các cộng đoàn đó, tuy thường là nhỏ bé và nghèo nàn hay sống tản mát, vẫn có Đức Kitô hiện diện, nhờ sức mạnh của Người mà Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền được kết hợp. [Back]
0833
Danh xưng “Giáo Hội địa phương”, trước hết là một giáo phận, được dùng để chỉ một cộng đoàn các tín hữu sống hiệp thông trong đức tin và các bí tích với Giám mục của họ là người đã thụ phong trong sự kế nhiệm tông truyền. Các Giáo Hội địa phương này được thành lập theo hình ảnh Hội Thánh phổ quát, chính trong và từ các Giáo Hội ấy mà một Hội Thánh công giáo duy nhất hiện hữu. [Back]
0834
Các Giáo Hội địa phương có đặc tính công giáo cách đầy đủ nhờ hiệp thông với một trong các Giáo Hội đó, tức là với Giáo Hội Rôma, là Giáo Hội “hủ trì trong đức mến. Quả vậy, toàn thể Hội Thánh, nghĩa là các tín hữu ở khắp mọi nơi, cần phải hoà hợp với Giáo Hội Rôma vì sự ưu việt cao trọng hơn của nó. Quả vậy, từ buổi đầu, khi Ngôi Lời Thiên Chúa xuống mang lấy xác phàm nơi chúng ta, tất cả các Giáo Hội của các Kitô hữu ở khắp mọi nơi đã coi và vẫn coi Giáo Hội cao quý ở Rôma như căn bản và nền tảng vững chắc duy nhất: vì theo chính lời hứa của Đấng Cứu Độ, các cửa địa ngục không bao giờ thắng được Giáo Hội ấy. [Back]
0835
Vậy chúng ta phải cẩn thận, đừng nghĩ rằng Hội Thánh phổ quát như là một tổng hợp, hay có thể nói, một hiệp hội liên minh… các Giáo Hội địa phương… Chính Hội Thánh, do ơn gọi và sứ vụ phổ quát, khi bén rễ vào những hoàn cảnh khác nhau, liên quan đến trật tự dân sự, xã hội và nhân loại, thì đã mặc lấy những bộ mặt bên ngoài và những đặc điểm khác nhau trong bất cứ miền nào của trái đất. Sự đa dạng phong phú về các kỷ luật giáo hội, các nghi thức phụng vụ, các di sản riêng về thần học và tu đức của các Giáo hội địa phương, khi kết hợp nên một, cho thấy một cách sáng chói tính công giáo của Hội Thánh không bị phân chia. [Back]
0836
Ai thuộc về Hội Thánh Công giáo?
Mọi người đều được kêu gọi tới sự hợp nhất mang tính công giáo của dân Thiên Chúa…, và thuộc về hoặc quy hướng về sự hợp nhất đó bằng những cách khác nhau: hoặc là các tín hữu công giáo, hoặc là những người khác tin vào Đức Kitô, hoặc cuối cùng là tất cả mọi người một cách phổ quát, được kêu gọi hưởng ơn cứu độ nhờ ân sủng của Thiên Chúa. [Back]
0837
Được tháp nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Hội Thánh, là những ai có Thần Khí của Đức Kitô, chấp nhận cơ cấu trọn vẹn của Hội Thánh và tất cả các phương tiện cứu độ đã được thiết lập trong Hội Thánh, và được kết hợp trong cơ cấu hữu hình của Hội Thánh với Đức Kitô, Đấng hướng dẫn Hội Thánh nhờ Đức Giáo Hoàng và các Giám mục, bằng những mối dây là việc tuyên xưng đức tin, là các bí tích, là sự cai quản và hiệp thông trong Hội Thánh. Tuy nhiên, một người dù đã được tháp nhập vào Hội Thánh, nhưng nếu không kiên trì trong đức mến, thì người đó vẫn không được cứu độ, vì quả thật, họ ở trong lòng Hội Thánh bằng thân xác, chứ không phải bằng trái tim. [Back]
0838
“Với những người đã được Rửa Tội, mang danh xưng là Kitô hữu, nhưng không tuyên xưng đức tin toàn vẹn hoặc không duy trì sự hợp nhất hiệp thông dưới quyền Đấng kế nhiệm thánh Phêrô, Hội Thánh biết mình vẫn liên kết với họ vì nhiều lý do. Quả vậy, những ai tin vào Đức Kitô và đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội theo đúng nghi thức, thì cũng hiệp thông một cách nào đó với Hội Thánh công giáo, mặc dầu là sự hiệp thông không trọn vẹn. Với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu đậm đến mức chỉ còn thiếu một chút là đạt tới sự sung mãn phải có, cho phép cử hành chung bí tích Thánh Thể của Chúa. [Back]
0839
Hội Thánh và những người ngoài Kitô giáo
Những ai chưa đón nhận Tin Mừng, cũng quy hướng về dân Thiên Chúa bằng những hình thức khác nhau.
Tương quan của Hội Thánh với dân Do Thái. Hội Thánh, dân Thiên Chúa trong Tân Ước, khi nhìn kỹ vào mầu nhiệm của chính mình, khám phá ra mối liên hệ giữa mình với dân Do Thái, là dân được Chúa là Thiên Chúa chúng ta ngỏ lời trước. Khác với các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo, đức tin Do Thái đã là lời đáp lại đối với mạc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Chính dân Do Thái này “đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Ngài cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, Lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa; họ là con cháu các tổ phụ; và… chính Đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ” (Rm 9,4-5), “quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Ngài không hề đổi ý” (Rm 11,29). [Back]
0840
Đàng khác, khi nhìn về tương lai, dân Thiên Chúa của Cựu Ước và dân mới của Thiên Chúa đều hướng tới những mục tiêu tương tự: đó là sự mong chờ Đấng Messia ngự đến (hoặc trở lại). Nhưng một bên, là mong chờ sự trở lại của Đấng Messia, đã chết và đã sống lại, được nhận biết là Chúa và là Con Thiên Chúa; còn bên kia, là mong chờ, vào ngày tận thế, việc Ngự đến của Đấng Messia, mà dung mạo của Người còn ẩn khuất, sự mong chờ này kèm theo bi kịch là không biết hay không nhận Đức Kitô Giêsu. [Back]
0841
Tương quan của Hội Thánh với người Hồi giáo. Ý định cứu độ còn bao gồm những ai nhận biết Đấng Tạo Hoá, trong số đó trước tiên phải kể đến những người Hồi giáo, những người tự nhận mình giữ đức tin của tổ phụ Abraham, cùng với chúng ta tôn thờ Thiên Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng sẽ phán xét con người trong ngày sau hết. [Back]
0842
Mối liên hệ của Hội Thánh với các tôn giáo ngoài Kitô giáo trước hết xuất phát từ chỗ tất cả nhân loại cùng có chung một nguồn gốc và một mục đích: Thật vậy, mọi dân tộc đều họp thành một cộng đoàn, có chung một nguồn gốc, vì Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại sinh sống trên khắp mặt địa cầu, họ cũng có cùng một mục đích tối hậu, là Thiên Chúa, Đấng trải rộng sự quan phòng, chứng tích lòng nhân hậu và kế hoạch cứu độ của Ngài đến tất cả mọi người, cho đến khi những người được chọn được hợp nhất trong Thành thánh. [Back]
0843
Hội Thánh nhìn nhận trong các tôn giáo khác một sự tìm kiếm trong bóng tối và trong hình ảnh vị Thiên Chúa không được biết đến, nhưng gần gũi, bởi vì chính Ngài ban cho mọi người sự sống, hơi thở và mọi sự, và bởi vì chính Ngài muốn tất cả mọi người đều được cứu độ. Như vậy, Hội Thánh xem bất cứ điều gì tốt đẹp và chân thật có thể gặp được trong các tôn giáo, như một sự chuẩn bị cho việc đón nhận Tin Mừng và điều đó được ban bởi Đấng soi sáng mọi người, để cuối cùng họ được sống. [Back]
0844
Tuy nhiên trong cách thực hành tín ngưỡng của mình, người ta cũng biểu lộ những giới hạn và những sai lầm làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa: Bị ma quỷ gạt gẫm, người ta rất thường sai lạc trong các suy nghĩ của mình, và đánh đổi chân lý của Thiên Chúa lấy điều giả dối, phục vụ loài thụ tạo hơn là Đấng Tạo Hoá, hoặc họ sống và chết như không có Thiên Chúa trên trần gian này, nên bị rơi vào tuyệt vọng tột cùng. [Back]
0845
Để quy tụ lại tất cả con cái của Ngài đã bị tội lỗi làm tản mát và lạc lối, Chúa Cha đã muốn tập họp toàn thể nhân loại vào Hội Thánh của Con Ngài. Hội Thánh là nơi trong đó nhân loại phải tìm lại được sự hợp nhất của mình và ơn cứu độ của mình. Hội Thánh là “trần gian đã được giao hoà. Hội Thánh là con tàu được căng buồm bằng thánh giá của Chúa, theo luồng gió của Chúa Thánh Thần, an toàn vượt biển trần gian này, theo một hình ảnh khác quen thuộc với các Giáo phụ, Hội Thánh được hình dung bằng con tàu của ông Nôê, con tàu duy nhất cứu khỏi cơn lụt đại hồng thủy. [Back]
0846
Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ
Phải hiểu thế nào về lời khẳng định thường được các Giáo phụ nhắc lại này? Theo nghĩa tích cực, khẳng định này có nghĩa là toàn bộ ơn cứu độ xuất phát từ Đức Kitô là Đầu nhờ Hội Thánh là Thân Thể của Người: Dựa vào Thánh Kinh và Thánh Truyền, Công đồng dạy rằng: Hội Thánh lữ hành này là cần thiết để được cứu độ. Quả vậy, chỉ một mình Đức Kitô là trung gian và là con đường của ơn cứu độ, Người hiện diện giữa chúng ta trong Thân Thể Người là Hội Thánh; qua việc minh nhiên công bố sự cần thiết của đức tin và Phép Rửa, chính Người đã đồng thời xác nhận sự cần thiết của Hội Thánh, mà người ta bước vào đó nhờ Phép Rửa như qua một cái cửa. Vì vậy, những ai không phải là không biết rằng Hội Thánh Công giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Giêsu Kitô như phương tiện cứu rỗi cần thiết, mà vẫn không muốn gia nhập, hoặc không muốn kiên trì sống trong Hội Thánh này, thì không thể được cứu độ. [Back]
0847
Lời khẳng định này không nhắm tới những người không biết Đức Kitô và Hội Thánh của Người mà không do lỗi của họ: Quả vậy, những người không biết đến Tin Mừng của Đức Kitô và Hội Thánh Người mà không do lỗi của họ, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ân sủng, cố gắng chu toàn thánh ý của Ngài bằng các công việc theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì họ có thể đạt được ơn cứu độ muôn đời. [Back]
0848
Mặc dầu Thiên Chúa có thể dùng những đường lối chỉ mình Ngài biết để đưa những người không biết Tin Mừng, mà không do lỗi của họ, đến với đức tin, mà không có đức tin thì không thể làm vui lòng Ngài, Hội Thánh vẫn có bổn phận, và đồng thời là một quyền thánh thiêng, phải rao giảng Tin Mừng cho tất cả mọi người. [Back]
0849
Truyền giáo - một đòi hỏi bắt nguồn từ tính công giáo của Hội Thánh
Lệnh truyền giáo. Được Thiên Chúa sai đến với muôn dân để nên ‘bí tích cứu độ phổ quát’, do những đòi hỏi sâu sắc của tính công giáo, vâng theo lệnh truyền của Đấng Sáng Lập của mình, Hội Thánh cố gắng loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người. “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,l9-20). [Back]
0850
Nguồn gốc và mục đích của việc truyền giáo. Lệnh truyền giáo của Chúa bắt nguồn từ tình yêu vĩnh cửu của Ba Ngôi Chí Thánh: Tự bản chất, Hội Thánh lữ hành phải truyền giáo, vì chính Hội Thánh bắt nguồn từ sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần, theo ý định của Thiên Chúa Cha. Mục đích tối hậu của việc truyền giáo là làm cho loài người được tham dự vào sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Thần Khí tình yêu của chính các Ngài. [Back]
0851
Động lực của việc truyền giáo. Hội Thánh luôn nhận lấy bổn phận và sức mạnh thúc đẩy việc truyền giáo của mình từ chính tình yêu của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người: Quả vậy, “tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi…” (2 Cr 5,l4). Thật vậy, “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ nhờ nhận biết chân lý. Ơn cứu độ được gặp thấy trong chân lý. Những ai vâng theo sự thúc đẩy của Thánh Thần chân lý, thì đã ở trên đường cứu độ; nhưng chân lý này đã được uỷ thác cho Hội Thánh, nên Hội Thánh phải đáp ứng khát vọng của những người đó là mang chân lý đến cho họ. Bởi vì Hội Thánh tin vào kế hoạch phổ quát của ơn cứu độ, nên Hội Thánh phải truyền giáo. [Back]
0852
Những nẻo đường truyền giáo. Chúa Thánh Thần là Đấng chủ xướng toàn bộ việc truyền giáo của Hội Thánh. Chính Ngài dẫn dắt Hội Thánh trên các nẻo đường truyền giáo. Hội Thánh tiếp tục và triển khai qua dòng lịch sử sứ vụ của chính Đức Kitô, Đấng đã được sai đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo; được Thần Khí Đức Kitô thúc đẩy, Hội Thánh phải tiến bước trên chính con đường Đức Kitô đã đi, là con đường khó nghèo, vâng phục, phục vụ và tự hiến cho đến chết, từ đó Người đã chiến thắng nhờ sự sống lại của Người. Theo cách đó, máu là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu. [Back]
0853
Nhưng trên đường lữ hành, Hội Thánh cũng cảm nghiệm khoảng cách giữa sứ điệp mà Hội Thánh phải rao giảng và sự yếu hèn nhân loại của những người được ủy thác Tin Mừng. Chỉ bằng con đường sám hối và canh tân và qua cửa hẹp của Thập Giá, Dân Thiên Chúa mới có thể mở rộng Nước Đức Kitô. Cũng như Đức Kitô đã hoàn thành công trình cứu chuộc trong nghèo khó và bị bách hại, Hội Thánh cũng được kêu gọi tiến bước trên chính con đường đó, để truyền thông cho người ta những hoa trái của ơn cứu độ. [Back]
0854
Do chính sứ vụ của mình, Hội Thánh đồng hành với toàn thể nhân loại và cảm nghiệm cùng một số phận trần thế với trần gian, và Hội Thánh hiện hữu như men, như linh hồn của xã hội nhân loại phải được canh tân trong Đức Kitô và phải được biến đổi thành gia đình của Thiên Chúa. Vì thế nỗ lực truyền giáo đòi hỏi sự kiên nhẫn. Công việc truyền giáo bắt đầu bằng việc rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc và các nhóm người chưa tin vào Đức Kitô; tiếp đến là thiết lập những cộng đoàn Kitô hữu, là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trên trần gian, và thành lập những Giáo Hội địa phương; tiến trình hội nhập văn hóa được thúc đẩy, để Tin Mừng nhập thể vào các nền văn hóa của các dân tộc; tiến trình đó sẽ không thiếu lúc gặp sự chống đối. Đối với người ta, các tập thể và các dân tộc, Hội Thánh chỉ tiếp xúc và thâm nhập dần dần, và như vậy đón nhận họ vào sự sung mãn của tính công giáo. [Back]
0855
Công việc
truyền giáo của Hội Thánh đòi hỏi nỗ lực
để hợp nhất các Kitô hữu. Sự chia rẽ giữa
các Kitô hữu ngăn trở Hội Thánh thực hiện đầy
đủ tính công giáo đặc thù của mình nơi những con
cái đó, những người đã liên kết với Hội
Thánh bằng Phép Rửa, nhưng còn bị tách biệt chưa
hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh. Hơn nữa,
chính Hội Thánh cũng khó diễn tả sự sung
mãn của tính công giáo về mọi phương diện trong
đời sống thực tế. [Back]
0856
Nhiệm vụ truyền giáo bao hàm sự đối thoại đầy tôn trọng đối với những ai chưa đón nhận Tin Mừng. Các tín hữu có thể nhận được điều bổ ích cho chính mình từ cuộc đối thoại này, nhờ học biết thêm rằng bất cứ điều gì thuộc về chân lý và ân sủng đã có nơi các dân tộc, đều được nhận ra như một sự hiện diện bí ẩn của Thiên Chúa. Chính các tín hữu loan báo Tin Mừng cho những người không biết, để củng cố, bổ túc, và nâng cao chân lý và sự thiện mà Thiên Chúa đã tuôn đổ cho người ta, cho các dân tộc, và để thanh luyện họ khỏi sự sai lầm và sự dữ để Thiên Chúa được vinh danh, ma quỷ phải hổ thẹn, và con người được hạnh phúc. [Back]
Hội Thánh tông truyền
Hội Thánh có
đặc tính tông truyền vì được đặt nền trên
các Tông Đồ, và điều này được hiểu theo ba nghĩa:
– Hội Thánh đã và
đang được xây dựng trên “nền móng là các Tông Đồ” (Ep
2,20), là những
chứng nhân đã được chính Đức Kitô tuyển chọn
và sai đi;
– Với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Đấng
hằng ngự trong Hội Thánh, Hội Thánh gìn giữ
và lưu truyền giáo huấn[108], kho tàng quý báu, những
lời lành thánh nghe được từ các Tông Đồ;
– Hội Thánh tiếp tục
được giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn bởi
các Tông Đồ cho đến khi Đức Kitô trở lại nhờ
những vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục
tử: Giám mục đoàn, với sự trợ giúp của các
linh mục, hợp nhất với Đấng kế nhiệm
thánh Phêrô là mục tử tối cao của Hội Thánh.
Lạy Chúa là Mục Tử hằng hữu, Chúa không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Đồ, Chúa luôn che chở giữ gìn để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa. [Back]
0858
Sứ vụ của các Tông Đồ
Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đi. Ngay từ đầu sứ vụ của Người, Người “gọi đến với mình những kẻ Người muốn…. Người lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,13-14). Từ đó, họ là “những người được sai đi” (thuật ngữ Hy Lạp Apostoloi nói lên ý nghĩa đó). Qua họ, Đức Kitô tiếp tục sứ vụ riêng của Người: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,2l). Như vậy, thừa tác vụ của họ là sự tiếp tục sứ vụ của Đức Kitô. Chính Người nói với nhóm Mười Hai: “Ai đón tiếp anh em, là đón tiếp Thầy” (Mt l0,40) [Back]
0859
Chúa Giêsu kết hợp họ vào sứ vụ mà Người lãnh nhận từ Chúa Cha: cũng như “Chúa Con không thể tự mình làm gì” (Ga 5,19.30) nhưng lãnh nhận tất cả từ Chúa Cha, Đấng đã sai Người, thì những người Chúa Giêsu sai đi cũng vậy, họ không thể làm được gì nếu không có Người, từ nơi Người, họ đã lãnh nhận lệnh truyền sai đi và quyền năng để hoàn thành điều đó. Vì thế, các Tông Đồ của Đức Kitô biết rằng họ đã được Thiên Chúa làm cho trở thành “những thừa tác viên của Tân Ước” (2 Cr 3,6), “những thừa tác viên của Thiên Chúa” (2 Cr 6,4), “những sứ giả thay mặt Đức Kitô” (2 Cr 5,20), “những đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1 Cr 4,l). [Back]
0860
Trong nhiệm vụ của các Tông Đồ, có một khía cạnh không thể được lưu truyền: đó là các ngài là những chứng nhân đặc tuyển về sự sống lại của Chúa và là những nền móng của Hội Thánh. Nhưng cũng có một khía cạnh trường tồn trong nhiệm vụ của các ngài: Đức Kitô đã hứa với các ngài rằng Người sẽ ở với các ngài cho đến tận thế. “Sứ vụ thần linh, mà Đức Kitô ủy thác cho các Tông Đồ, sẽ tồn tại cho đến tận thế, bởi vì Tin Mừng, được truyền lại bởi các ngài, phải luôn luôn là nguyên lý của toàn bộ sự sống đối với Hội Thánh. Chính vì vậy các Tông Đồ… đã cẩn thận thiết đặt những người kế nhiệm. [Back]
0861
Các Giám mục – những vị kế nhiệm các Tông Đồ
Để sứ vụ đã được ủy thác cho các ngài vẫn được tiếp tục sau khi các ngài qua đời, các Tông Đồ đã trao cho các cộng sự viên trực tiếp của mình, như trao một di chúc, nhiệm vụ phải hoàn thành và củng cố công trình các ngài đã khởi sự, khuyên nhủ họ lưu ý đến hết đoàn chiên mà trong đó Chúa Thánh Thần đã đặt họ chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa. Các ngài đã thiết đặt những người như vậy và quy định rằng sau đó, khi những người này chết, thì những người đàn ông khác đã được thử thách sẽ lãnh nhận thừa tác vụ của họ. [Back]
0862
Cũng như nhiệm vụ được Chúa ủy thác cho một mình ông Phêrô, vị thứ nhất của các Tông Đồ, phải được lưu truyền cho các vị kế nhiệm ông, là một nhiệm vụ trường tồn, thì cũng vậy, nhiệm vụ của các Tông Đồ là phải chăn dắt Hội Thánh, và được thực thi liên tục bởi việc truyền chức thánh cho các Giám mục, nhiệm vụ đó cũng trường tồn. Vì vậy, Hội Thánh dạy rằng: “Chính Chúa đã thiết đặt các Giám mục kế nhiệm các Tông Đồ làm các mục tử của Hội Thánh, nên ai nghe các ngài là nghe Đức Kitô, còn ai khinh miệt các ngài là khinh miệt Đức Kitô và Đấng đã sai Đức Kitô đến. [Back]
0863
Việc tông đồ
Toàn thể Hội Thánh có đặc tính tông truyền vì, nhờ các vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Tông Đồ, Hội Thánh vẫn giữ nguyên nguồn gốc của mình trong sự hiệp thông đức tin và sự sống. Hội Thánh còn có đặc tính tông truyền vì “được sai đi” khắp trần gian; tất cả các chi thể của Hội Thánh, tuy bằng những cách khác nhau, đều tham dự vào tính chất được sai đi này. Quả vậy, ơn gọi Kitô hữu, tự bản chất, cũng là ơn gọi làm việc tông đồ. Được gọi là Việc tông đồ, là mọi hoạt động của Nhiệm Thể nhằm “àm cho Nước Đức Kitô ở mọi nơi trên trần thế được rộng mở. [Back]
0864
Vì Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến, là nguồn mạch và là nguồn gốc của mọi việc tông đồ trong Hội Thánh, nên việc tông đồ, của các thừa tác viên có chức thánh cũng như của các giáo dân, có sinh hoa kết quả hay không đều tùy thuộc vào sự kết hợp sống động của chính họ với Đức Kitô. Việc tông đồ, tuỳ theo các ơn gọi, các nhu cầu thời đại, các hồng ân khác nhau của Chúa Thánh Thần, mang những hình thức hết sức đa dạng. Nhưng đức mến, được múc nguồn đặc biệt từ bí tích Thánh Thể, luôn như là linh hồn của mọi việc tông đồ. [Back]
0865
Hội Thánh là Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền trong căn tính sâu xa và tối hậu của mình, bởi vì nơi Hội Thánh, Nước Trời, Nước Thiên Chúa đã hiện hữu và sẽ được hoàn thành trong ngày tận thế, Nước đó đã đến nơi Ngôi Vị của Đức Kitô và trong trái tim của những ai được tháp nhập vào Người, đang lớn lên cách âm thầm cho đến khi nước đó tỏ hiện trọn vẹn lúc cánh chung. Lúc đó, tất cả mọi người đã được Người cứu chuộc, đã được Người “thánh hóa và làm cho nên tinh tuyền trước tôn nhan Thiên Chúa trong tình yêu, sẽ được quy tụ thành dân duy nhất của Thiên Chúa, Hiền Thê của Con Chiên, Thành Thánh tự trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi sự huy hoàng của Thiên Chúa; và “tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên” (Kh 21,14). [Back]
Tóm lược
Hội Thánh duy nhất: Hội Thánh chỉ có một Chúa, tuyên xưng một đức tin, sinh bởi một Phép Rửa, họp thành một Thân Thể, được làm cho sống bởi một Thần Khí, nhắm đến một niềm hy vọng, khi niềm hy vọng này hoàn thành, mọi chia rẽ sẽ được vượt thắng. [Back]
0867
Hội Thánh thánh thiện: Thiên Chúa chí thánh là Đấng sáng lập Hội Thánh; Đức Kitô, Phu Quân của Hội Thánh đã tự hiến để thánh hóa Hội Thánh; Thần Khí thánh thiện làm cho Hội Thánh được sống. Dù bao gồm những người tội lỗi, Hội Thánh vẫn là “cộng đoàn không tội lỗi được tạo thành từ những người tội lỗi”. Nơi các Thánh, Hội Thánh chiếu tỏa sự thánh thiện của mình. Nơi Đức Maria, Hội Thánh đã thánh thiện trọn vẹn. [Back]
0868
Hội Thánh
công giáo: Hội Thánh loan báo toàn bộ đức tin, mang trong
mình và ban phát đầy đủ các phương tiện cứu độ;
Hội Thánh được sai đến với tất cả các dân tộc;
Hội Thánh ngỏ lời với tất cả mọi người;
Hội Thánh bao trùm mọi thời đại; Hội Thánh “tự
bản chất, có đặc tính là truyền giáo. [Back]
0869
Hội Thánh tông truyền: Hội Thánh được xây dựng trên những nền móng vững chắc là mười hai Tông Đồ của Con Chiên; Hội Thánh không thể bị hủy diệt; Hội Thánh được gìn giữ một cách không thể sai lầm trong chân lý; Đức Kitô điều khiển Hội Thánh qua thánh Phêrô và các Tông Đồ khác, các ngài đang hiện diện nơi những người kế nhiệm các ngài, là Đức Giáo Hoàng và Giám mục đoàn. [Back]
0870
Hội Thánh duy
nhất của Đức Kitô mà trong Tín biểu chúng ta tuyên xưng
là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền,… Hội
Thánh này tồn tại trong Hội Thánh Công giáo, do vị kế
nhiệm thánh Phêrô và các Giám mục hiệp thông với ngài
điều khiển, mặc dù nhiều yếu tố thánh hóa
và chân lý vẫn được gặp thấy bên ngoài cơ cấu
Hội Thánh Công giáo. [Back]
Các Kitô hữu: Phẩm
trật, giáo dân, đời sống thánh hiến
Các Kitô hữu là những
người, được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa
Tội, được thiết lập thành dân Thiên Chúa, và do đó được
tham dự, theo cách của mình, vào chức vụ tư tế,
tiên tri và vương đế của Đức Kitô, được kêu gọi,
tuỳ theo điều kiện riêng của mỗi người, để
thực thi sứ vụ mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho Hội
Thánh phải hoàn thành trong trần gian. [Back]
0872
Giữa tất cả các Kitô hữu, do việc
họ được tái sinh trong Đức Kitô, có sự bình đẳng
thật sự về phẩm giá và hành động, nhờ đó, tất
cả mọi người, tùy
theo địa vị và nhiệm vụ riêng của mỗi người,
cộng tác vào việc xây dựng Thân Thể Đức Kitô. [Back]
0873
Chính những khác biệt Chúa đã muốn
đặt giữa các chi thể của Thân Thể Người, phục
vụ cho sự hợp nhất và cho sứ vụ của
Thân Thể Người. Bởi vì trong Hội Thánh có nhiều
thừa tác vụ khác nhau nhưng đều cùng chung một sứ
vụ. Nhiệm vụ được Đức Kitô trao phó cho các Tông
Đồ và những vị kế nhiệm các ngài là nhân danh Người
và lấy quyền Người mà giảng dạy, thánh hóa và cai
quản. Còn các giáo dân, những người được tham dự
vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức
Kitô, chu toàn những phần việc của mình trong sứ
vụ của toàn dân Thiên Chúa trong Hội Thánh và trong trần
gian. Cuối cùng, trong cả hai thành phần này [phẩm trật
và giáo dân, có những Kitô hữu, qua việc tuyên giữ những
lời khuyên Phúc Âm, được
thánh hiến cách đặc biệt cho Thiên Chúa, và làm ích cho sứ
vụ cứu độ của Hội Thánh. [Back]
Cơ cấu phẩm trật của Hội Thánh
Tại sao có thừa tác vụ trong Hội Thánh?
Chính Đức Kitô là nguồn mạch của thừa tác vụ trong Hội Thánh. Chính Người đã thiết lập thừa tác vụ, và trao ban thẩm quyền, sứ vụ, phương hướng và mục đích cho thừa tác vụ trong Hội Thánh: Để dân Thiên Chúa được chăn dắt và luôn được tăng trưởng, Chúa Kitô đã thiết lập các thừa tác vụ khác nhau trong Hội Thánh của Người hầu mưu ích cho toàn thân. Thật vậy, các thừa tác viên, những người sử dụng quyền thánh chức, phục vụ các anh chị em mình, để mọi người thuộc dân Thiên Chúa… đạt tới ơn cứu độ. [Back]
0875
“Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?” (Rm 10,14-15). Không có ai, không có cá nhân nào hay cộng đoàn nào, có thể tự loan báo Tin Mừng cho chính mình. “Có đức tin là nhờ nghe giảng” (Rm 10,17). Không ai có thể tự ban cho mình lệnh truyền và sứ vụ loan báo Tin Mừng. Người được Chúa sai đi nói và hành động không phải do quyền bính riêng, nhưng do sức mạnh quyền bính của Đức Kitô; người đó nói với cộng đoàn không phải với tư cách là một thành viên của cộng đoàn, nhưng nhân danh Đức Kitô. Không ai có thể tự ban cho mình ân sủng, ân sủng phải được ban tặng. Điều này giả thiết phải có những thừa tác viên của ân sủng, được Đức Kitô ban cho quyền bính và tư cách. Từ nơi Đức Kitô, các Giám mục và linh mục lãnh nhận sứ vụ và khả năng (quyền thánh chức) để hành động trong cương vị Đức Kitô là Đầu (in persona Christi Capitis), còn các phó tế lãnh nhận sức mạnh phục vụ dân Thiên Chúa, qua “việc phục vụ” Lời Chúa, phụng vụ và việc bác ái, trong sự hiệp thông với Giám mục và hàng linh mục của ngài. Thừa tác vụ này, trong đó những người được Đức Kitô sai đi nhờ hồng ân Thiên Chúa, thực hiện và ban tặng những gì họ không thể tự thực hiện và ban tặng cho chính mình, được truyền thống Hội Thánh gọi là bí tích. Thừa tác vụ của Hội Thánh được trao ban qua một bí tích riêng. [Back]
0876
Được gắn liền cách nội tại với
bản chất bí tích của thừa tác vụ của Hội
Thánh là đặc tính phục vụ (indoles servitii) của thừa
tác vụ đó. Thật vậy, các thừa tác viên hoàn toàn tùy
thuộc Đức Kitô là Đấng trao sứ vụ và thẩm
quyền, nên họ thật sự là “những nô lệ của
Đức Kitô, theo gương Đức Kitô, Đấng đã tự nguyện
nhận lấy “thân nô lệ” (Pl 2,7)
vì chúng ta. Bởi vì lời và ân sủng mà họ
là thừa tác viên, không phải là của họ, nhưng là của
Đức Kitô, Đấng đã ủy thác cho họ vì những
người khác, nên họ đã tự nguyện trở thành
nô lệ của mọi người. [Back]
0877
Cũng vậy, do bản chất bí tích của thừa tác vụ trong Hội Thánh, nên thừa tác vụ đó có đặc tính tập thể (indolem collegialem). Thật vậy, Chúa Giêsu, từ lúc khởi đầu thừa tác vụ của mình, đã thiết lập nhóm Mười Hai, mầm mống của dân Israel mới, đồng thời là nguồn gốc của phẩm trật có chức thánh. Cùng được tuyển chọn một trật, và cùng được sai đi một trật, sự hợp nhất huynh đệ của các ngài sẽ phục vụ sự hiệp thông huynh đệ của tất cả các tín hữu; sự hiệp thông này sẽ là phản ảnh và làm chứng cho sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì vậy, Giám mục nào cũng thực thi thừa tác vụ của mình trong Giám mục đoàn, trong sự hiệp thông với Giám mục Rôma là vị kế nhiệm thánh Phêrô và là đầu của Giám mục đoàn; các linh mục thực thi thừa tác vụ của mình trong linh mục đoàn giáo phận, dưới sự hướng dẫn của Giám mục của mình. [Back]
0878
Sau cùng, do bản chất bí tích của thừa tác vụ trong Hội Thánh, nên thừa tác vụ đó có đặc tính cá vị (indolem personalem). Nếu các thừa tác viên của Đức Kitô hành động trong sự hiệp thông, thì họ cũng luôn luôn hành động cách cá vị. Mỗi người được kêu gọi cách cá vị: Phần anh, hãy theo Thầy” (Ga 21,22), để, trong sứ vụ chung, người đó phải là một chứng nhân cá vị, khi lãnh trách nhiệm cách cá vị trước mặt Đấng trao ban sứ vụ, và khi hành động “trong cương vị của Người” (“in Eius persona”) hầu phục vụ các nhân vị: “Tôi rửa anh nhân danh Cha…”; “Tôi tha tội cho anh…”. [Back]
0879
Vì vậy, thừa tác vụ bí tích trong Hội Thánh là một việc phục vụ được thực thi nhân danh Đức Kitô. Thừa tác vụ đó có đặc tính cá vị và hình thức tập đoàn. Điều đó được thể hiện trong những mối liên hệ giữa Giám mục đoàn và đầu Giám mục đoàn, là vị kế nhiệm thánh Phêrô, và trong tương quan giữa trách nhiệm mục vụ của Giám mục đối với giáo phận của mình và sự quan tâm chung của Giám mục đoàn đối với Hội Thánh phổ quát. [Back]
0880
Giám mục đoàn và vị đứng đầu là Đức Giáo Hoàng
Đức Kitô, khi thành lập nhóm Mười Hai, đã thiết lập các ông theo cách thức một tập thể, một nhóm bền vững; Người đã đặt ông Phêrô, được chọn trong số họ, đứng đầu tập thể đó. Cũng như do Chúa thiết lập, thánh Phêrô và các Tông Đồ khác lập thành một Tông Đồ Đoàn, thì Giám mục Rôma, vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Giám mục, những người kế nhiệm các Tông Đồ, cũng được kết hợp với nhau như vậy. [Back]
0881
Chúa đã đặt một mình ông Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, làm đá tảng của Hội Thánh Người. Người đã trao cho ông các chìa khóa của Hội Thánh; và đặt ông làm mục tử của toàn thể đoàn chiên. Tuy nhiên, nhiệm vụ tháo gỡ và cầm buộc, đã được ban cho ông Phêrô, rõ ràng cũng đã được trao ban cho Tông Đồ đoàn, hợp nhất với đầu của mình. Nhiệm vụ mục tử này của thánh Phêrô và của các Tông Đồ khác thuộc về nền móng của Hội Thánh. Nhiệm vụ đó được tiếp tục bởi các Giám mục dưới quyền tối thượng của Giám mục Rôma. [Back]
0882
Đức Giáo Hoàng, là Giám mục Rôma và vị kế
nhiệm thánh Phêrô, “là nguyên lý và nền tảng hữu
hình và trường tồn của sự hợp nhất,
cả của cộng đoàn các Giám mục, cả của cộng
đoàn các tín hữu. Thật vậy, do nhiệm vụ của
mình là Đại diện Đức Kitô và Mục tử của
toàn thể Hội Thánh, Giám mục Rôma có quyền trọn vẹn,
tối cao và phổ quát trong Hội Thánh và ngài luôn có quyền
tự ý thực thi thẩm quyền đó. [Back]
0883
Giám mục đoàn không có thẩm quyền, nếu
không kết hợp với Giám mục Rôma là thủ lãnh
của họ. Như vậy, Giám mục đoàn “cũng có quyền
trọn vẹn và tối cao trong Hội Thánh phổ quát,
nhưng chỉ có thể thi hành thẩm quyền này với sự
ưng thuận của Giám mục Rôma. [Back]
0884
Giám mục đoàn thực thi thẩm quyền
trong Hội Thánh phổ quát một cách trọng thể trong
Công đồng chung. Nhưng không bao giờ có thể có Công đồng
chung, nếu không được vị kế nhiệm thánh Phêrô phê
chuẩn hay ít ra chấp nhận. [Back]
0885
Giám mục đoàn vừa diễn tả tính đa dạng
và tính phổ quát của dân Thiên Chúa vì gồm nhiều
người, vừa diễn tả sự hợp nhất của
đoàn chiên của Đức Kitô, vì được tập họp
dưới quyền một vị làm đầu. [Back]
0886
Mỗi Giám mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hợp nhất trong Giáo Hội địa phương của ngài. Như vậy, mỗi Giám mục thực thi quyền mục vụ của mình trên phần dân Thiên Chúa được ủy thác cho mình, với sự trợ giúp của các linh mục và phó tế. Nhưng, với tư cách là thành viên Giám mục đoàn, mỗi Giám mục tham dự vào sự quan tâm đến tất cả các Giáo Hội, các ngài thực thi sự quan tâm đó trước hết bằng việc điều hành tốt Giáo Hội riêng như một phần của Hội Thánh phổ quát, như vậy các ngài mưu ích cho toàn nhiệm thể, cũng là thân thể của các Giáo Hội. Mối quan tâm này được đặc biệt hướng đến những người nghèo, những người bị bách hại vì đức tin, cũng như đến các thừa sai đang hoạt động trên toàn trái đất. [Back]
0887
Các Giáo Hội địa phương lân cận và có
chung nền văn hóa tạo thành những giáo tỉnh, hay những
tập thể lớn hơn được gọi là giáo miền hay địa
hạt thượng phụ. Các Giám mục của những tập
thể này có thể họp Công nghị hay Công đồng giáo tỉnh.
“Cũng vậy, ngày nay các Hội đồng Giám mục có thể
góp phần một cách đa dạng và phong phú để ý kiến
tập đoàn được áp dụng cụ thể. [Back]
0888
Nhiệm vụ giảng dạy
Các Giám mục, với các linh mục là những cộng sự viên của ngài, có nhiệm vụ trước tiên là phải loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho mọi người, theo lệnh truyền của Chúa. Các ngài là sứ giả của đức tin, dẫn đưa những môn đệ mới đến với Đức Kitô, và là những vị thầy đích thực được ban thẩm quyền của Đức Kitô để giảng dạy đức tin tông truyền. [Back]
0889
Đức Kitô, Đấng là chân lý, để
gìn giữ Hội Thánh trong đức tin tinh tuyền do
các Tông Đồ lưu truyền, đã muốn cho Hội Thánh của
Người được tham dự vào sự bất khả ngộ
của riêng Người. Nhờ cảm thức siêu nhiên của
đức tin, dân Thiên Chúa gắn bó cách kiên vững với đức
tin, dưới sự hướng dẫn của Huấn quyền
sống động của Hội Thánh. [Back]
0890
Sứ vụ của Huấn quyền gắn
liền với tính chất vĩnh viễn của Giao Ước
được Thiên Chúa lập với dân Ngài trong Đức Kitô; Huấn
quyền phải bảo vệ dân Thiên Chúa khỏi những
sai lạc và khiếm khuyết, và bảo đảm cho dân khả
năng khách quan để tuyên xưng đức tin chân chính một cách
không sai lầm. Như vậy, nhiệm vụ mục tử của
Huấn quyền là tỉnh thức lo cho dân Thiên Chúa vững
bền trong chân lý, một chân lý có sức giải
phóng. Để Huấn quyền hoàn thành nhiệm vụ này, Đức
Kitô đã ban cho các mục tử đặc sủng bất khả
ngộ trong các vấn đề về đức tin và phong hóa. Việc
thực thi đặc sủng này có thể mang những dạng
khác nhau. [Back]
0891
Do nhiệm vụ của ngài, Giám mục Rôma,
là đầu của Giám mục đoàn, được hưởng ơn bất
khả ngộ đó khi, với tư cách là mục tử và thầy
dạy tối cao của mọi Kitô hữu, là người củng
cố anh em mình trong đức tin, ngài công bố một đạo
lý về đức tin hoặc phong hóa bằng một hành
vi chung thẩm… Ơn bất khả ngộ được hứa ban
cho Hội Thánh cũng có nơi Giám mục đoàn, khi các ngài thực
thi Huấn quyền tối thượng cùng với vị kế
nhiệm thánh Phêrô, nhất là trong một Công đồng chung.
Khi Hội Thánh dùng Huấn quyền tối thượng để
“dạy phải tin một điều gì như là do Thiên Chúa mạc
khải và như là giáo huấn của Đức Kitô, thì người
ta “phải gắn bó với những xác quyết đó bằng
sự vâng phục của đức tin. Kho tàng Mạc khải thần linh trải rộng
bao nhiêu, thì ơn bất khả ngộ này trải rộng
bấy nhiêu. [Back]
0892
Ơn trợ giúp thần linh cũng được ban cho các vị kế nhiệm các Tông Đồ khi giáo huấn cùng với vị kế nhiệm thánh Phêrô, và cách riêng cho Giám mục Rôma, Mục tử của toàn thể Hội Thánh, khi các ngài thực thi Huấn quyền thông thường mà dạy một đạo lý giúp hiểu tốt hơn Mạc khải trong các vấn đề về đức tin và phong hoá, dầu các ngài không xác quyết cách bất khả ngộ, hoặc không diễn tả một cách chung thẩm. Các Kitô hữu phải gắn bó với Huấn quyền thông thường này bằng sự vâng phục đạo hạnh của tâm hồn, sự vâng phục đạo hạnh này, tuy khác biệt với sự ưng thuận của đức tin, nhưng nối dài sự ưng thuận của đức tin. [Back]
0893
Nhiệm vụ thánh hóa
Giám mục cũng là người phục
vụ ân sủng của chức tư tế tối cao, nhất
là trong bí tích Thánh Thể do chính ngài dâng và ngài bảo đảm
việc hiến dâng nhờ các linh mục, là các cộng sự
viên của ngài. Thật vậy, bí tích Thánh Thể là tâm điểm
của đời sống Giáo hội địa phương. Giám mục
và các linh mục thánh hoá Giáo hội bằng kinh nguyện và
việc làm của mình, nhờ thừa tác vụ Lời
Chúa và các bí tích. Các ngài thánh hoá Giáo Hội nhờ gương mẫu
của mình, “đừng lấy quyền mà thống trị
những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng
hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5, 3). Như vậy, “cùng với đoàn chiên được
ủy thác cho mình, các ngài có thể đạt tới sự
sống vĩnh cửu. [Back]
0894
Nhiệm vụ cai quản
Như vị đại diện và sứ giả của Đức Kitô, các Giám mục cai quản các Giáo Hội địa phương được trao phó cho mình bằng những lời khuyên bảo, khích lệ, gương sáng của mình, và cũng bằng thẩm quyền và và quyền thánh chức, mà các ngài phải thực thi để xây dựng trong tinh thần phục vụ, là tinh thần của Thầy mình. [Back]
0895
Quyền năng này, mà các ngài thi hành một cách cá vị, nhân danh Đức Kitô, là một quyền năng riêng, thông thường và trực tiếp; tuy việc thực thi quyền này cuối cùng phải được hướng dẫn bởi thẩm quyền tối cao của Hội Thánh. Nhưng không được coi các Giám mục như những đại diện của Giám mục Rôma: thẩm quyền thông thường và trực tiếp của vị này trên toàn Hội Thánh không hủy bỏ, nhưng trái lại, củng cố và bảo vệ thẩm quyền của các Giám mục. Thẩm quyền này phải được thực thi trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Giám mục Rôma. [Back]
0896
Vị Mục Tử nhân lành phải là gương mẫu và khuôn mẫu cho nhiệm vụ mục tử của Giám mục. Ý thức về những yếu đuối của mình, Giám mục có thể cảm thông với những ai dốt nát và lầm lạc. Ngài không nên từ chối lắng nghe những kẻ thuộc quyền, mà ngài ân cần săn sóc như những người con thật của mình…. Còn các tín hữu phải gắn bó với Giám mục của mình như Hội Thánh gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và như Chúa Giêsu Kitô gắn bó với Chúa Cha.
Tất cả anh em hãy vâng phục Giám mục,
như Chúa Giêsu Kitô vâng phục Chúa Cha; hãy vâng phục linh mục
đoàn như vâng phục các Tông Đồ; và hãy kính trọng các
phó tế như kính trọng lệnh truyền của Chúa. Chớ
gì không ai làm điều gì có liên quan đến Hội
Thánh một cách tách biệt với Giám mục. [Back]
Các Kitô hữu giáo dân
Danh xưng giáo dân ở đây được dùng để chỉ tất cả các Kitô hữu trừ những thành viên có chức thánh và bậc tu trì đã được Hội Thánh công nhận, nghĩa là các Kitô hữu, đã được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa Tội, đã được thiết đặt vào dân Thiên Chúa, được tham dự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô theo cách thức của mình, theo phần vụ của mình mà thực thi sứ vụ của toàn dân Kitô giáo trong Hội Thánh và trên trần gian. [Back]
0898
Ơn gọi của các giáo dân
Ơn gọi riêng của các giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng việc quản trị và sắp xếp các thực tại trần gian theo ý Thiên Chúa… Vậy một cách đặc biệt, nhiệm vụ của họ là phải soi sáng và sắp xếp thế nào, để các thực tại trần gian, vốn liên kết mật thiết với họ, không ngừng được thực hiện và phát triển theo Đức Kitô, để ca ngợi Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc. [Back]
0899
Các sáng kiến của các Kitô hữu giáo dân là đặc biệt cần thiết khi phải khám phá và phát minh ra những phương tiện để đem các đòi hỏi của đạo lý và đời sống Kitô giáo thấm nhập vào các thực tại xã hội, chính trị và kinh tế. Các sáng kiến này là một yếu tố bình thường của đời sống Hội Thánh: Các Kitô hữu, và cụ thể hơn, là các giáo dân, đứng ở tuyến đầu của đời sống Hội Thánh; nhờ họ, Hội Thánh là nguyên lý sống động của xã hội nhân loại. Vì vậy, họ đặc biệt phải luôn ý thức rõ ràng hơn rằng không những họ thuộc về Hội Thánh, mà họ còn là Hội Thánh, nghĩa là, là cộng đoàn các Kitô hữu trên trần thế dưới sự hướng dẫn của vị làm đầu chung là Giám mục Rôma, và của các Giám mục hiệp thông với ngài. Họ là Hội Thánh. [Back]
0900
Bởi vì việc tông đồ đã được
Thiên Chúa trao phó cho họ, cũng như cho mọi Kitô hữu khác,
qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, nên các giáo dân có bổn
phận và có quyền lợi làm việc, hoặc một
cách cá nhân, hoặc được quy tụ trong các hiệp hội,
để sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa được
mọi người ở khắp trái đất nhận biết
và đón nhận; nghĩa vụ này còn khẩn cấp hơn
khi chỉ nhờ họ, người ta mới có thể được
nghe Tin Mừng và nhận biết Đức Kitô. Hành động của
họ trong các cộng đoàn Hội Thánh là hết sức cần
thiết, đến nỗi nếu không có hành động đó,
thì việc tông đồ của các mục tử thường
không thể đạt được hiệu quả đầy đủ. [Back]
0901
Giáo dân tham dự vào nhiệm vụ tư tế của Đức Kitô
Các giáo dân, vì đã được thánh hiến cho Đức Kitô và được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, được kêu gọi và được chuẩn bị cách kỳ diệu để Thần Khí luôn mang lại những hoa trái dồi dào hơn nơi họ. Thật vậy, tất cả các công việc của họ, những lời cầu nguyện và việc dấn thân làm tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, việc lao động hằng ngày, việc thư giãn tinh thần và thể xác, nếu được thực hiện trong Thần Khí, và cả những khó khăn trong cuộc sống nếu được chịu đựng cách kiên nhẫn, thì tất cả đều trở nên những hiến lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (x. 1 Pr 2,5), những hiến lễ đó được dâng lên Chúa Cha một cách rất thành kính, khi cử hành Thánh lễ, cùng với lễ vật là Mình Thánh Chúa. Như vậy, các giáo dân, với tư cách là những người tôn thờ bằng hành động một cách thánh thiện ở khắp nơi, cũng dâng chính trần gian lên Thiên Chúa. [Back]
0902
Đặc biệt, các cha mẹ tham dự vào nhiệm
vụ thánh hóa “bằng cách sống đời sống phu phụ
theo tinh thần Kitô giáo và lo cho con cái được hưởng nền
giáo dục Kitô giáo. [Back]
0903
Các giáo dân, nếu có những phẩm chất
đòi phải có, có thể được chấp nhận
lãnh các thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ một
cách bền vững. Ở đâu nhu cầu Hội Thánh đòi
hỏi, vì thiếu thừa tác viên, các giáo dân, dù không có
chức đọc sách và giúp lễ, cũng có thể làm thay một
số việc của các thừa tác viên, cụ thể là thực
thi thừa tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi
đọc kinh phụng vụ, ban Phép Rửa và cho rước lễ,
theo các quy định của giáo luật. [Back]
0904
Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ tiên tri của Đức Kitô
Đức Kitô… chu toàn nhiệm vụ tiên tri của Người, không những nhờ Phẩm trật… nhưng còn nhờ các giáo dân, những kẻ Người đã đặt làm chứng nhân và ban cho họ cảm thức đức tin và ơn ngôn ngữ. Dạy dỗ để dẫn đến đức tin là nhiệm vụ của bất cứ vị giảng thuyết nào, và cũng là của bất cứ tín hữu nào. [Back]
0905
Các giáo dân cũng chu toàn sứ vụ tiên tri của mình bằng việc phúc âm hóa, nghĩa là loan báo Đức Kitô bằng chứng từ đời sống và bằng lời nói. Nơi các giáo dân, việc phúc âm hóa này mang một sắc thái đặc thù và một hiệu quả đặc biệt vì được thực hiện trong những hoàn cảnh bình thường của đời sống. Quả thật, việc tông đồ như vậy không chỉ cốt tại chứng từ đời sống; việc tông đồ thật tìm những cơ hội để loan báo Đức Kitô bằng lời nói hoặc cho những người chưa tin hoặc cho các tín hữu. [Back]
0906
Những ai trong các Kitô hữu giáo dân có khả
năng và đã được huấn luyện, cũng có thể góp
phần mình vào việc dạy giáo lý, vào việc
giảng dạy các khoa học thánh, vào các phương tiện truyền
thông xã hội. [Back]
0907
Tuỳ theo kiến thức, thẩm quyền
và uy tín bản thân, các Kitô hữu có quyền, và đôi khi có cả
bổn phận phải bày tỏ cho các vị Mục tử
có chức thánh biết ý kiến của họ liên quan
tới lợi ích của Hội Thánh, họ cũng có quyền
bộc lộ ý kiến của họ cho các Kitô hữu
khác, miễn là bảo vệ được sự toàn vẹn của
tín lý và luân lý, cũng như lòng kính trọng các
vị Mục tử, và phải lưu ý đến công ích và
phẩm giá của tha nhân. [Back]
0908
Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ vương đế của Đức Kitô
Đức Kitô, nhờ việc Người vâng phục cho đến chết[61], đã truyền thông cho các môn đệ của Người hồng ân là sự tự do vương đế để bằng sự từ bỏ mình và bằng đời sống thánh thiện, họ có thể chiến thắng vương quốc của tội lỗi nơi chính bản thân họ. Bất cứ ai chế ngự được thân xác mình và làm chủ bản thân một cách năng động thích hợp, không để linh hồn mình bị khích động bởi các đam mê, thì, vì kiềm chế tốt bản thân bằng một loại quyền năng vương đế, người đó được gọi là vua, người đó biết cai trị bản thân và là thẩm phán của mình, không bị lôi cuốn vào tội lỗi mà thành nô lệ. [Back]
0909
Ngoài ra, khi các cơ chế và hoàn cảnh của
trần gian gây nên dịp tội, người giáo dân cũng phải
hợp sức làm cho các cơ chế và hoàn cảnh đó trở nên
lành mạnh, sao cho chúng phù hợp với các quy luật của
đức công bằng, và nâng đỡ hơn là chống lại việc
thực thi các nhân đức. Bằng hành động như vậy, họ
làm cho nền văn hoá và các công trình nhân loại được
thấm nhuần những giá trị luân lý. [Back]
0910
Các giáo dân có thể cảm thấy mình
được kêu gọi hay đã được kêu gọi để cộng
tác với các Mục tử trong việc phục vụ cộng
đoàn Hội Thánh, để làm cho đời sống cộng đoàn được
tăng trưởng và phong phú, khi họ thực thi những thừa
tác vụ rất đa dạng, tùy theo ân sủng và các đặc sủng,
mà Chúa đã muốn rộng ban cho họ. [Back]
0911
Trong Hội Thánh, trong việc thực thi quyền
cai quản, các Kitô hữu giáo dân có thể cộng tác chiếu
theo quy tắc của luật. Như vậy có sự hiện
diện của họ trong các Công đồng địa phương, các
Công nghị giáo phận, các Hội đồng mục vụ;
trong việc thực thi trách nhiệm mục vụ trong một
giáo xứ; cộng tác trong các Hội đồng kinh tế;
tham gia vào các Tòa án giáo hội. [Back]
0912
Các Kitô hữu phải cẩn thận phân biệt
đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với
tư cách là phần tử của Hội Thánh, đâu là quyền lợi
và nghĩa vụ của họ với tư cách là phần tử
của xã hội nhân loại. Họ phải cố gắng
nối kết cả hai một cách hài hoà, mà nhớ rằng,
họ phải được hướng dẫn bởi lương tâm Kitô hữu,
trong bất cứ công việc trần thế nào, vì
không một hoạt động nhân loại nào, dầu trong các
công việc trần thế, có thể vượt khỏi quyền
thống trị của Thiên Chúa. [Back]
0913
“Như vậy, mỗi giáo dân, do chính những hồng ân đã được ban cho mình, là chứng nhân và đồng thời là dụng cụ sống động của chính sứ vụ của Hội Thánh, tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho” (Ep 4,7).
Đời sống Thánh hiến
Bậc sống được thiết lập do việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm, tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật của Hội Thánh, vẫn thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Hội Thánh một cách vững bền. [Back]
0915
Các lời khuyên Phúc Âm và đời sống thánh hiến
Các lời khuyên Phúc Âm, vốn có nhiều, được đề ra cho tất cả các môn đệ của Đức Kitô. Sự hoàn hảo của đức mến, mà tất cả các Kitô hữu được kêu gọi tới, đối với những ai tự nguyện đảm nhận ơn gọi sống đời sống thánh hiến, bao hàm nghĩa vụ tuân giữ đức khiết tịnh trong sự độc thân vì Nước Trời, đức khó nghèo và đức vâng phục. Việc tuyên giữ các lời khuyên này, trong một bậc sống vững bền được Hội Thánh công nhận, là đặc tính của đời sống thánh hiến cho Thiên Chúa. [Back]
0916
Bậc sống đời sống thánh hiến
xuất hiện như một trong những cách để sống
một cách hân mật hơn sự thánh hiến đã bắt
nguồn từ bí tích Rửa Tội và dâng hiến trọn
vẹn cho Thiên Chúa. Trong đời sống thánh hiến, các Kitô
hữu muốn mình, dưới sự tác động của
Chúa Thánh Thần, bước theo Đức Kitô cách gần gũi
hơn, tự hiến cho Thiên Chúa đáng mến trên hết mọi
sự, và theo đuổi sự trọn hảo của đức
mến để phục vụ Nước Trời, bày tỏ và
loan báo trong Hội Thánh sự vinh quang của thế giới
tương lai. [Back]
0917
Một cây lớn có nhiều cành
Như trong một cây lớn mọc lên từ hạt giống do Thiên Chúa gieo trồng và đâm cành cách kỳ diệu và đa dạng trong cánh đồng của Chúa, [đã phát sinh] những hình thức khác nhau của đời sống đan tu hoặc cộng đoàn, và những gia đình khác nhau, họ làm gia tăng sản nghiệp, vừa sinh ích cho các thành viên, vừa sinh ích cho toàn Thân Thể của Đức Kitô. [Back]
0918
Ngay từ thời sơ khai của Hội Thánh,
đã có những người nam và người nữ, có ý
muốn nhờ việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm để
bước theo Đức Kitô cách tự do hơn, và bắt chước
Người cách khắng khít hơn, và mỗi người một cách,
họ sống một cuộc đời tận hiến cho
Thiên Chúa. Nhiều người trong số đó, được Chúa Thánh Thần
linh hứng, hoặc đã sống cuộc đời cô tịch,
hoặc đã lập ra những gia đình tu sĩ mà Hội
Thánh, bằng thẩm quyền của mình, đã sẵn
lòng chấp nhận và phê chuẩn. [Back]
0919
Các Giám mục phải luôn cố gắng phân
định những hồng ân mới của đời sống
thánh hiến, được Chúa Thánh Thần phó thác cho Hội Thánh
của Ngài; việc phê chuẩn những hình thức mới
của đời sống thánh hiến được dành riêng cho Toà
Thánh. [Back]
0920
Đời ẩn tu
Các ẩn sĩ, dầu không luôn luôn tuyên giữ cách công khai ba lời khuyên Phúc Âm, đã “hiến dâng đời mình để ngợi khen Thiên Chúa và mưu cầu phần rỗi cho thế giới bằng việc sống cách biệt với thế gian hơn, trong sự thinh lặng đơn độc, trong việc chuyên cần cầu nguyện và trong sự sám hối. [Back]
0921
Các ẩn sĩ tỏ cho thấy phương diện nội tâm hơn của mầu nhiệm Hội Thánh, là sự thân mật cá vị với Đức Kitô. Dù mắt người ta không thấy, nhưng đời ẩn tu là sự rao giảng thầm lặng về Đức Kitô, Đấng mà ẩn sĩ hiến dâng đời mình cho Người, bởi vì Người là tất cả mọi sự đối với họ. Đây là một ơn gọi đặc biệt nhằm gặp được vinh quang của Đấng chịu đóng đinh vào thập giá, trong hoang địa, trong chính cuộc chiến đấu thiêng liêng. [Back]
0922
Các trinh nữ và góa phụ sống đời sống thánh hiến
Từ thời các Tông Đồ, đã có những trinh nữ và góa phụ Kitô hữu được Chúa kêu gọi để gắn bó với Người một cách không chia sẻ trong sự tự do hơn của trái tim, thể xác và tinh thần, họ đã quyết định, và được Hội Thánh phê chuẩn, sống trong bậc đồng trinh hoặc tiết dục vĩnh viễn “vì Nước Trời” (Mt 19,12).
0923
Các trinh nữ là những người nói lên sự
quyết tâm lành thánh theo sát Đức Kitô, họ được Giám mục
giáo phận cung hiến cho Thiên Chúa theo nghi thức phụng
vụ được phê chuẩn, họ đính hôn cách huyền nhiệm
với Đức Kitô, Con Thiên Chúa, và hiến thân phục vụ
Hội Thánh. Qua nghi thức trọng thể này (Nghi thức
Thánh hiến các Trinh nữ), trinh nữ trở thành một
nhân vị được thánh hiến, một dấu chỉ siêu
việt của tình yêu của Hội Thánh đối với
Đức Kitô, một hình ảnh cánh chung của Hiền
thê thiên quốc và của đời sống tương lai. [Back]
0924
Gần gũi với những hình thức
khác của đời sống thánh hiến, bậc đồng
trinh đặt người nữ sống giữa trần gian (hoặc
nữ đan sĩ) trong kinh nguyện, sám hối, phục vụ
anh chị em và làm việc tông đồ, tùy theo bậc sống
và đặc sủng được ban cho mỗi người. Các trinh nữ
được thánh hiến có thể được liên kết lại, để
tuân giữ quyết định của mình cách trung thành
hơn. [Back]
0925
Đời tu dòng
Đời tu dòng, đã xuất hiện tại Đông phương trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo và được thực hiện trong các dòng tu do Hội Thánh thiết lập theo giáo luật, phân biệt với những hình thức khác của đời sống thánh hiến về phương diện phụng tự, việc tuyên khấn công khai các lời khuyên Phúc Âm, chung sống đời huynh đệ, làm bằng chứng cho sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh. [Back]
0926
Đời tu dòng xuất phát từ mầu nhiệm Hội Thánh. Đó là một hồng ân Hội Thánh lãnh nhận từ Chúa mình và hồng ân đó, Hội Thánh trao lại, xét như một bậc sống bền vững, cho tín hữu được Thiên Chúa kêu gọi tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm. Như vậy, Hội Thánh có thể vừa biểu lộ Đức Kitô vừa nhận biết mình như Hiền Thê của Đấng Cứu Độ. Đời tu dòng, dưới những hình thức khác nhau, được mời gọi để nói lên chính tình yêu của Thiên Chúa, trong ngôn ngữ của thời đại chúng ta. [Back]
0927
Tất cả các tu sĩ, dù thuộc
dòng miễn trừ hay không miễn trừ, đều có
chỗ trong số những cộng sự viên của Giám mục
giáo phận trong nhiệm vụ mục tử của ngài.
Ngay từ lúc khởi đầu việc phúc âm hoá, việc gieo
trồng và phát triển truyền giáo của Hội Thánh
đòi sự hiện diện của đời tu dòng dưới
mọi hình thức. Lịch sử chứng minh công lao
to lớn của các Hội dòng trong việc truyền
bá đức tin và trong việc hình thành các Giáo Hội mới:
không những công lao của các Đan viện cổ xưa và các
Dòng tu thời Trung cổ, mà còn của những Cộng
đoàn trong thời đại chúng ta. [Back]
0928
Các tu hội đời
Tu hội đời là một tu hội của đời sống thánh hiến, trong đó các Kitô hữu sống giữa thế giới cố gắng vươn tới sự trọn hảo của đức mến và góp phần vào việc thánh hoá trần gian một cách đặc biệt từ bên trong. [Back]
0929
Bằng đời sống được dâng hiến
trọn vẹn và hoàn toàn cho việc thánh hóa trần gian, các
thành viên của những tu hội này “tham gia vào nhiệm vụ
loan báo Tin Mừng của Hội Thánh, giữa thế giới
và từ thế giới”[99], trong đó, sự hiện diện
của họ tác động như men trong bột. Bằng chứng
của đời sống Kitô hữu của họ nhằm quy
hướng các việc trần thế theo Thiên Chúa và hình
thành trần gian bằng sức mạnh của Tin Mừng.
Bằng những mối ràng buộc thánh, họ sống các
lời khuyên Phúc Âm và gìn giữ sự hiệp thông và
tình huynh đệ với nhau, phù hợp với tính cách thế
tục riêng trong lối sống của họ. [Back]
0930
Các tu đoàn tông đồ
Bên cạnh những hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến, là các tu đoàn tông đồ, mà các thành viên theo đuổi mục đích tông đồ riêng của tu đoàn, dù không có lời khấn dòng, và sống chung như anh chị em theo một lối sống riêng, để vươn tới sự trọn hảo của đức mến qua việc tuân giữ hiến pháp. Trong số các tu đoàn ấy, có những tu đoàn mà các thành viên đảm nhận các lời khuyên Phúc Âm tuỳ theo hiến pháp của họ. [Back]
0931
Thánh hiến và sứ vụ: loan báo Đức Vua ngự đến
Người đã được Phép Rửa dành riêng cho Thiên Chúa, nay hiến thân cho Ngài là Đấng đáng mến trên hết mọi sự, như vậy người đó cố gắng để, một cách mật thiết hơn, được thánh hiến cho việc phục vụ Thiên Chúa và dấn thân mưu ích cho Hội Thánh. Nhờ bậc sống đời sống thánh hiến, Hội Thánh biểu lộ Đức Kitô và cho thấy Chúa Thánh Thần hành động trong Hội Thánh một cách kỳ diệu như thế nào. Những ai tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm có sứ vụ đầu tiên là sống sự thánh hiến của mình. Vì họ “dấn thân phục vụ Hội Thánh do chính sự thánh hiến của mình, cho nên họ buộc phải hoạt động cách đặc biệt cho công cuộc truyền giáo, theo thể thức riêng của hội dòng. [Back]
0932
Trong Hội Thánh, như là một bí tích, nghĩa
là một dấu chỉ và dụng cụ của sự sống
của Thiên Chúa, đời tu dòng xuất hiện như một
dấu chỉ đặc biệt của mầu nhiệm Cứu
Chuộc. Bước theo và bắt chước Đức Kitô một
cách gần gũi hơn, biểu lộ sự huỷ mình
ra không của Người một cách rõ ràng hơn, là hiện
diện một cách sâu sắc hơn, trong trái tim Đức Kitô, với
những người đương thời của mình. Những ai
đi trên con đường hẹp hơ” này khích động anh chị em bằng
gương sáng của mình, và “đưa ra một bằng chứng
sáng chói và nổi bật rằng, trần gian không thể được
biến hình và được dâng lên cho Thiên Chúa nếu không có
tinh thần của các mối phúc. [Back]
0933
Dù chứng tá của họ có đặc tính công khai, như trong bậc tu dòng, hoặc ở mức riêng tư hơn, thậm chí bí mật nữa, thì đối với tất cả những người sống đời sống thánh hiến, ngày Ngự đến của Đức Kitô vẫn luôn là nguồn gốc và định hướng của cuộc đời họ: Quả thật, bởi vì dân Thiên Chúa không có một thành trì vĩnh viễn ở đời này, nên bậc sống thánh hiến vừa biểu lộ những sự tốt đẹp của thiên quốc đã hiện diện nơi trần thế này cho tất cả những ai tin, vừa làm chứng rằng một đời sống mới và vĩnh cửu đã được thủ đắc nhờ sự Cứu Chuộc của Đức Kitô, vừa tiên báo sự phục sinh tương lai và vinh quang của Nước Trời. [Back]
Tóm lược
Do sự thiết
định của Thiên Chúa, trong Hội Thánh, giữa các Kitô hữu
có những thừa tác viên có chức thánh, theo luật được
gọi là giáo sĩ, và những người khác, được gọi
là giáo dân. Cuối cùng, trong cả hai thành phần đó, có những
Kitô hữu, qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm, được
thánh hiến cho Thiên Chúa và như vậy phục vụ sứ vụ
của Hội Thánh. [Back]
0935
Đức Kitô sai
các Tông Đồ của Người và những vị kế nhiệm
các ngài đi rao giảng đức tin và thiết lập Nước
Người. Người cho họ tham gia vào sứ vụ của
Người. Bởi Người, họ lãnh nhận quyền
hành động trong cương vị của Người. [Back]
0936
Chúa đã đặt thánh Phêrô làm nền tảng hữu
hình của Hội Thánh của Người. Người
đã ban cho ông các chìa khoá của Hội Thánh. Giám mục
Giáo Hội Rôma, vị kế nhiệm thánh Phêrô, là thủ
lãnh của Giám mục đoàn, là Đấng Đại diện Đức
Kitô và là Mục tử của toàn thể Hội Thánh trên trần
gian. [Back]
0937
Giám mục Rôma
do sự thiết định của Thiên Chúa, được hưởng
quyền trọn vẹn, tối cao, trực tiếp và phổ
quát trong việc chăm sóc các linh hồn. [Back]
0938
Các Giám mục,
được thiết đặt bởi Chúa Thánh Thần, kế nhiệm
các Tông Đồ. Mỗi Giám mục là nguyên lý và nền tảng
hữu hình của sự hợp nhất trong các Giáo Hội
địa phương của các ngài. [Back]
0939
Các Giám mục, được các linh mục là các cộng sự viên của ngài, và các phó tế giúp đỡ, có nhiệm vụ giảng dạy đức tin một cách xác thực, cử hành phụng tự thần linh nhất là bí tích Thánh Thể, cai quản các Giáo Hội của mình với tư cách các mục tử thật. Sự quan tâm đến tất cả các Giáo Hội cũng thuộc nhiệm vụ của các ngài, cùng với và dưới quyền Giám mục Rôma. [Back]
0940
Vì tính chất
riêng của bậc giáo dân là sống giữa trần gian và
giữa các công việc trần thế, nên họ được
Thiên Chúa kêu gọi, để, một khi nhiệt thành theo tinh
thần Kitô giáo, họ thực thi việc tông đồ của
mình trong trần gian như men trong bột. [Back]
0941
Các giáo dân tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô: một khi luôn được kết hợp hơn với Người, họ triển khai ân sủng của bí tích Rửa Tội và Thêm Sức trong mọi phương diện của đời sống cá vị, gia đình, xã hội và Hội Thánh, và như vậy, họ thực hiện ơn gọi nên thánh dành cho tất cả những người đã được rửa tội. [Back]
0942
Các giáo dân,
vì sứ vụ tiên tri của mình, cũng được
kêu gọi để làm chứng cho Đức Kitô trong mọi sự,
giữa lòng cộng đồng nhân loại. [Back]
0943
Các giáo dân,
vì sứ vụ vương đế của mình, nhờ sự
từ bỏ mình và sự thánh thiện của đời
sống, có thể nhổ tận gốc quyền thống
trị của tội lỗi trong chính bản thân mình
và trong trần gian. [Back]
0944
Đời sống thánh hiến cho Thiên Chúa có đặc điểm là công khai tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm về khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục trong một bậc sống bền vững được Hội Thánh công nhận. [Back]
0945
Người đã được Phép Rửa dành riêng cho Thiên Chúa, nay hiến thân cho Ngài là Đấng đáng mến trên hết mọi sự, trong bậc sống của đời sống thánh hiến, người đó cố gắng để, một cách mật thiết hơn, dâng mình cho việc phục vụ Thiên Chúa và dấn thân mưu ích cho toàn thể Hội Thánh. [Back]
Các Thánh thông công
Sau khi tuyên xưng: Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, tín biểu các Tông Đồ thêm: Các Thánh thông công. Một cách nào đó, mục này là lời giải thích cho mục trước: Hội Thánh là gì, nếu không phải là cộng đoàn của tất cả các Thánh? Quả thật, Hội Thánh là sự hiệp thông của các Thánh. [Back]
0947
Bởi vì tất cả các tín hữu là
một thân thể duy nhất, nên điều thiện hảo của
người này được truyền thông cho người khác. Bởi đó, giữa những
điều khác, phải tin là có sự truyền thông những
điều thiện hảo trong Hội Thánh. Thành phần chủ
yếu là Đức Kitô, bởi vì Người là Đầu. Do đó, điều thiện hảo
của Đức Kitô được truyền thông cho tất cả
các chi thể; và sự truyền thông này được thực hiện
qua các bí tích của Hội Thánh. Thật vậy, Thần Khí
duy nhất điều khiển Hội Thánh làm cho bất cứ
điều gì được thu thập trong Hội Thánh, đều
là của chung. [Back]
0948
Vì vậy, thuật ngữ các Thánh thông công” có hai nghĩa: hiệp thông trong các thực tại thánh (sancta) và hiệp thông giữa những người thánh (sancti)
Sancta sanctis! (Các thực tại thánh cho những người thánh) là lời chủ tế xướng lên trong nhiều phụng vụ Đông phương, lúc nâng cao Mình Máu Thánh trước khi cho rước lễ. Các Kitô hữu (sancti) được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Đức Kitô (sancta) để tăng trưởng trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần (Koinônia) và truyền thông sự hiệp thông đó cho trần gian. [Back]
0949
Hiệp thông các của cải thiêng liêng
Trong cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem, các môn đệ “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Sự hiệp thông trong đức tin. Đức tin của các tín hữu là đức tin của Hội Thánh, được đón nhận từ các Tông Đồ, là kho tàng của sự sống, một kho tàng khi được truyền thông thì lại thêm phong phú. [Back]
0950
Sự hiệp thông các bí tích. Quả vậy,
hoa trái của tất cả các bí tích thuộc về hết
mọi tín hữu; nhờ các bí tích này, giống như nhờ
những mối dây thánh thiêng, họ được gắn liền
và kết hợp với Đức Kitô, nhất là nhờ bí
tích Rửa Tội, qua đó, như qua một cái cửa, họ tiến
vào Hội Thánh. Các Giáo phụ giải thích rằng, ‘các Thánh
thông công’ trong Tín biểu phải được hiểu là sự
hiệp thông các bí tích.
Danh xưng [hiệp thông] này phù hợp với tất cả các
bí tích, vì tất cả đều kết hợp chúng ta với
Thiên Chúa; tuy nhiên danh xưng ấy thích hợp hơn cho bí tích Thánh
Thể, là bí tích thực hiện sự hiệp thông này. [Back]
0951
Sự hiệp thông các đặc sủng: Trong sự hiệp thông của Hội Thánh, Chúa Thánh Thần ban phát các ân sủng đặc biệt cho các tín hữu thuộc mọi bậc sống để xây dựng Hội Thánh. “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12,7). [Back]
0952
“Đối
với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4,32): Kitô hữu thật sự
không sở hữu một điều gì, mà không cho rằng
đó là của chung cho mình cùng với tất cả những
người khác; vì vậy họ phải mau mắn và sẵn
sàng làm nhẹ bớt sự cùng khốn của những người
túng thiếu. Kitô hữu là người quản lý tài sản
của Chúa. [Back]
0953
Sự hiệp thông đức mến: Trong mầu nhiệm các Thánh thông công, “không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình” (Rm 14,7). “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau; Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung. Vậy anh em, anh em là Thân Thể của Đức Kitô và mỗi người là một bộ phận” (1 Cr 12,26-27). Đức mến “không tìm tư lợi” (1 Cr 13,5). Việc nhỏ nhất trong các hành vi của chúng ta được làm trong đức mến đều sinh lợi ích cho mọi người, trong sự liên đới hỗ tương với tất cả mọi người, kẻ sống và kẻ chết, sự liên đới đó được đặt nền trong mầu nhiệm các Thánh thông công. Mọi tội lỗi đều làm tổn thương sự hiệp thông này. [Back]
Hiệp thông giữa Hội Thánh Thiên Quốc và Hội
Thánh trần thế
Ba tình trạng của Hội Thánh. Cho tới khi Chúa ngự đến trong sự uy nghi của Người, có tất cả các Thiên thần với Người, và khi sự chết đã bị hủy diệt, mọi sự đều quy phục Người, thì trong số các môn đệ của Chúa, có những người đang tiếp tục cuộc lữ hành trên trần thế, có những người đã hoàn tất cuộc sống đời này và đang được thanh luyện, lại có những người đã được hiển vinh, đang chiêm ngưỡng cách tỏ tường chính Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể, như Ngài là: Tuy nhiên, tất cả chúng ta, theo mức độ và cách thức khác nhau, đều hiệp thông trong cùng một đức mến đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, và cùng hát lên bài ca chúc tụng vinh quang Thiên Chúa chúng ta. Thật vậy, tất cả những ai thuộc về Đức Kitô, có Thần Khí của Người, đều họp thành một Hội Thánh duy nhất và liên kết với nhau trong Người. [Back]
0955
Vì vậy, sự kết hợp giữa
những người còn đi đường với các anh em
đã yên nghỉ trong bình an của Đức Kitô không hề
bị gián đoạn, mà trái lại, theo đức tin trường tồn
của Hội Thánh, sự hợp nhất đó còn được
tăng cường bằng việc truyền thông cho nhau những
lợi ích thiêng liêng. [Back]
0956
Sự chuyển cầu của các Thánh: Vì được gắn bó mật thiết hơn với Đức Kitô, các Thánh trên trời củng cố toàn thể Hội Thánh một cách vững chắc hơn trong sự thánh thiện. Các ngài không ngừng chuyển cầu với Chúa Cha cho chúng ta, trong khi dâng các công nghiệp các ngài đã lập được nơi trần thế nhờ Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Kitô Giêsu. Nhờ vậy sự yếu đuối của chúng ta được giúp đỡ rất nhiều bằng sự quan tâm huynh đệ của các ngài: Anh em đừng khóc, bởi vì tôi sẽ có ích cho anh em hơn, ở nơi tôi sắp tới, hơn là lúc tôi ở đây. Tôi muốn ở trên trời, để làm việc lành dưới thế. [Back]
0957
Hiệp thông với các Thánh.
Chúng ta không chỉ kính nhớ các Thánh trên trời vì
gương sáng của các ngài, nhưng hơn thế nữa, còn để
sự hợp nhất của toàn thể Hội Thánh trong Thần
Khí được tăng cường nhờ việc thực thi đức mến
huynh đệ. Thật vậy, cũng như sự hiệp thông
giữa những người đi đường đưa chúng ta tới gần
Đức Kitô hơn, thì sự liên kết với các Thánh cũng
kết hợp chúng ta với Đức Kitô, tự nơi Người,
với tư cách là nguồn mạch và là Đầu, tuôn chảy mọi
ân sủng và sự sống của chính dân Thiên Chúa: Quả
vậy, chúng ta tôn thờ Đức Kitô vì Người là Con
Thiên Chúa; và chúng ta yêu mến một cách chính đáng các vị Tử
Đạo, xét như là những môn đệ và những người bắt
chước Chúa, vì sự hết sức tốt lành của
các ngài đối với Đấng là Vua và Thầy của
mình; ước gì chúng ta được là bạn đồng
hành và đồng môn với các ngài. [Back]
0958
Hiệp thông với những người đã qua đời. “Bởi biết rất chắc chắn rằng có sự hiệp thông như thế trong toàn Nhiệm Thể của Chúa Giêsu Kitô, nên ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh lữ hành đã hết sức thành kính nhớ đến những người đã qua đời, và bởi vì ‘dâng hy lễ để đền tội cho những người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi, là một ý nghĩ đạo đức và thánh thiện’ (2 Mcb 12,45), nên Hội Thánh cũng dâng lời cầu cho họ. Lời cầu nguyện của chúng ta cho họ không những có thể giúp đỡ họ, mà còn làm cho sự chuyển cầu của họ cho chúng ta nên hữu hiệu. [Back]
0959
Trong gia đình duy nhất của Thiên Chúa.
Vì tất cả chúng ta đều là con cái Thiên Chúa và hợp
thành một gia đình trong Đức Kitô, nên khi chúng ta hiệp
thông với nhau trong đức mến hỗ tương và trong cùng một
lời ngợi khen Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, chúng ta sống phù hợp
với ơn gọi thâm sâu của Hội Thánh. [Back]
Tóm lược
Hội Thánh là
sự hiệp thông của các Thánh: thuật ngữ này trước
hết chỉ sự hiệp thông trong các thực tại
thánh (sancta), nhất là bí tích Thánh Thể, bí tích này biểu
thị và thực hiện sự hợp nhất của các
tín hữu, những người hợp thành một Thân Thể
trong Đức Kitô. [Back]
0961
Thuật ngữ này cũng chỉ sự hiệp thông của “những người thánh” (sancti) trong Đức Kitô, Đấng “đã chết cho mọi người”. Sự hiệp thông này thâm sâu đến nỗi, điều gì mỗi người làm hoặc chịu, trong và vì Đức Kitô, cũng đều mang lại hoa trái cho mọi người. [Back]
0962
Chúng tôi tin sự
hiệp thông của tất cả các Kitô hữu, nghĩa là
của những người lữ hành nơi trần thế, những
người đã qua đời và đang được thanh luyện, và những
người đang vui hưởng vinh phúc thiên quốc, tất cả
hợp thành một Hội Thánh duy nhất; và chúng tôi cũng
tin rằng trong sự hiệp thông đó, chúng tôi được hưởng
nhờ tình yêu thương xót của Thiên Chúa và của các
Thánh của Ngài, các Đấng luôn lắng nghe những lời
cầu khẩn của chúng tôi. [Back]
Đức Maria - Mẹ Đức Kitô, Mẹ
Hội Thánh
Sau khi chúng ta đã nói về nhiệm vụ của Đức
Trinh Nữ diễm phúc trong mầu nhiệm của Đức
Kitô và Chúa Thánh Thần, giờ đây chúng ta phải lưu ý đến
chỗ đứng của Mẹ trong mầu nhiệm Hội
Thánh. Thật vậy, Đức Trinh Nữ Maria được nhận
biết và tôn kính với tư cách là Mẹ thật của Thiên
Chúa là Đấng Cứu Chuộc. Mẹ cũng thật là Mẹ
các chi thể của Đức Kitô bởi vì đã cộng
tác bằng đức mến để các tín hữu được sinh
ra trong Hội Thánh, được làm chi thể của Đức Kitô
là Đầu của Hội Thánh. Đức Maria, Mẹ Đức
Kitô, cũng là Mẹ Hội Thánh. [Back]
0964
Tình mẫu tử của Đức Maria đối với Hội
Thánh
Đức Maria hợp nhất trọn vẹn với Con mình
Nhiệm vụ của
Đức Maria đối với Hội Thánh không thể tách biệt
khỏi sự hợp nhất của Mẹ với Đức
Kitô, và trực tiếp xuất phát từ sự hợp nhất
đó. Sự liên kết của Đức Maria với Người Con
trong công cuộc cứu độ được biểu lộ từ
lúc Mẹ thụ thai Đức Kitô cách trinh khiết cho đến
lúc Chúa chịu chết. Trong giờ khổ nạn của
Người, sự liên kết đó được biểu lộ cách đặc
biệt: Đức Trinh Nữ
diễm phúc đã tiến bước trong cuộc lữ hành
đức tin, và Mẹ đã trung thành gìn giữ sự
hợp nhất với Con cho đến tận thập giá, Mẹ
đứng đó không ngoài kế hoạch của Thiên Chúa, Mẹ
đã cùng chịu đau khổ cách khủng khiếp với
Người Con Một của mình và liên kết mình với
hy lễ của Người bằng tình mẫu tử, đồng
thuận cách yêu thương với lễ phẩm bị sát tế
do lòng Mẹ sinh ra; và cuối cùng, Mẹ được chính
Đức Kitô Giêsu đang hấp hối trên thập giá ban làm mẹ
người môn đệ, bằng những lời này: ‘Thưa Bà, đây
là con Bà’ (Ga 19,26-27). [Back]
0965
Đức Maria, sau cuộc Thăng thiên của Con
mình, đã trợ giúp Hội Thánh sơ khai bằng lời
cầu nguyện của mình. Cùng với các Tông Đồ
và một số người phụ nữ khác, chúng ta thấy
Đức Maria cũng dùng lời cầu nguyện của
mình mà khẩn cầu hồng ân là Thần Khí, Đấng
đã phủ bóng trên ngài trong ngày Truyền tin. [Back]
0966
Cuộc Lên trời của Mẹ
Sau cùng, Đức Trinh Nữ Vô nhiễm, được gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi tì vết nguyên tội, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả xác cả hồn, và được Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để Mẹ được đồng hình đồng dạng cách sung mãn hơn với Con mình, là Chúa các chúa và là Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Cuộc Lên trời của Đức Trinh Nữ rất thánh là sự tham dự độc nhất vô nhị vào sự Phục sinh của Con mình và là việc thể hiện trước sự phục sinh của các Kitô hữu khác: Lạy Mẹ Thiên Chúa, khi sinh con, Mẹ vẫn khiết trinh; khi yên nghỉ, Mẹ vẫn không lìa bỏ trần gian: Mẹ đã đến với Đấng là nguồn mạch sự sống, chính Mẹ, người đã cưu mang Thiên Chúa hằng sống và chính Mẹ, bằng lời khẩn cầu của Mẹ, sẽ cứu linh hồn chúng con khỏi chết. [Back]
0967
Chính Mẹ là Mẹ chúng ta trong lãnh vực ân sủng
Vì sự hoàn toàn gắn bó của Mẹ với thánh ý Chúa Cha, với công trình cứu chuộc của Con mình, và với mọi tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ Maria là gương mẫu về đức tin và đức mến cho Hội Thánh. Vì vậy, chính Mẹ là thành phần ưu việt và tuyệt đối độc nhất vô nhị của Hội Thánh, và Mẹ cũng là sự thực hiện mẫu mực, là điển hình của Hội Thánh. [Back]
0968
Nhưng nhiệm vụ của Mẹ đối với
Hội Thánh và toàn thể nhân loại còn được mở
rộng hơn nữa. Chính Mẹ đã cộng tác một
cách tuyệt đối độc nhất vô nhị vào công
trình của Đấng Cứu Độ, bằng sự vâng
phục, bằng đức tin, đức cậy và đức mến
nồng nhiệt, để phục hồi sự sống siêu
nhiên cho các linh hồn. Vì lý do đó, Mẹ là Mẹ của
chúng ta trong lãnh vực ân sủng. [Back]
0969
Tình mẫu tử này của Đức Maria
trong Nhiệm cục ân sủng kéo dài không ngừng, khởi
từ sự ưng thuận Mẹ đã trung tín bày tỏ
trong cuộc Truyền tin, và chịu đựng cách không do dự
dưới chân thập giá, cho tới sự hoàn tất vĩnh
viễn của mọi người được tuyển chọn.
Thật vậy, sau khi Mẹ được lên trời, nhiệm vụ
cứu độ của Mẹ không chấm dứt, nhưng qua việc
liên lỉ chuyển cầu của mình, Mẹ tiếp
tục đem lại cho chúng ta những hồng ân của ơn cứu
độ vĩnh cửu.
Vì vậy, trong Hội Thánh, Đức Trinh Nữ diễm
phúc được kêu cầu bằng các tước hiệu là Trạng
Sư, Đấng Cứu Giúp, Đấng Phù Hộ, Đấng Trung Gian. [Back]
0970
Nhiệm vụ làm mẹ của Đức Maria
đối với loài người… không hề làm lu mờ hay suy giảm
sự trung gian duy nhất của Đức Kitô, nhưng tỏ cho
thấy uy lực của sự trung gian ấy. Thật vậy,
mọi dòng chảy mang ơn cứu độ của Đức
Trinh Nữ … đều bắt nguồn từ công nghiệp đầy
tràn chan chứa của Đức Kitô, dựa trên sự trung
gian của Người, hoàn toàn lệ thuộc vào sự trung
gian đó, và múc lấy mọi sức mạnh từ đó. Quả
vậy, không bao giờ một thụ tạo nào có thể
được liệt kê cùng với Ngôi Lời nhập thể và
là Đấng Cứu Chuộc; nhưng cũng như chức tư tế
của Đức Kitô được tham dự bằng nhiều cách
khác nhau hoặc bởi các thừa tác viên hoặc bởi
giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của
Thiên Chúa thật sự được tuôn đổ bằng nhiều
cách khác nhau cho các thụ tạo, thì cũng vậy, sự
trung gian duy nhất của Đấng Cứu Chuộc không loại
bỏ nhưng khơi dậy sự cộng tác khác nhau nơi các thụ
tạo, nhờ được tham dự vào một nguồn mạch
duy nhất. [Back]
Việc sùng kính Đức Trinh Nữ diễm phúc
“Hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48): Lòng sùng kính của Hội Thánh đối với Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc thuộc về chính bản chất của phụng tự Kitô giáo. Đức Trinh Nữ diễm phúc “đáng được Hội Thánh tôn vinh bằng một phụng tự đặc biệt. Thật vậy, từ những thời rất xa xưa, Đức Trinh Nữ diễm phúc đã được tôn kính dưới tước hiệu Mẹ Thiên Chúa, và các tín hữu đã khẩn cầu cùng ẩn náu dưới sự che chở của Mẹ trong mọi cơn gian nan khốn khó. Phụng tự đó, tuy là độc nhất vô nhị, nhưng tự bản chất vẫn khác biệt với phụng tự tôn thờ được dâng lên Ngôi Lời nhập thể, cũng như dâng lên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và phụng tự tôn kính Đức Maria chủ yếu là cổ võ phụng tự tôn thờ Chúa Ba Ngôi; sự tôn kính đó được diễn tả trong các lễ phụng vụ dành cho Mẹ Thiên Chúa và trong các kinh nguyện kính Đức Maria, như kinh Mân Côi, bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng. [Back]
0972
Đức Maria – Hình ảnh cánh chung của Hội
Thánh
Sau khi đã trình bày về Hội Thánh, về nguồn gốc, sứ vụ và đích điểm của Hội Thánh, chúng ta không thể kết luận bằng cách nào tốt hơn là hướng nhìn về Đức Maria, để nơi Mẹ, chúng ta chiêm ngắm Hội Thánh là gì trong mầu nhiệm của mình, trong cuộc lữ hành đức tin của mình, và Hội Thánh sẽ là gì trong quê hương tương lai, khi kết thúc cuộc hành trình của mình, ở đó, để làm vinh danh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh và không thể phân chia, trong sự hiệp thông của tất cả các Thánh, có một người đang mong đợi Hội Thánh, người mà Hội Thánh tôn kính với tư cách là Mẹ của Chúa mình và là Mẹ riêng của mình.
Cũng như ở trên trời, nơi Mẹ đã được vinh quang cả xác cả hồn, Mẹ Chúa Giêsu là hình ảnh và là khởi đầu của Hội Thánh sẽ được hoàn thành ở đời sau như thế nào, thì cũng vậy, nơi trần thế, cho đến khi ngày của Chúa đến, Mẹ sáng chói như dấu chỉ của niềm hy vọng vững chắc và niềm an ủi cho dân lữ hành của Thiên Chúa. [Back]
Tóm lược
Đức Maria,
khi nói lời “Xin vâng” trong ngày Truyền tin và như vậy bày tỏ
sự đồng thuận của mình đối với mầu
nhiệm Nhập Thể, đã cộng tác vào toàn bộ
công trình Con của Mẹ phải hoàn thành. Chính ngài là Mẹ
ở bất cứ nơi nào Con của Mẹ là Đấng Cứu
Độ, và là Đầu của Nhiệm Thể. [Back]
0974
Đức Trinh Nữ
Maria rất thánh, sau khi hoàn tất cuộc đời trần
thế của mình, được đưa cả xác cả hồn
lên hưởng vinh quang thiên quốc, nơi Mẹ tham dự vào
vinh quang của cuộc Phục Sinh của Con mình, thể
hiện trước sự phục sinh của tất cả
các chi thể của Thân Thể Người. [Back]
0975
Chúng tôi tin Mẹ
rất thánh của Thiên Chúa, bà Evà mới, Mẹ Hội
Thánh, giờ đây ở trên trời, vẫn tiếp tục
nhiệm vụ làm mẹ đối với các chi thể của
Đức Kitô. [Back]
Tôi tin phép tha tội
Tín biểu các Tông Đồ kết hợp đức tin về
ơn tha tội không những với đức tin vào Chúa Thánh Thần
mà còn với đức tin về Hội Thánh và về sự
hiệp thông của các Thánh. Chúa Kitô phục sinh, khi ban Chúa
Thánh Thần cho các Tông Đồ của Người, Người ban
cho họ quyền năng thần linh riêng của Người để
tha tội: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em
tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm
giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23). [Back]
0977
Có một phép rửa để tha tội
Chúa chúng ta đã gắn
liền ơn tha tội với đức tin và bí tích Rửa Tội:
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng
cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu Phép Rửa, sẽ
được cứu độ” (Mc 16,15-16).
Bí tích Rửa Tội là bí tích đầu tiên và chính yếu để
tha tội, bởi vì bí tích này kết hợp chúng ta với
Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, và
đã sống lại vì sự công chính hoá của
chúng t, để “chúng ta cũng được sống một đời
sống mới” (Rm 6,4). [Back]
0978
Khi lần đầu chúng ta tuyên xưng đức tin và được tẩy sạch nhờ Phép Rửa thánh thiêng, thì ơn tha thứ được ban cho chúng ta một cách hết sức dư dật, đến nỗi không còn tội lỗi nào phải tẩy xóa, dù là tội tổ tông hay những tội riêng do thiếu sót hoặc do lỗi phạm, không còn phải chịu hình phạt nào để đền tội. Tuy nhiên, không ai được giải thoát khỏi mọi yếu đuối của bản tính nhờ ân sủng của bí tích Rửa Tội: nhưng đúng hơn, chúng ta vẫn phải chiến đấu chống lại những quấy nhiễu của dục vọng, nó không ngừng xúi giục chúng ta phạm tội. [Back]
0979
Trong cuộc chiến chống việc hướng chiều về sự dữ này, ai là người có đủ nghị lực và cảnh giác để tránh được mọi vết thương của tội lỗi? “Vì vậy, bởi vì trong Hội Thánh cần phải có quyền tha tội theo một thể thức khác với bí tích Rửa Tội, nên chìa khoá Nước Trời đã được ký thác cho Hội Thánh, nhờ đó tội của mọi hối nhân có thể được tha thứ, cho dù họ có phạm tội mãi đến ngày cuối cùng của cuộc đời. [Back]
0980
Nhờ Bí tích Thống Hối, người đã được rửa tội có thể được giao hoà với Thiên Chúa và với Hội Thánh: Các Giáo phụ có lý khi gọi bí tích Thống Hối là ‘một Phép Rửa cực nhọc. Bí tích Thống Hối này là cần thiết cho những người sa ngã sau khi chịu Phép Rửa, để được cứu độ, như Phép Rửa là cần thiết cho những người chưa được tái sinh. [Back]
Quyền chìa khoá
Đức Kitô, sau cuộc Phục Sinh của Người, đã sai các Tông Đồ Người đi “nhân danh Người, mà rao giảng cho muôn dân kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24,47). Các Tông Đồ và những vị kế nhiệm các ngài chu toàn “chức vụ giao hoà” (2 Cr 5,18) không những bằng việc loan báo cho người ta ơn tha thứ của Thiên Chúa, mà Đức Kitô đã có công đạt được cho chúng ta, và bằng việc kêu gọi người ta hối cải và tin, mà còn bằng việc truyền thông cho họ ơn tha thứ tội lỗi nhờ bí tích Rửa Tội, và bằng việc giao hoà họ với Thiên Chúa và với Hội Thánh nhờ quyền chìa khoá các ngài đã lãnh nhận từ Đức Kitô: Hội Thánh đã lãnh nhận chìa khóa Nước Trời, để trong Hội Thánh nhờ Máu Đức Kitô và tác động của Chúa Thánh Thần, việc tha thứ tội lỗi được thể hiện. Trong Hội Thánh, linh hồn đã chết do tội lỗi được hồi sinh để được cùng sống với Đức Kitô, nhờ ân sủng của Người mà chúng ta được cứu độ. [Back]
0982
Không có tội nào, dù nặng nề đến mấy,
mà Hội Thánh không thể tha thứ. Không người nào, dù
gian ác và xấu xa đến đâu, lại không thể hy vọng
chắc chắn mình được tha thứ, miễn là người
đó thật sự thống hối về các lầm lạc của
mình. Đức Kitô, Đấng đã chết cho tất cả
mọi người, muốn rằng: các cửa của sự
tha thứ trong Hội Thánh của Người luôn rộng mở
cho bất cứ ai bỏ tội lỗi trở về. [Back]
0983
Việc dạy giáo lý phải cố
gắng khơi dậy và nuôi dưỡng nơi các tín hữu niềm
tin về sự cao cả khôn sánh của hồng ân mà Chúa phục
sinh đã làm cho Hội Thánh của Người: đó là sứ vụ
và quyền năng tha thứ thật sự các tội lỗi,
nhờ thừa tác vụ của các Tông Đồ và của những
vị kế nhiệm các ngài: Chúa muốn các môn đệ của
Người có một quyền năng lớn lao: Người muốn
các tôi tớ thấp hèn của Người nhân danh Người mà
thực hiện tất cả những gì Người
đã làm khi còn tại thế.
[Các tư tế] đã
lãnh nhận quyền năng mà Thiên Chúa đã không ban cho
các Thiên thần hoặc các Tổng lãnh Thiên thần. Bất
cứ điều gì các tư tế làm nơi đất thấp,
thì trên trời cao, Thiên Chúa đều phê chuẩn.
Nếu trong Hội Thánh không có ơn tha tội, thì không có một hy vọng nào: nếu trong Hội Thánh không có ơn tha tội, thì không có hy vọng nào về đời sống tương lai và sự giải thoát vĩnh cửu. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã ban cho Hội Thánh của Ngài hồng ân này. [Back]
Tóm lược
Tín biểu kết
hợp sự tha tội với lời Tuyên xưng đức tin về
Chúa Thánh Thần. Quả thật, Đức Kitô phục sinh
đã ký thác cho các Tông Đồ quyền tha tội, khi
Người ban Chúa Thánh Thần cho các ngài. [Back]
0985
Bí tích Rửa Tội là bí tích đầu tiên và chính yếu để tha tội: bí tích này kết hợp chúng ta với Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại, và ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần. [Back]
0986
Do ý muốn của Đức Kitô, Hội Thánh có quyền tha tội cho những người đã được rửa tội; Hội Thánh thực thi quyền này, một cách thông thường, qua các Giám mục và các linh mục trong bí tích Thống Hối. [Back]
0987
Trong việc
tha tội, cả các tư tế, cả các bí tích đều là những
dụng cụ, qua đó Chúa Kitô, là Tác giả và là Đấng ban
phát ơn cứu độ, thực hiện việc tha tội và sự
công chính trong chúng ta. [Back]
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Tín biểu của Kitô giáo – là Bản tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và vào hành động tạo dựng, cứu độ và thánh hoá của Ngài – được kết thúc với lời tuyên xưng về sự sống lại của những người chết, vào lúc cùng tận thời gian, và về sự sống vĩnh cửu. [Back]
0989
Chúng ta tin một cách chắc chắn và hy vọng một cách chính xác rằng: cũng như Đức Kitô đã thật sự sống lại từ cõi chết và sống muôn đời, thì cũng vậy, những người công chính sau cái chết của mình sẽ sống muôn đời với Đức Kitô phục sinh, Đấng sẽ làm cho họ sống lại vào ngày sau hết. Sự sống lại của chúng ta, cũng như sự sống lại của Người, sẽ là công trình của Ba Ngôi Chí Thánh: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8,11).
0990
Từ thân xác” được dùng ở đây để chỉ con người trong thân phận yếu đuối và phải chết của nó. Xác sống lại có nghĩa là sau khi chết, không những linh hồn bất tử được có sự sống, mà cả “thân xác phải chết” (Rm 8,11) của chúng ta cũng sẽ được đảm nhận lại sự sống. [Back]
0991
Tin sự sống lại của những người chết là một yếu tố căn bản của đức tin Kitô giáo ngay từ hồi đầu. Niềm tin của các Kitô hữu, sự sống lại của những người chết. Chúng tôi tin điều đó: Sao trong anh em có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Đức Kitô đã không sống lại! Mà nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu (1 Cr 15,12-14.20).
Sự phục sinh của Đức Kitô và của chúng ta
Mạc khải tiệm tiến về sự Phục Sinh
Việc kẻ chết sống lại đã được Thiên Chúa mạc khải dần dần cho dân Ngài. Niềm hy vọng vào sự sống lại về thân xác của những người chết đã phổ biến như một hệ luận nội tại của đức tin vào Thiên Chúa, là Đấng tạo dựng toàn bộ con người, cả hồn cả xác. Đấng tạo dựng trời đất cũng là Đấng trung tín giữ Giao Ước của Ngài với tổ phụ Abraham và dòng dõi ông. Chính trong hai viễn tượng [tạo dựng và giao ước] này, niềm tin vào sự phục sinh bắt đầu được biểu lộ. Trong những cơn thử thách của mình, các vị Tử Đạo nhà Macabêô đã tuyên xưng: “Bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Ngài sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” (2 Mcb 7,9). “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Ngài cho sống lại” (2 Mcb 7,14). [Back]
0993
Những người Pharisêu và nhiều người đương thời với Chúa đã mong đợi sự phục sinh. Chúa Giêsu đã giảng dạy điều đó một cách xác quyết. Với những người Sađucêô phủ nhận sự phục sinh, Người trả lời: “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao?” (Mc 12,24). Đức tin về sự phục sinh dựa trên đức tin vào Thiên Chúa, Đấng “không phải là Thiên Chúa của kẻ chết nhưng là của kẻ sống” (Mc 12,27). [Back]
0994
Hơn nữa: Chúa Giêsu kết hợp đức tin
về sự phục sinh với Ngôi Vị riêng của Người:
“Chính Thầy là sự Sống lại và là sự Sống” (Ga 11,25). Chính Chúa Giêsu sẽ làm cho sống
lại trong ngày sau hết những ai đã tin vào Người
và những ai đã ăn Thịt và uống Máu Người. Ngay
bây giờ, Người đã đưa ra một dấu chỉ và một
bảo chứng khi trả lại sự sống cho một
số người đã chết, như vậy Người loan báo sự
phục sinh riêng của Người tuy sự phục sinh của
Người thuộc một trật tự khác. Người nói về
biến cố độc nhất này như dấu chỉ Jôna, như
dấu chỉ Đền Thờ: Người loan báo sự phục
sinh của Người ngày thứ ba sau khi Người bị giết. [Back]
0995
Làm chứng nhân cho Đức Kitô là “làm chứng nhân về sự phục sinh của Người” (Cv 1,22), là đã ăn, đã uống “với Người sau khi Người từ trong kẻ chết sống lại” (Cv 10,41). Niềm hy vọng Kitô giáo về sự phục sinh được ghi dấu cách tuyệt đối bằng những cuộc gặp gỡ Đức Kitô phục sinh. Chúng ta sẽ phục sinh như Người, với Người và nhờ Người. [Back]
0996
Ngay từ đầu, đức tin Kitô giáo về sự phục sinh đã gặp những phản ứng không hiểu và chống đối. Trong đức tin Kitô giáo, không có việc nào bị chống đối cách mạnh mẽ, dai dẳng, quyết liệt và hăng hái cho bằng vấn đề thân xác sống lại. Thông thường, người ta chấp nhận là sự sống của nhân vị, sau khi chết, được tiếp tục một cách thiêng liêng. Nhưng làm sao tin được rằng thân xác hiển nhiên là phải chết này lại có thể phục sinh vào đời sống vĩnh cửu? [Back]
0997
Người chết sẽ phục sinh thế nào?
Phục sinh là gì? Khi chết, linh hồn và thân xác bị tách biệt, thân xác con người bị hư hoại trong khi linh hồn của nó đến gặp Thiên Chúa, mà vẫn mong đợi được kết hợp lại với thân xác được tôn vinh của mình. Thiên Chúa, bằng sự toàn năng của Ngài, sẽ vĩnh viễn trả lại sự sống bất hoại cho thân xác chúng ta, kết hợp thân xác đó với linh hồn chúng ta, bằng sức mạnh của cuộc phục sinh của Chúa Giêsu. [Back]
0998
Ai sẽ phục sinh? Tất cả mọi
người đã chết đều sẽ phục sinh: “Ai
đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để
được sống, ai đã làm điều dữ, thì sẽ
sống lại để bị kết án” (Ga 5,29). [Back]
0999
Phục sinh thế nào? Đức Kitô đã phục sinh với thân xác riêng của Người: “Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà!” (Lc 24,39); nhưng Người không trở lại với đời sống trần thế. Cũng vậy, trong Người, tất cả mọi người sẽ sống lại với thân xác riêng của mình, thân xác hiện giờ họ đang mang, nhưng thân xác này sẽ được biến đổi thành thân xác của sự vinh quang, thành “thân thể có thần khí” (1 Cr 15,44): “Nhưng có người sẽ nói: Kẻ chết sống lại thế nào? Họ lấy thân thể nào mà trở về? Đồ ngốc! Ngươi gieo cái gì, cái ấy phải chết mới được sống; cái ngươi gieo không phải là hình thể sẽ mọc lên, nhưng là một hạt trơ trụi. Gieo xuống thì hư nát, mà sống lại thì bất diệt; những kẻ chết sẽ sống lại mà không còn hư nát. Quả vậy, cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt; và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử (l Cr 15,35-37.42.52-53). [Back]
1000
Sự phục sinh thế nào đó, vượt quá trí tưởng tượng và sự hiểu biết của chúng ta; điều đó chỉ có thể đạt tới bằng đức tin. Nhưng việc chúng ta tham dự vào bí tích Thánh Thể đã cho chúng ta được nếm trước sự biến hình của thân xác chúng ta nhờ Đức Kitô: Cũng như bánh là hoa mầu ruộng đất, sau khi nhận được lời khẩn cầu Thiên Chúa, không còn là bánh thường nữa, nhưng là Thánh Thể với hai thực tại trần thế và thiên quốc: cũng vậy, thân xác chúng ta khi đón nhận Thánh Thể thì không còn bị hư hoại, nhưng đã mang niềm hy vọng phục sinh. [Back]
1001
Khi nào phục sinh? Một cách vĩnh viễn, “trong ngày sau hết” (Ga 6,39-40.44.54; 11,24); ngày tận thế. Quả vậy, sự phục sinh của những người chết được gắn liền với cuộc Quang lâm của Đức Kitô: “Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng Tổng lãnh Thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên” (l Tx 4,16). [Back]
1002
Phục sinh với Đức Kitô
Nếu thật sự là, Đức Kitô sẽ cho chúng ta phục sinh trong ngày sau hết, thì cũng thật sự là, một cách nào đó, chúng ta đã phục sinh với Đức Kitô rồi. Thật vậy, nhờ Chúa Thánh Thần, đời sống Kitô hữu, ngay nơi trần thế, đã là sự tham dự vào cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu Phép Rửa, lại cùng được sống lại với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng đã làm cho Người sống lại từ cõi chết… Anh em đã được sống lại cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 2,12; 3,1). [Back]
1003
Được liên kết với Đức Kitô nhờ
bí tích Rửa Tội, các tín hữu thật sự đã
tham dự vào sự sống thiên quốc của Đức Kitô
phục sinh, nhưng sự sống này còn “tiềm tàng với
Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3,3). Chính Thiên Chúa đã cho chúng ta được
“cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô
Giêsu trên cõi trời” (Ep 2,6).
Được nuôi dưỡng bằng Mình Thánh Đức Kitô trong
bí tích Thánh Thể, chúng ta đã thuộc về Thân Thể
của Người. Khi chúng ta được phục sinh vào ngày sau hết,
lúc đó, chúng ta sẽ xuất hiện “với Người và cùng
Người hưởng phúc vinh quang” (Cl 3,4). [Back]
1004
Trong khi mong đợi ngày đó, thân xác và linh hồn của tín hữu đã được tham dự vào phẩm giá được hiện hữu trong Đức Kitô; vì vậy, phải tôn trọng thân xác của mình, và cả thân xác của người khác, nhất là khi thân xác đó phải chịu đau đớn: “Thân xác… phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác; Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô sống lại; chính Ngài cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại. Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao? … Anh em đâu còn thuộc về mình nữa… Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1 Cr 6,13-15.19-20). [Back]
Chết trong Đức Kitô Giêsu
Để được phục sinh với Đức Kitô, chúng ta phải chết với Đức Kitô, phải “lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cr 5,8). Khi ra đi, nghĩa là chết, linh hồn bị tách biệt khỏi thân xác. Linh hồn sẽ lại kết hợp với thân xác của mình trong ngày kẻ chết sống lại. [Back]
1006
Sự chết
Đối diện với sự chết, bí ẩn về thân phận con người lên đến mức cao nhất. Theo một nghĩa nào đó, sự chết phần xác là điều tự nhiên, nhưng đối với đức tin, thật ra, sự chết là “lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta” (Rm 6,23). Và đối với những người chết trong ân sủng Đức Kitô, sự chết là tham dự vào cái Chết của Chúa, để họ cũng có thể tham dự vào sự Phục sinh của Người. [Back]
1007
Sự chết là kết thúc cuộc đời trần thế. Cuộc đời chúng ta được đo bằng thời gian, trong quãng thời gian đó, chúng ta thay đổi, chúng ta già đi, và cũng như đối với mọi sinh vật trên trái đất, sự chết xuất hiện như một kết thúc bình thường của cuộc đời. Khía cạnh này của sự chết mang lại sự khẩn trương cho cuộc đời chúng ta: Nhắc đến việc phải chết giúp chúng ta nhớ rằng chúng ta chỉ có một thời gian giới hạn để thực hiện cuộc đời chúng ta: “Giữa tuổi thanh xuân, bạn hãy tưởng nhớ Đấng đã dựng nên mình. Đừng chờ… bụi đất lại trở về với đất, khi phàm nhân trả lại cho Thiên Chúa hơi thở Ngài đã ban cho mình” (Gv 12, 1.7). [Back]
1008
Sự chết là hậu quả của tội lỗi. Là người giải thích xác thực những khẳng định của Thánh Kinh và Thánh Truyền, Huấn quyền của Hội Thánh dạy rằng cái chết đã đi vào trần gian vì tội lỗi của con người. Mặc dù con người có bản tính là phải chết, nhưng Thiên Chúa đã định cho con người không phải chết. Vì vậy sự chết đi ngược lại với những kế hoạch của Thiên Chúa Tạo Hoá, và nó đã đi vào trần gian với tính cách là hậu quả của tội lỗi. Sự chết về phần xác, mà lẽ ra con người đã thoát khỏi nếu đã không phạm tội, cũng là “thù địch… cuối cùng” (1 Cr 15,26) mà con người phải chiến thắng. [Back]
1009
Sự chết được Đức Kitô biến đổi.
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, cũng đã chịu chết vì
chết là đặc điểm của thân phận nhân loại.
Nhưng chính Người, tuy run sợ khi đối diện với sự
chết, đã đảm nhận nó trong một hành vi suy phục
thánh ý Cha Người cách trọn vẹn và tự nguyện.
Sự vâng phục của Chúa Giêsu đã biến đổi lời
chúc dữ của sự chết thành lời chúc lành. [Back]
1010
Ý nghĩa của sự chết theo Kitô giáo
Nhờ Đức Kitô, sự chết theo Kitô giáo có một ý nghĩa tích cực. “Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi” (Pl 1,21). “Đây là lời đáng tin cậy: Nếu ta cùng chết [với Người], ta sẽ cùng sống [với Người]” (2 Tm 2,11). Sự mới mẻ chủ yếu của cái chết theo Kitô giáo là điều này: nhờ Phép Rửa, Kitô hữu đã chết với Đức Kitô một cách bí tích, để sống một đời sống mới; nếu chúng ta chết trong ân sủng của Đức Kitô, sự chết thể lý sẽ hoàn tất việc chết với Đức Kitô đó, và như vậy nó hoàn thành việc tháp nhập chúng ta vào Người trong hành vi cứu chuộc của Người: Tôi thà chết trong Đức Kitô Giêsu, hơn là cai trị toàn cõi trái đất. Tôi tìm kiếm Người, Đấng đã chết cho chúng ta; tôi khao khát Người, Đấng đã phục sinh vì chúng ta. Giờ tôi được sinh ra đã đến gần. Anh em hãy để tôi nhận lãnh ánh sáng tinh tuyền; khi tôi tới được đó, tôi sẽ là một con người. [Back]
1011
Trong sự chết Thiên Chúa kêu gọi con người đến với Ngài. Vì vậy, đối với cái chết, Kitô hữu có thể mong ước giống như thánh Phaolô: “Ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Kitô” (Pl 1,23); và họ có thể biến đổi cái chết riêng của mình thành một hành vi vâng phục và yêu mến đối với Chúa Cha theo gương Đức Kitô: Tình yêu của tôi đã bị đóng đinh vào thập giá; Một mạch nước đang sống và đang nói ở trong tôi, nói với tôi tự bên trong rằng: Hãy đến với Chúa Cha. Con nóng lòng được nhìn thấy Chúa, nên con muốn chết. Tôi không chết, tôi đang bước vào cõi sống. [Back]
1012
Cái nhìn của Kitô giáo về sự chết[39] được diễn tả một cách rõ ràng trong phụng vụ của Hội Thánh: Lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi; và khi nơi nương náu ở trần gian bị hủy diệt tiêu tan thì lại được một chỗ ở vĩnh viễn trên trời. [Back]
1013
Sự chết là kết thúc cuộc lữ hành trần thế của con người, là kết thúc thời gian của ân sủng và của lòng thương xót mà Thiên Chúa ban cho con người để họ thực hiện cuộc đời trần thế của mình theo kế hoạch của Thiên Chúa và để họ quyết định số phận tối hậu của mình. Sau khi kết thúc dòng đời duy nhất là cuộc đời trần thế của chúng ta, chúng ta sẽ không trở lại với những cuộc đời trần thế khác. “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9,27). Không có việc đầu thai sau khi chết. [Back]
1014
Hội Thánh khuyên chúng ta hãy chuẩn bị cho giờ chết của chúng ta (Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi chết đột ngột và bất ngờ: Kinh Cầu Các Thánh cũ), hãy khấn xin Mẹ Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta trong giờ lâm tử (kinh Kính Mừng) và hãy phó thác cho thánh Giuse là bổn mạng của ơn chết lành: Trong mọi hành động và suy nghĩ, con phải xử sự như con sắp chết tức thì. Nếu con có lương tâm tốt lành, con sẽ không quá sợ sự chết. Xa lánh tội lỗi thì tốt hơn là trốn tránh sự chết. Nếu hôm nay con không sẵn sàng, thì làm sao ngày mai con sẵn sàng được?
Lạy Chúa, chúc tụng Chúa vì chị chết thể xác, không người nào sống mà có thể thoát được chị. Khốn cho những ai chết trong những tội trọng; phúc cho những ai, mà chị gặp, đang ở trong thánh ý Chúa, bởi vì cái chết thứ hai sẽ không làm gì hại cho họ. [Back]
Tóm lược
Thân xác là then chốt của ơn cứu độ. Chúng ta tin vào Thiên Chúa, Đấng tạo dựng thân xác. Chúng ta tin vào Ngôi Lời đã trở nên xác phàm để cứu chuộc thân xác. Chúng ta tin xác loài người ngày sau sống lại, là tột đỉnh của công trình tạo dựng và cứu chuộc thân xác. [Back]
1016
Do sự chết, linh hồn bị tách biệt khỏi thân xác, nhưng khi phục sinh, Thiên Chúa sẽ trả lại sự sống bất hoại cho thân xác đã được biến đổi của chúng ta, Ngài lại kết hợp nó với linh hồn chúng ta. Cũng như Đức Kitô đã phục sinh và sống muôn đời, tất cả chúng ta sẽ sống lại trong ngày sau hết. [Back]
1017
Chúng ta tin sự phục sinh thật của thân xác này, mà giờ đây chúng ta đang mang. Tuy nhiên, được gieo xuống mồ là thân xác hư hoại, phục sinh là thân xác bất hoại, “thân xác có thần khí” (1 Cr 15,44). [Back]
1018
Do hậu quả
của tội tổ tông, con người phải chịu chết
về phần xác, “mà lẽ ra con người đã thoát khỏi
nếu đã không phạm tội. [Back]
1019
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, đã tự nguyện chịu chết vì chúng ta trong sự suy phục thánh ý Thiên Chúa, Cha của Người, một cách trọn vẹn và tự nguyện. Bằng cái chết của Người, Người đã chiến thắng sự chết, và như vậy mở ra cho tất cả mọi người khả năng được cứu độ. [Back]
Tôi tin hằng sống vậy
Kitô hữu nào kết hợp sự chết riêng của mình với sự chết của Chúa Giêsu, thì coi sự chết như việc đến với Chúa và đi vào sự sống muôn đời. Khi Hội Thánh, lần cuối cùng, đọc lời xá giải của Đức Kitô để tha thứ cho Kitô hữu hấp hối, xức dầu ban sức mạnh và trao Chúa Kitô là của ăn đàng như lương thực cho cuộc hành trình, Hội Thánh dịu dàng trấn an người ấy: Hỡi linh hồn Kitô hữu, hãy ra đi khỏi trần gian này, nhân danh Chúa Cha toàn năng, Đấng đã tạo dựng nên con, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã chịu khổ hình vì con, nhân danh Chúa Thánh Thần, Đấng đã được tuôn đổ trên con; hôm nay xin cho con được bình an đến chỗ của con và nơi lưu ngụ của con bên Thiên Chúa trong thành thánh Sion, cùng với Đức thánh Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, với thánh Giuse, với tất cả các Thiên thần và các Thánh của Thiên Chúa. Xin cho con được trở về cùng Đấng đã lấy bùn đất tạo dựng nên con. Khi con lìa bỏ đời này, xin thánh Maria, các Thiên thần và toàn thể các Thánh đón tiếp con. Xin cho con được nhìn thấy mặt giáp mặt Đấng Cứu Chuộc con và con được chiêm ngưỡng Thiên Chúa đến muôn đời. [Back]
1021
Phán xét riêng
Sự chết kết thúc đời sống con người, xét như quãng thời gian mở ngỏ để đón nhận hay khước từ ân sủng của Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô. Tân Ước nói về sự phán xét chủ yếu trong viễn tượng một cuộc gặp gỡ sau cùng với Đức Kitô khi Người ngự đến lần thứ hai, nhưng cũng nhiều lần khẳng định sự thưởng phạt mỗi người ngay sau khi họ chết, tùy theo công việc và đức tin của họ. Dụ ngôn về người nghèo khó Lazarô, và lời Đức Kitô trên thập giá nói với người trộm lành, cũng như những bản văn khác trong Tân Ước nói đến số phận cuối cùng của linh hồn, một số phận có thể khác nhau giữa người này với người khác. [Back]
1022
Mỗi người, ngay sau khi chết, lãnh nhận trong linh hồn bất tử của mình sự trả công muôn đời cho mình trong một cuộc phán xét riêng, cuộc phán xét đó quy chiếu đời sống họ với Đức Kitô để hoặc họ phải trải qua việc thanh luyện, hoặc họ lập tức được vào hưởng vinh phúc trên trời hoặc họ lập tức bị luận phạt muôn đời. Vào lúc đời xế bóng, bạn sẽ bị xét xử về tình yêu. [Back]
Thiên đàng
Những ai chết trong ân sủng và tình bằng hữu của Thiên Chúa, và những ai đã được thanh luyện trọn vẹn, thì được sống muôn đời với Đức Kitô. Muôn đời họ sẽ giống như Thiên Chúa, bởi vì họ thấy Ngài “như Ngài là” (1 Ga 3,2), “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12): Bằng thẩm quyền tông đồ, chúng tôi định tín rằng: Theo sự an bài chung của Thiên Chúa, từ sau cuộc Thăng thiên của Đấng Cứu Độ chúng ta là Chúa Giêsu Kitô, linh hồn của tất cả các Thánh và của mọi Kitô hữu đã chết sau khi lãnh nhận Phép Rửa thánh thiêng của Đức Kitô, nếu họ không có gì phải thanh luyện, sau khi họ chết, hoặc nếu lúc đó nơi họ đã hoặc sẽ có gì phải thanh luyện, mà đã thanh luyện xong sau khi chết thì ngay cả trước khi họ đảm nhận lại thân xác của mình và trước cuộc phán xét chung, các linh hồn này đã, đang và sẽ được ở trên trời, trên Nước Trời và trên Thiên Đàng cùng với Đức Kitô, được nhập đoàn các thánh Thiên thần, và sau cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu Kitô, các linh hồn này đã và đang được xem thấy bản tính thần linh bằng sự hưởng kiến trực tiếp và giáp mặt, không qua trung gian một thụ tạo nào. [Back]
1024
Đời sống trọn hảo này với Ba Ngôi Chí Thánh, việc hiệp thông sự sống với Ngài, với Đức Trinh Nữ Maria, với các Thiên thần và tất cả các Thánh, được gọi là thiên đàng. Thiên đàng là mục đích tối hậu và là sự hoàn thành các nguyện vọng sâu xa nhất của con người, là tình trạng vinh phúc tuyệt hảo và vĩnh viễn. [Back]
1025
Sống trên thiên đàng là ở với Đức Kitô. Những người được tuyển chọn sống trong Người, nhưng ở đó họ vẫn giữ, thậm chí họ tìm được, căn tính riêng của mình, danh xưng riêng của mình. Quả vậy, sự sống là được ở với Đức Kitô, bởi vì ở đâu có Đức Kitô, ở đó là Nước Trời. [Back]
1026
Chúa Giêsu Kitô, nhờ sự chết và sự sống lại của Người, đã mở cửa thiên đàng cho chúng ta. Sự sống của các Thánh cốt tại việc sở hữu sung mãn các hoa trái của ơn Cứu Chuộc mà Đức Kitô đã hoàn thành, Người là Đấng kết hợp vào vinh quang thiên quốc của Người những ai đã tin vào Người và đã trung thành với thánh ý Người. Thiên Đàng là cộng đồng vinh phúc của tất cả những người đã được tháp nhập trọn vẹn vào Đức Kitô. [Back]
1027
Mầu nhiệm hiệp thông vinh phúc với Thiên Chúa và với tất cả những người ở trong Đức Kitô, vượt quá mọi hiểu biết và mọi trình bày. Thánh Kinh nói với chúng ta về mầu nhiệm này bằng các hình ảnh: sự sống, ánh sáng, sự bình an, tiệc cưới, rượu Nước Trời, nhà Cha, thành Giêrusalem thiên quốc, thiên đàng: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Ngài. [Back]
1028
Thiên Chúa, vì sự siêu việt của Ngài, không ai có thể trông thấy Ngài như Ngài là, nếu chính Ngài không mở mầu nhiệm của Ngài cho con người chiêm ngưỡng trực tiếp, và nếu chính Ngài không ban cho con người khả năng đó. Việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa như vậy trong vinh quang thiên quốc của Ngài, được Hội Thánh gọi là sự hưởng kiến vinh phúc (visio beatifica): Bạn sẽ vinh quang và hạnh phúc biết bao vì được phép nhìn thấy Chúa, được hân hạnh hưởng niềm vui cứu độ và ánh sáng vĩnh cửu cùng với Chúa Kitô, Thiên Chúa của bạn, bạn sẽ hưởng niềm vui của sự bất tử cùng với những người công chính và các bạn hữu của Thiên Chúa trong Nước Trời. [Back]
1029
Trong vinh quang trên trời, các Thánh vẫn tiếp tục thi hành thánh ý của Thiên Chúa một cách hân hoan đối với những người khác và đối với toàn thể các thụ tạo. Các ngài đã hiển trị cùng với Đức Kitô; cùng với Người, các ngài “sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời” (Kh 22,5). [Back]
Sự thanh luyện cuối cùng hoặc luyện ngục
Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui thiên đàng. [Back]
1031
Hội Thánh gọi sự thanh luyện cuối cùng này của những người được chọn là Luyện ngục, sự thanh luyện này khác hẳn với hình phạt của những kẻ bị luận phạt. Hội Thánh công bố đạo lý đức tin liên quan đến luyện ngục, chủ yếu trong các Công đồng Florentinô và Triđentinô. Truyền thống của Hội Thánh, dựa trên một số bản văn của Thánh Kinh, nói đến lửa thanh luyện: “Đối với một số tội nhẹ, phải tin là trước phán xét chung có lửa thanh luyện, theo điều Đấng là Chân lý đã nói rằng nếu ai nói phạm đến Chúa Thánh Thần, người đó sẽ chẳng được tha cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12,32). Trong lời đó, chúng ta có thể hiểu là một số tội có thể được tha ở đời này, còn một số tội có thể được tha ở đời sau. [Back]
1032
Đạo lý này cũng dựa trên tập quán cầu nguyện cho những người quá cố, điều này đã được Thánh Kinh nói đến: “Bởi đó ông Giuđa Maccabêô đã dâng hy lễ đền tội cho những người quá cố, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi” (2 Mcb 12,46). Ngay những thời đầu, Hội Thánh vẫn kính nhớ người quá cố và dâng lời cầu nguyện cho họ, nhất là dâng Hy lễ Thánh Thể, để một khi đã được thanh luyện họ có thể được vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa. Hội Thánh cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng các ân xá và làm các việc đền tạ để cầu cho những người đã qua đời: Vậy chúng ta hãy giúp đỡ họ và hãy nhớ đến họ. Nếu hy lễ của ông Job đã đền được tội cho các con ông: tại sao bạn lại hồ nghi, là liệu những lễ tế chúng ta dâng lên để cầu cho người quá cố có đem đến cho họ một an ủi nào không? Chúng ta đừng ngần ngại giúp đỡ những người đã qua đời, và dâng lời cầu nguyện cho họ. [Back]
Hỏa ngục
Chúng ta không thể được kết hợp với Thiên Chúa, nếu chúng ta không tự nguyện yêu mến Ngài. Nhưng chúng ta không thể yêu mến Ngài, nếu chúng ta phạm tội trọng chống lại Ngài, chống lại người lân cận của chúng ta hoặc chống lại chính chúng ta: “Kẻ không yêu thương thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân, và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó” (1 Ga 3,15). Chúa chúng ta cảnh cáo rằng chúng ta sẽ bị tách biệt khỏi Người, nếu chúng ta bỏ qua không đáp ứng những nhu cầu khẩn thiết của người nghèo và những người bé mọn, là các anh em của Người. Chết trong tội trọng mà chúng ta không thống hối và không đón nhận tình yêu thương xót của Thiên Chúa, có nghĩa là chúng ta bị tách biệt khỏi Ngài đến muôn đời, vì sự chọn lựa tự do riêng của chúng ta. Tình trạng chính mình tự loại trừ mình cách vĩnh viễn như vậy (auto-exclusio) khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và với các Thánh, được gọi bằng từ hoả ngục. [Back]
1034
Chúa Giêsu thường
nói về lửa không hề tắt của hoả ngục,
dành cho những ai cho đến chết vẫn không tin và không
chịu hối cải, ở đó cả linh hồn và thân xác
có thể bị hư mất. Chúa Giêsu dùng những lời
nghiêm khắc loan báo: “Con Người sẽ sai các Thiên thần
của Người tập trung… mọi kẻ làm điều gian
ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi
quăng chúng vào lò lửa” (Mt 13,41-42), và chính Người sẽ công bố
lời kết án: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho
khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời!” (Mt 25,41). [Back]
1035
Đạo lý của Hội Thánh khẳng định có hỏa ngục và tính vĩnh cửu của hoả ngục. Linh hồn của những kẻ chết trong tình trạng tội lỗi, ngay sau khi chết, sẽ xuống chịu hình phạt hoả ngục, chịu “lửa muôn đời. Hình phạt chủ yếu của hoả ngục cốt tại việc muôn đời bị tách biệt khỏi Thiên Chúa, Đấng mà chỉ nơi Ngài con người mới có thể có sự sống và sự vinh phúc, là những mục đích của việc con người được tạo dựng, và là những điều con người hằng khát vọng. [Back]
1036
Những khẳng định của Thánh Kinh và đạo lý của Hội Thánh về hỏa ngục là lời kêu gọi lãnh trách nhiệm qua đó con người phải sử dụng sự tự do của mình liên quan đến số phận muôn đời của mình. Đồng thời là lời kêu gọi khẩn thiết phải hối cải: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó; còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14): Vì chúng ta không biết ngày và giờ, nên theo lời Chúa dạy, chúng ta luôn phải tỉnh thức, để, khi dòng đời độc nhất của sự sống trần thế của chúng ta chấm dứt, chúng ta xứng đáng vào dự tiệc cưới với Người và được liệt kê vào số người được chúc phúc, kẻo cũng như những tôi tớ xấu xa và lười biếng chúng ta được lệnh phải vào lửa muôn đời, vào chốn tối tăm bên ngoài, nơi khóc lóc và nghiến răng. [Back]
1037
Thiên Chúa không tiền định cho ai xuống hỏa ngục; điều này đòi sự tự ý thù ghét Thiên Chúa (tội trọng) và cố chấp trong tình trạng đó đến cùng. Hội Thánh, trong phụng vụ Thánh Thể và trong kinh nguyện hằng ngày của các tín hữu, khẩn cầu lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng không muốn “cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3,9): Vì vậy, lạy Chúa, xin vui lòng chấp nhận lễ vật của chúng con là tôi tớ Chúa, và của toàn thể gia đình Chúa. Xin an bài cho đời chúng con được sống trong bình an của Chúa, cứu chúng con thoát khỏi án phạt đời đời và nhận chúng con vào đoàn những người Chúa chọn. [Back]
Phán xét cuối cùng
Việc phục sinh của tất cả mọi người đã chết, “người lành và kẻ dữ” (Cv 24,15), đi trước cuộc Phán Xét cuối cùng. Đó sẽ là “giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng… Con Người và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,28-29). Lúc đó Đức Kitô sẽ đến “trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu… Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người; và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê, Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái… Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời” (Mt 25,31.32.46). [Back]
1039
Đối diện với Đức Kitô, Đấng là Chân lý, chân lý về mối tương quan của từng người với Thiên Chúa sẽ được biểu lộ một cách vĩnh viễn. Việc Phán Xét cuối cùng sẽ mạc khải, đến tận những hậu quả cuối cùng của nó, điều thiện hảo mà mỗi người đã làm, hoặc đã bỏ không làm, trong suốt đời sống trần thế của họ: “Bất cứ điều gì những kẻ dữ làm, đều bị ghi lại, mà họ không biết, khi ‘Thiên Chúa ta ngự đến, Ngài không nín lặng’ (Tv 50,3). Rồi Ngài quay sang những kẻ ở bên trái và nói: Ta đã đặt những người nghèo khó bé mọn của Ta trên trần thế cho các ngươi. Ta như là Đầu, Ta đang ngự bên hữu Chúa Cha trên trời, nhưng các chi thể của Ta nơi trần thế phải đau khổ, túng thiếu. Nếu các ngươi cho các chi thể của Ta bất cứ cái gì, thì cái đó đã lên tới Đầu. Các ngươi phải biết rằng, Ta đã đặt những người nghèo khó bé mọn của Ta cho các ngươi khi còn ở trần thế, Ta đặt họ làm những người phục vụ các ngươi để đem các việc làm của các ngươi vào kho tàng của Ta. Và các ngươi đã chẳng đặt gì vào tay họ, vì vậy các ngươi chẳng gặp được gì ở nơi Ta. [Back]
1040
Cuộc Phán Xét cuối cùng sẽ diễn ra khi Đức Kitô trở lại một cách vinh quang. Chỉ có Chúa Cha mới biết ngày giờ; chỉ một mình Ngài quyết định việc Ngự đến của Đức Kitô. Lúc đó, qua Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Chúa Cha sẽ công bố phán quyết chung thẩm của Ngài về toàn thể lịch sử. Chúng ta sẽ nhận biết ý nghĩa tối hậu của toàn bộ công trình tạo dựng và của toàn bộ Nhiệm cục cứu độ và chúng ta sẽ hiểu những đường lối kỳ diệu qua đó sự quan phòng của Thiên Chúa đã dẫn đưa mọi sự đến mục đích tối hậu của chúng. Cuộc Phán Xét cuối cùng sẽ mạc khải đức công chính của Thiên Chúa chiến thắng mọi sự bất chính mà các thụ tạo của Ngài đã lỗi phạm, và tình yêu của Ngài mạnh hơn sự chết. [Back]
1041
Sứ điệp của việc Phán Xét cuối cùng là kêu gọi hối cải, trong khi Thiên Chúa còn cho người ta “thời gian thuận tiện” và “ngày cứu độ” (2 Cr 6,2). Sứ điệp này gợi lên sự kính sợ thánh thiện đối với Thiên Chúa. Nó thúc đẩy người ta đến sự công chính của Nước Trời. Sứ điệp này loan báo “ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi” (Tt 2,13), tức là ngày trở lại của Chúa, Đấng sẽ đến “để được tôn vinh giữa các thần thánh của Người và được ngưỡng mộ giữa mọi kẻ đã tin” (2 Tx 1,10). [Back]
Hy vọng trời mới đất mới
Lúc cùng tận thời gian, Nước Thiên Chúa sẽ đạt tới sự viên mãn của mình. Sau cuộc Phán Xét chung, những người công chính, được tôn vinh cả xác cả hồn, sẽ hiển trị muôn đời với Đức Kitô, và chính toàn thể trần gian sẽ được đổi mới: Lúc đó Hội Thánh sẽ được hoàn tất trong vinh quang thiên quốc, khi… cùng với nhân loại, cả toàn thể trần gian, được kết hợp mật thiết với con người và nhờ con người mà đạt tới mục đích của mình, cũng được canh tân trọn vẹn trong Đức Kitô. [Back]
1043
Thánh Kinh gọi sự canh tân huyền diệu
này, nó sẽ biến đổi nhân loại và trần gian, là
“trời mới đất mới” (2 Pr 3,13). Đó sẽ là sự hoàn
thành chung cuộc kế hoạch của Thiên Chúa: “Quy tụ
muôn loài trong trời đất… trong Đức Kitô” (Ep 1,10). [Back]
1044
Trong trần gian mới, trong thành Giêrusalem thiên quốc, Thiên Chúa sẽ có nơi cư ngự của Ngài giữa con người. “Ngài sẽ lau sạch nước mắt họ, sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). [Back]
1045
Đối với con người, sự hoàn tất này sẽ là sự thực hiện vĩnh viễn việc hợp nhất nhân loại mà Thiên Chúa đã muốn từ tạo thiên lập địa, và Hội Thánh lữ hành đã như là bí tích của sự hợp nhất ấy. Những ai được kết hợp với Đức Kitô sẽ làm thành cộng đoàn những người được cứu chuộc, “Thành thánh” của Thiên Chúa (Kh 21,2), “Hiền thê của Con Chiên” (Kh 21,9). Cộng đoàn này sẽ không còn bị tổn thương bởi tội lỗi, bởi các điều ô uế, bởi tính ích kỷ từng hủy diệt hoặc làm tổn thương cộng đồng nhân loại nơi trần thế. Sự hưởng kiến vinh phúc (visio beatifica) trong đó Thiên Chúa tỏ mình ra cách vô tận cho những người được chọn, sẽ là nguồn mạch vĩnh cửu của vinh phúc, của bình an và của sự hiệp thông với nhau. [Back]
1046
Đối với vũ trụ, Mạc khải khẳng định rằng nhân loại và vũ trụ vật chất có chung một vận mệnh sâu xa: “Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Ngài… Vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát… Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng … khi trông đợi sự cứu chuộc thân xác chúng ta” (Rm 8,19-23). [Back]
1047
Vì vậy, vũ trụ hữu hình được tiền định để chính nó được biến đổi: “Chính nó phải được phục hồi như tình trạng ban đầu, không có trở ngại nào, mà phục vụ những người công chính, trong khi tham dự vào sự tôn vinh họ trong Chúa Giêsu Kitô phục sinh. [Back]
1048
Chúng ta không biết được thời gian hoàn tất của trái đất và nhân loại, chúng ta cũng chẳng biết cách thức vũ trụ sẽ biến đổi ra sao. Quả thật bộ mặt biến dạng vì tội lỗi của trần gian này sẽ qua đi, nhưng chúng ta được dạy rằng Thiên Chúa đã chuẩn bị một nơi lưu ngụ mới và một trần thế mới, trong đó sự công chính lưu ngụ, và vinh phúc của nó sẽ thỏa mãn và vượt quá mọi khát vọng về bình an, vốn đã trào lên trong trái tim con người.
1049
Tuy nhiên, sự trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải khích động hơn sự quan tâm phát triển trái đất này, nơi mà thân thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và đã có khả năng đưa ra một nét phác hoạ nào đó của thời đại mới. Vì vậy, tuy phải phân biệt rõ rệt sự tiến bộ trần thế với sự tăng trưởng Nước Đức Kitô, nhưng tiến bộ này trở thành rất quan trọng đối với Nước Thiên Chúa tùy theo mức độ nó có thể góp phần vào việc tổ chức xã hội nhân loại một cách tốt đẹp hơn. [Back]
1050
Thật vậy, sau khi chúng ta đã theo lệnh Chúa, và trong Thần Khí của Người, truyền bá khắp cõi đất những sự tốt lành của phẩm giá nhân loại, của sự hiệp thông huynh đệ và của sự tự do, nghĩa là tất cả những hoa trái tốt đẹp của bản tính và sự nghiệp của chúng ta, thì sau đó chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng trong tình trạng đã được thanh luyện khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và được biến hình, khi Đức Kitô trao lại cho Chúa Cha Nước vĩnh cửu và phổ quát. Lúc đó, trong đời sống vĩnh cửu, Thiên Chúa “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28): Sự sống thật và theo bản chất cốt tại điều này: Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần, đổ tràn các hồng ân thiên quốc trên tất cả không trừ ai. Nhờ lòng thương xót của Ngài, cả chúng ta là những con người, chúng ta cũng đã lãnh nhận lời hứa vĩnh viễn là được sống muôn đời. [Back]
Tóm lược
Ngay sau khi qua đời, mỗi người trong linh hồn bất tử của mình, trong cuộc phán xét riêng, nhận lấy sự thưởng phạt muôn đời của mình từ nơi Đức Kitô, Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết. [Back]
1052
Chúng tôi tin là
linh hồn của tất cả những ai đã chết
trong ơn nghĩa của Đức Kitô đều là thành phần dân
Thiên Chúa sau khi chết, cái chết sẽ hoàn toàn bị tiêu
diệt trong ngày phục sinh, ngày mà những linh hồn này
được kết hợp với thân xác của mình. [Back]
1053
Chúng tôi tin rằng
đoàn ngũ đông đảo các linh hồn, được quy tụ với
Chúa Giêsu và Đức Maria trên thiên đàng, họp thành Hội Thánh
thiên quốc, nơi các vị, khi hưởng vinh phúc vĩnh cửu,
được thấy Thiên Chúa như Ngài là, và theo cấp độ và
cách thức khác nhau, các vị cũng được dự phần
với các Thánh Thiên thần vào quyền cai quản thần
linh mà Đức Kitô vinh hiển đang thực thi, khi các vị
chuyển cầu cho chúng ta và bằng sự quan tâm huynh đệ,
các vị giúp đỡ rất nhiều cho sự yếu hèn của
chúng ta. [Back]
1054
Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết hầu tiến vào hưởng niềm vui của Thiên Chúa. [Back]
1055
Do mầu nhiệm
các Thánh thông công, Hội Thánh trao phó những người quá cố
cho lòng thương xót của Thiên Chúa và dâng những lời cầu
khẩn, nhất là dâng Hy lễ Thánh Thể cầu cho họ.
[Back]
1056
Hội Thánh, theo gương Đức Kitô, luôn khuyến cáo các tín hữu về một thực tại đáng buồn và bi thảm là sự chết muôn đời, còn được gọi là hỏa ngục. [Back]
1057
Hình phạt chủ yếu của hỏa ngục cốt tại việc muôn đời bị tách biệt khỏi Thiên Chúa, Đấng mà chỉ nơi Ngài con người mới có thể có sự sống và sự vinh phúc, là những mục đích của việc con người được tạo dựng, và là những điều con người hằng khát vọng. [Back]
1058
Hội Thánh cầu nguyện để không ai bị hư mất: Lạy Chúa, xin đừng để con lìa xa Chúa bao giờ. Nếu thật sự là không ai có thể tự cứu được mình, thì cũng thật sự là, Thiên Chúa muốn “cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2,4) và đối với Thiên Chúa, “mọi sự đều có thể được” (Mt 19,26).
1059
Hội Thánh
Rôma tin và tuyên xưng cách chắc chắn rằng, vào ngày Phán xét
chung, tất cả mọi người cùng với thân xác của
mình, sẽ trình diện trước tòa án của
Đức Kitô để trả lẽ về các hành vi của
mình. [Back]
1060
Nước Thiên Chúa, lúc cùng tận thời gian, sẽ đạt tới sự viên mãn của mình. Lúc đó, những người công chính sẽ hiển trị muôn đời với Đức Kitô, bằng cả thân xác và linh hồn đã được tôn vinh, và chính toàn thể vũ trụ vật chất cũng sẽ được biến đổi. Lúc đó, trong cuộc sống vĩnh cửu, Thiên Chúa “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28).
Amen
Tín biểu, cũng như quyển cuối cùng của Thánh Kinh, kết thúc bằng một từ Do thái: Amen. Chúng ta thường gặp chính từ này ở cuối các kinh nguyện của Tân Ước. Cũng vậy, Hội Thánh cũng chấm dứt các kinh nguyện của mình bằng Amen. [Back]
1062
Trong tiếng Do thái, từ Amen có cùng ngữ căn với từ “tin”. Ngữ căn này diễn tả sự vững bền, sự đáng tin, sự trung tín. Như vậy, chúng ta hiểu tại sao từ “Amen” có thể được dùng để nói về sự trung tín của Thiên Chúa đối với chúng ta, và về lòng tin cậy của chúng ta vào Ngài. [Back]
1063
Trong sách tiên tri Isaia, chúng ta thấy có kiểu nói “Thiên Chúa chân thật”, sát chữ là “Thiên Chúa Amen”, nghĩa là, Thiên Chúa trung tín với các lời Ngài đã hứa: “Trong xứ, ai cầu phúc cho mình, sẽ nhân danh Thiên Chúa chân thật mà cầu phúc” (Is 65,16). Chúa chúng ta thường dùng từ Amen, đôi khi với hình thức lặp lại, để nhấn mạnh sự đáng tin của giáo huấn của Người, và quyền bính của Người dựa trên chân lý của Thiên Chúa. [Back]
1064
Vì vậy, từ Amen ở cuối Tín biểu lặp lại và xác nhận thuật ngữ đầu tiên của Tín biểu: “Tôi tin”. Tin là thưa Amen đối với các lời, các lời hứa và các điều răn của Thiên Chúa, và là phó thác bản thân một cách tuyệt đối cho Đấng là “Amen” của tình yêu vô tận và của sự trung tín trọn vẹn. Vậy đời sống Kitô hữu mỗi ngày sẽ là “Amen” cho lời “Tôi tin” trong bản Tuyên xưng đức tin khi chúng ta lãnh nhận Phép Rửa: Tín biểu của bạn phải là như gương soi cho bạn. Hãy ngắm nhìn bạn trong đó, để xem bạn có tin tất cả những gì bạn tuyên xưng là bạn tin hay không, và hằng ngày hãy vui mừng trong đức tin của bạn. [Back]
1065
Chính Chúa Giêsu Kitô là “Amen” (Kh 3,14). Chính Người là “Amen” vĩnh viễn của tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta. Chính Người đảm nhận và thực hiện “Amen” của chúng ta dâng lên Chúa Cha: “Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là ‘Có’ nơi Người. Vì thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên ‘Amen’ để tôn vinh Thiên Chúa” (2 Cr 1,20): Chính nhờ Người, với Người, và trong Người, mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời. AMEN [Back]
Cử hành mầu nhiệm Kitô giáo
Tại sao có phụng vụ?
Trong Tín biểu, Hội Thánh tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và “thiên ý nhiệm mầu là kế hoạch yêu thương” (Ep 1,9) của Ngài đối với tất cả các thụ tạo: Chúa Cha hoàn tất thiên ý nhiệm mầu của Ngài khi ban Con yêu dấu và Thánh Thần Ngài để cứu độ trần gian và để tôn vinh Danh Ngài. Đó là mầu nhiệm của Đức Kitô được mạc khải và thực hiện trong lịch sử, theo một kế hoạch, một sự an bài được tổ chức cách khôn ngoan mà thánh Phaolô gọi là “mầu nhiệm Thiên Chúa đã an bài” (Ep 3,9) và truyền thống giáo phụ gọi là Nhiệm cục của Ngôi Lời Nhập Thể hay Nhiệm cục cứu độ. [Back]
1067
Công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách trọn hảo này, đã được tiên báo trong Cựu Ước qua những công trình vĩ đại của Chúa, nay được Đức Kitô thực hiện, đặc biệt bằng mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa là bằng cuộc tử nạn hồng phúc, sự sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển của Người; qua đó, ‘Người đã chết để tiêu diệt sự chết của chúng ta và sống lại để tái lập sự sống’. Chính từ cạnh sườn Đức Kitô an nghỉ trên thập giá mà bí tích kỳ diệu của toàn thể Hội Thánh đã được phát sinh. Vì vậy, trong phụng vụ, Hội Thánh chủ yếu cử hành mầu nhiệm Vượt Qua, qua mầu nhiệm đó Đức Kitô đã thực hiện công trình cứu độ chúng ta. [Back]
1068
Hội Thánh loan báo và cử hành mầu nhiệm này của Đức Kitô trong phụng vụ của mình, để các tín hữu được sống nhờ mầu nhiệm đó và làm chứng cho mầu nhiệm đó trong trần gian: Nhờ phụng vụ, nhất là trong hy tế Thánh Thể của Chúa, ‘công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện’. Phụng vụ góp phần rất nhiều để giúp các tín hữu, qua cuộc sống mình, diễn tả và biểu lộ cho người khác mầu nhiệm Đức Kitô và bản chất đích thực của Hội Thánh. [Back]
1069
Thuật ngữ “phụng vụ” nghĩa là gì?
Thuật ngữ “phụng vụ” (liturgia), theo gốc chữ, có nghĩa là “công vụ”, “việc phục vụ nhân danh dân cho dân”. Trong truyền thống Kitô giáo, thuật ngữ này có nghĩa là dân Thiên Chúa dự phần vào “công việc của Thiên Chúa. Qua phụng vụ, Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc và Thượng Tế của chúng ta, tiếp tục công trình cứu chuộc chúng ta trong Hội Thánh, với Hội Thánh và nhờ Hội Thánh của Người. [Back]
1070
Thuật ngữ “phụng vụ” trong Tân Ước được dùng để chỉ không những việc cử hành phụng tự thần linh, mà còn cả việc loan báo Tin Mừng và việc thực thi bác ái. Trong tất cả những trường hợp này, vấn đề là phục vụ Thiên Chúa và phục vụ con người. Trong cử hành phụng vụ, Hội Thánh là người phục vụ, theo hình ảnh Chúa mình, là Đấng duy nhất lo việc tế tự, Hội Thánh được tham dự vào chức tư tế (phụng tự), tiên tri (loan báo) và vương đế (phục vụ bác ái) của Người: Vì thế, phụng vụ đáng được xem là việc thực thi trách vụ tư tế của Chúa Giêsu Kitô; trong đó, công cuộc thánh hóa con người được biểu thị bằng những dấu chỉ khả giác và được thực hiện cách riêng biệt theo từng dấu chỉ, và trong đó phụng tự công cộng vẹn toàn được thực thi bởi Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, nghĩa là bởi Đấng là Đầu cùng với các chi thể của Người. Do đó, mọi cử hành phụng vụ, vì là công trình của Đức Kitô tư tế và của Thân Thể Người là Hội Thánh, đều là hành động thánh thiêng tuyệt hảo, không có một hành động nào khác của Hội Thánh hữu hiệu bằng, xét cả về danh hiệu lẫn đẳng cấp. [Back]
1071
Phụng vụ xét như nguồn mạch sự sống
Phụng vụ, là công trình của Đức Kitô, cũng là hành động của Hội Thánh Người. Phụng vụ thực hiện và biểu thị Hội Thánh như dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người nhờ Đức Kitô. Phụng vụ dẫn các tín hữu vào sự sống mới của cộng đoàn. Phụng vụ đòi buộc mọi người phải tham dự một cách ý thức, tích cực và có kết quả. [Back]
1072
Phụng vụ không phải là tất cả hoạt động của Hội Thánh: việc rao giảng Tin Mừng, đức tin và sự hối cải phải đi trước phụng vụ; lúc đó phụng vụ mới có thể mang lại hoa trái của mình trong đời sống các tín hữu: đời sống mới theo Chúa Thánh Thần, việc dấn thân vào sứ vụ của Hội Thánh và việc phục vụ cho sự hợp nhất của Hội Thánh. [Back]
1073
Kinh nguyện và phụng vụ
Phụng vụ còn là tham dự vào kinh nguyện của Đức Kitô dâng lên Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Mọi kinh nguyện Kitô giáo đều bắt nguồn và kết thúc trong phụng vụ. Nhờ phụng vụ, con người nội tâm được bén rễ sâu và đặt nền tảng trên tình yêu của Thiên Chúa, Đấng “rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2,4) trong Con yêu dấu của Ngài. Đây chính là “công trình kỳ diệu của Thiên Chúa”, là đời sống được hướng dẫn và được nội tâm hóa bởi mọi lời cầu nguyện, “mọi lúc trong Thần Khí” (Ep 6,18).
1074
Việc dạy giáo lý và phụng vụ
Phụng vụ là chóp đỉnh mà hoạt động của Hội Thánh vươn tới, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào tất cả sức mạnh của Hội Thánh. Do đó, phụng vụ là chỗ rất đặc biệt để dạy giáo lý cho dân Thiên Chúa. Dạy giáo lý, tự bản chất, gắn liền với mọi cử hành phụng vụ và bí tích, vì chính trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Đức Kitô Giêsu hành động cách sung mãn để biến đổi con người. [Back]
1075
Việc dạy giáo lý trong phụng vụ nhằm đưa con người vào mầu nhiệm Đức Kitô (mystagon), dẫn từ hữu hình đến vô hình, từ dấu chỉ đến thực tại, từ các bí tích tới các mầu nhiệm. Việc trình bày như vậy là trách nhiệm của các sách địa phương và miền. Còn Sách này, nhằm phục vụ toàn thể Hội Thánh, trong đó có nhiều khác biệt về nghi thức và văn hóa, nên chỉ trình bày những gì là căn bản và chung cho toàn thể Hội Thánh liên quan tới phụng vụ xét như là mầu nhiệm và việc cử hành, rồi đến bảy bí tích và các á bí tích. [Back]
Nhiệm cục Bí Tích
Ngày lễ Ngũ Tuần, nhờ việc tuôn ban Chúa Thánh Thần, Hội Thánh được biểu lộ cho trần gian. Hồng ân của Thần Khí khai mở một thời đại mới trong “việc phân phát các mầu nhiệm: đó là thời đại của Hội Thánh, trong thời gian kéo dài này, Đức Kitô, nhờ phụng vụ của Hội Thánh Người, biểu lộ, làm hiện diện và truyền thông công trình cứu độ của Người “cho tới khi Chúa đến (1 Cr 11,26). Trong thời đại này của Hội Thánh, Đức Kitô từ nay sống và hành động trong và với Hội Thánh Người một cách mới, riêng cho thời đại mới này. Người hành động qua các bí tích; truyền thống chung của Hội Thánh, Đông phương cũng như Tây phương, gọi đó là “Nhiệm cục bí tích”: nhiệm cục này cốt tại việc truyền thông (hoặc phân phát) hoa trái của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô trong việc cử hành phụng vụ “bí tích” của Hội Thánh.
Do đó, trước hết, cần phải trình bày “việc phân phát bí tích” (Chương một). Nhờ đó, chúng ta sẽ thấy rõ hơn bản chất và những khía cạnh cốt yếu của việc cử hành phụng vụ. [Back]
1077
Mầu nhiệm vượt qua trong thời đại của Hội
Thánh
Phụng vụ, công trình của Ba
Ngôi Chí Thánh
Chúa Cha, nguồn mạch và cùng đích của
phụng vụ
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Chúa Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Ep 1,3-6). [Back]
1078
Chúc lành là hành động thần linh ban sự sống, và nguồn gốc của hành động này là Chúa Cha. Việc chúc lành của Ngài vừa là một lời nói vừa là một hồng ân (bene-dictio, eu-logia). Khi áp dụng cho con người, từ này có nghĩa chúc tụng, nghĩa là tôn thờ và tạ ơn Đấng Tạo Hoá của mình. [Back]
1079
Từ lúc khởi đầu cho đến lúc cùng tận thời gian, toàn bộ công trình của Thiên Chúa đều là chúc lành. Từ bài thơ phụng vụ về cuộc tạo dựng đầu tiên cho đến những thánh ca về thành Giêrusalem thiên quốc, các tác giả được linh hứng đều loan báo chương trình cứu độ như một lời chúc lành triền miên của Thiên Chúa. [Back]
1080
Từ lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã chúc lành cho các sinh vật, đặc biệt cho người nam và người nữ. Giao ước với ông Noê và với tất cả mọi sinh vật canh tân lời chúc lành sinh sôi nảy nở này, bất chấp tội lỗi của con người đã khiến đất đai bị chúc dữ. Nhưng khởi từ tổ phụ Abraham, lời chúc lành của Thiên Chúa mới đi sâu vào lịch sử loài người, một lịch sử đang hướng về cõi chết, để làm cho nó tiến về cõi sống, tiến về nguồn mạch của nó: nhờ đức tin của cha các kẻ tin, người đã đón nhận lời chúc lành, mà lịch sử cứu độ được khởi đầu. [Back]
1081
Những lời chúc lành của Thiên Chúa được bày tỏ qua các biến cố kỳ diệu và có ý nghĩa cứu độ: đó là việc sinh hạ Isaac, việc xuất hành ra khỏi Ai Cập (Vượt Qua và Xuất Hành), việc trao ban Đất Hứa, việc tuyển chọn Đavid, sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đền Thờ, cuộc lưu đày có ý nghĩa thanh luyện và sự hồi hương của ít người còn sót lại. Lề Luật, các Tiên tri và các Thánh vịnh, dệt nên phụng vụ của dân Chúa chọn, vừa nhắc nhớ những lời chúc lành của Thiên Chúa, vừa đáp lại những lời chúc lành đó bằng những câu ca ngợi và chúc tụng tạ ơn. [Back]
1082
Trong phụng vụ của Hội Thánh, lời chúc lành của Thiên Chúa được mạc khải và truyền thông cách sung mãn: Chúa Cha được nhận biết và được tôn thờ với tư cách là nguồn gốc và cùng đích của mọi chúc lành trong công trình tạo dựng và cứu độ; trong Ngôi Lời của Ngài, Đấng đã nhập thể, chịu chết và sống lại vì chúng ta, Chúa Cha đổ tràn trên chúng ta những lời chúc lành của Ngài, và nhờ Ngôi Lời, Ngài tuôn đổ vào lòng chúng ta hồng ân chứa đựng mọi hồng ân: đó là Chúa Thánh Thần. [Back]
1083
Như vậy, chúng ta hiểu được chiều kích kép của phụng vụ Kitô giáo xét như lời đáp lại của đức tin và tình yêu đối với những lời chúc lành thiêng liêng Chúa Cha đã ban cho chúng ta. Một đàng, được kết hợp với Chúa của mình và dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh chúc tụng Chúa Cha “vì phúc lộc khôn tả Ngài ban” (2 Cr 9,15), bằng việc tôn thờ, ca ngợi và tạ ơn. Đàng khác, cho tới khi kế hoạch của Thiên Chúa được hoàn tất, Hội Thánh không ngừng dâng lên Chúa Cha lễ vật là những hồng ân Ngài ban, và cầu khẩn Ngài ban Thánh Thần xuống trên lễ vật này, trên chính Hội Thánh, trên các tín hữu và trên toàn thể trần gian, để, nhờ hiệp thông vào sự chết và sự sống lại của Đức Kitô-Thượng tế, và nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, những lời chúc lành này của Thiên Chúa đem lại hoa trái sự sống “để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta” (Ep 1,6). [Back]
Công trình của Đức Kitô trong phụng vụ
Đức Kitô được
tôn vinh
Đức Kitô, Đấng ngự bên hữu Chúa Cha và tuôn đổ
Thánh Thần trên Thân Thể của Người là Hội Thánh,
từ nay hoạt động qua các bí tích do chính Người thiết
lập để truyền thông ân sủng của Người. Các
bí tích là những dấu chỉ khả giác (các lời nói và
các hành động) mà loài người chúng ta hiện nay vẫn có
thể hiểu được. Các bí tích thực hiện cách hữu
hiệu ân sủng mà chúng nói lên, nhờ hành động của
Đức Kitô và nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. [Back]
1085
Trong phụng vụ của Hội Thánh, Đức Kitô chủ yếu biểu lộ và hoàn thành mầu nhiệm Vượt Qua của Người. Trong cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu đã loan báo mầu nhiệm Vượt Qua của Người bằng lời giảng dạy và tham dự trước vào mầu nhiệm đó bằng các hành động của Người. Khi Giờ của Người đến, Chúa Giêsu đã sống biến cố độc nhất của lịch sử, một biến cố không qua đi: Chúa Giêsu chịu chết, chịu mai táng, sống lại từ cõi chết và ngự bên hữu Chúa Cha “một lần cho mãi mãi” (Rm 6,10; Dt 7,27; 9,12). Đó là biến cố xác thực, đã xảy ra trong lịch sử của chúng ta, nhưng là biến cố độc nhất. Tất cả những biến cố khác của lịch sử đã xảy ra một lần rồi qua đi, chìm vào dĩ vãng. Trái lại, mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô không thể chỉ tồn tại trong quá khứ, bởi vì chính Người đã dùng cái chết của Người mà huỷ diệt sự chết, và bất cứ điều gì Đức Kitô là, bất cứ điều gì Người đã làm và đã chịu vì tất cả mọi người, những điều đó đều tham dự vào tính vĩnh cửu của Thiên Chúa, và như vậy đều vượt trên mọi thời gian và luôn là hiện tại. Biến cố Thập Giá và Phục Sinh vẫn đang tồn tại và lôi kéo mọi sự tới sự sống. [Back]
1086
Từ Hội Thánh thời các Tông Đồ
Như Đức Kitô được Chúa Cha sai đi thế nào, thì chính Người cũng sai các Tông Đồ, được đầy tràn Thánh Thần, như vậy, không những để khi công bố Tin Mừng cho mọi thụ tạo, các Tông Đồ loan báo rằng Con Thiên Chúa đã nhờ sự chết và sự sống lại của Người, mà giải thoát chúng ta khỏi quyền lực Satan và sự chết, và đưa chúng ta vào Nước của Chúa Cha, nhưng còn để các Tông Đồ thực thi công trình cứu độ, mà các ông đã rao giảng, nhờ Hy Lễ và các bí tích, là trung tâm điểm của toàn thể đời sống phụng vụ. [Back]
1087
Như vậy, Đức Kitô Phục sinh, khi ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ, đã trao cho các ông quyền thánh hóa của Người: Các ông trở nên những dấu chỉ bí tích của Đức Kitô. Nhờ quyền năng của cùng một Chúa Thánh Thần, các ông trao quyền thánh hóa ấy cho những người kế nhiệm. Việc kế nhiệm Tông Đồ” này xây dựng nên toàn bộ đời sống phụng vụ của Hội Thánh; chính việc kế nhiệm đó mang tính bí tích và được lưu truyền qua bí tích Truyền Chức thánh. [Back]
1088
Đang hiện diện trong phụng vụ trần thế.
Để thực hiện một công cuộc lớn lao như vậy (phân phát hoặc truyền thông công trình cứu độ của Người), Đức Kitô luôn hiện diện trong Hội Thánh Người, nhất là trong các hoạt động phụng vụ. Người hiện diện trong Hy tế Thánh lễ cũng như trong con người thừa tác viên, Đấng xưa đã tự hiến trên thánh giá, thì nay chính Người dâng hiến qua thừa tác vụ của các tư tế” và nhất là Người hiện diện dưới hình bánh hình rượu Thánh Thể. Người hiện diện bằng quyền năng của Người trong các bí tích, đến nỗi khi một ai đó làm Phép Rửa, thì đó là chính Đức Kitô làm Phép Rửa. Người hiện diện trong Lời của Người, vì chính là Người đang nói, khi Kinh Thánh được đọc lên trong Hội Thánh. Cuối cùng, Người hiện diện khi Hội Thánh cầu nguyện và hát Thánh vịnh, như chính Người đã hứa: ‘Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ’ (Mt 18, 20). [Back]
1089
Trong công cuộc lớn lao như vậy, qua đó Thiên Chúa được tôn vinh cách hoàn hảo và con người được thánh hoá, Đức Kitô hằng liên kết với Hội Thánh là Hiền Thê rất yêu quý của Người, và Hội Thánh kêu cầu Người là Chúa của mình và nhờ Người mà phụng thờ Chúa Cha hằng hữu. [Back]
1090
Phụng vụ trần thế tham dự vào phụng vụ trên trời
Trong phụng vụ trần thế, chúng ta tham dự như một cách nếm trước phụng vụ trên trời, được cử hành trong thành thánh Giêrusalem, nơi chúng ta là lữ khách đang tiến về, ở đó, Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa, là thừa tác viên của cung thánh, và của nhà tạm đích thực; chúng ta hợp cùng toàn thể đạo binh trên trời đồng thanh ca ngợi tôn vinh Chúa; chúng ta kính nhớ các Thánh, và hy vọng được đồng phận với các ngài; chúng ta mong đợi Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cho đến khi Người, là sự sống của chúng ta, xuất hiện, và chúng ta sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang. [Back]
Chúa Thánh Thần và Hội Thánh trong phụng
vụ
Trong phụng vụ, Chúa Thánh Thần là nhà sư phạm về đức tin cho Dân Thiên Chúa, là Đấng thực hiện “những kỳ công của Thiên Chúa, tức là các bí tích của Giao Ước Mới. Điều Chúa Thánh Thần mong muốn và thực hiện trong lòng Hội Thánh, đó là chúng ta được sống bằng sự sống của Đức Kitô phục sinh. Khi Chúa Thánh Thần gặp được nơi chúng ta lời đáp lại của đức tin mà Ngài đã khơi lên, thì đó là một sự cộng tác thật sự. Vì vậy phụng vụ là công trình chung của Chúa Thánh Thần và Hội Thánh. [Back]
1092
Trong việc phân phát cách bí tích mầu nhiệm của Đức Kitô, Chúa Thánh Thần cũng hành động cùng một cách thức như trong các thời đại khác của Nhiệm cục cứu độ: Ngài chuẩn bị cho Hội Thánh gặp gỡ Chúa của mình; Ngài nhắc nhớ và làm tỏ hiện Đức Kitô cho đức tin của cộng đoàn; Ngài làm cho hiện diện và hiện tại hoá mầu nhiệm của Đức Kitô bằng quyền năng biến đổi của Ngài; sau cùng, Thánh Thần của sự hiệp thông kết hợp Hội Thánh vào đời sống và sứ vụ của Đức Kitô. [Back]
1093
Chúa Thánh Thần chuẩn bị cho việc đón nhận Đức Kitô
Trong Nhiệm cục bí tích, Chúa Thánh Thần
hoàn tất các hình bóng của Cựu Uớc. Bởi
vì Hội Thánh của Đức Kitô đã được chuẩn
bị cách kỳ diệu trong lịch sử dân Israel và trong
Cựu Ước, nên phụng vụ của Hội Thánh giữ
lại một số yếu tố của phụng tự
Cựu Ước, xét như một phần không thể thiếu
và không thể thay thế, coi đó là của mình:
– Chủ yếu là việc đọc Cựu Ước;
– Lời cầu nguyện của các Thánh vịnh;
– và nhất là tưởng nhớ các biến cố cứu độ
và những thực tại đầy ý nghĩa đã được
hoàn tất trong mầu nhiệm của Đức Kitô (Lời Hứa và Giao Ước, Xuất Hành và Vượt Qua,
Vương Quốc và Đền Thờ, Lưu Đày và Hồi Hương). [Back]
1094
Chính trên sự hoà hợp này giữa hai Giao Ước, mà giáo lý về cuộc Vượt Qua của Chúa được xây dựng, rồi đến giáo lý của các Tông Đồ và của các Giáo phụ. Giáo lý này khai mở những điều còn bị che giấu trong văn tự của Cựu Ước: đó là mầu nhiệm của Đức Kitô. Cách giải thích này được gọi là tiên trưng, vì nó cho thấy sự mới mẻ của Đức Kitô khởi từ những hình bóng loan báo về Người qua các sự kiện, lời nói và biểu tượng của Giao ước cũ. Nhờ việc đọc lại Cựu Ước trong Thánh Thần chân lý khởi đi từ Đức Kitô, các hình bóng được biểu lộ ra. Chẳng hạn, cơn lụt hồng thủy và con tàu ông Nôê là hình bóng báo trước ơn cứu độ nhờ bí tích Rửa Tội; cột mây và việc vượt qua Biển Đỏ cũng cùng ý nghĩa đó; nước từ tảng đá là hình bóng các hồng ân thiêng liêng của Đức Kitô; manna trong hoang địa là hình bóng tiên báo Thánh Thể, “Bánh bởi trời, bánh đích thực” (Ga 6,32). [Back]
1095
Vì vậy, đặc biệt trong mùa Vọng, mùa Chay và nhất là đêm Canh thức Vượt Qua, Hội Thánh đọc lại và sống trở lại tất cả các biến cố lớn lao đó của lịch sử cứu độ trong “ngày hôm nay” của phụng vụ của mình. Nhưng điều đó cũng đòi hỏi việc dạy giáo lý phải giúp các tín hữu mở rộng tâm hồn để hiểu được ý nghĩa “thiêng liêng” ấy của Nhiệm cục cứu độ, đúng như phụng vụ của Hội Thánh bày tỏ và giúp chúng ta sống. [Back]
1096
Phụng vụ Do thái và Phụng vụ Kitô giáo. Việc hiểu biết rõ hơn về đức tin và đời sống tôn giáo của dân Do Thái, như họ tuyên xưng và sống cho đến nay, có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn một số khía cạnh của phụng vụ Kitô giáo. Đối với người Do thái cũng như với Kitô hữu, Kinh Thánh là phần cốt yếu của cả hai nền phụng vụ: công bố Lời Chúa, đáp lại Lời Chúa, kinh nguyện ca ngợi và chuyển cầu cho người sống và kẻ chết, sự khẩn cầu lòng thương xót Chúa. Phụng vụ Lời Chúa, trong cơ cấu đặc trưng của nó, bắt nguồn từ phụng vụ Do thái. Các Giờ Kinh phụng vụ cũng như các bản văn và công thức phụng vụ khác, cũng song song với phụng vụ Do thái, kể cả các kinh nguyện đáng kính nhất của chúng ta, như kinh “Lạy Cha”. Các Kinh nguyện Thánh Thể cũng được cảm hứng từ những kiểu mẫu của truyền thống Do thái. Liên hệ giữa phụng vụ Do thái và phụng vụ Kitô giáo, kể cả những khác biệt trong nội dung, có thể thấy rõ cách đặc biệt trong các ngày lễ lớn của Năm phụng vụ, như lễ Vượt Qua. Các Kitô hữu và người Do thái cùng cử hành lễ Vượt Qua: đối với người Do Thái đó là lễ Vượt Qua của lịch sử hướng tới tương lai; còn đối với các Kitô hữu, lễ Vượt Qua đã được hoàn thành trong sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, tuy vẫn luôn trông đợi sự hoàn tất chung cuộc. [Back]
1097
Trong phụng vụ của Giao Ước Mới, mọi hoạt động phụng vụ, đặc biệt việc cử hành thánh lễ và các bí tích, đều là cuộc gặp gỡ giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Cộng đoàn phụng vụ được hợp nhất nhờ ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, Đấng quy tụ các con cái Thiên Chúa trong Thân Thể duy nhất của Đức Kitô. Cộng đoàn này vượt trên các mối liên hệ phàm nhân, chủng tộc, văn hóa và xã hội. [Back]
1098
Cộng đoàn phải chuẩn bị để gặp gỡ Chúa mình, sao cho là một dân đã hoàn toàn sẵn sàng. Việc chuẩn bị các tâm hồn như vậy là công việc chung của Chúa Thánh Thần và của cộng đoàn, đặc biệt là của các thừa tác viên của cộng đoàn. Ân sủng của Chúa Thánh Thần tìm cách khơi dậy đức tin, sự hối cải tâm hồn và sự đồng thuận theo thánh ý Chúa Cha. Phải có những chuẩn bị này để có thể đón nhận những ân sủng khác được truyền thông trong chính việc cử hành, và các hoa trái của cuộc sống mới mà việc cử hành nhắm sản sinh ra sau đó. [Back]
1099
Chúa Thánh Thần nhắc nhớ mầu nhiệm Đức Kitô
Chúa Thánh Thần và Hội Thánh cùng cộng tác để Đức Kitô và công trình cứu độ của Người được biểu lộ trong phụng vụ. Đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, và một cách tương tự trong các bí tích khác, phụng vụ là Sự Tưởng niệm mầu nhiệm cứu độ. Chúa Thánh Thần là ký ức sống động của Hội Thánh. [Back]
1100
Lời Chúa. Trước hết, Chúa Thánh Thần gợi cho cộng đoàn phụng vụ nhớ lại ý nghĩa của biến cố cứu độ khi Ngài ban sức sống cho Lời Chúa đang được loan báo, để chúng ta có thể đón nhận và sống Lời Chúa: Trong cử hành phụng vụ, Thánh Kinh là hết sức quan trọng. Thật vậy, những bài trích từ Thánh Kinh được đọc lên, rồi được giải thích trong bài giảng, những Thánh vịnh trong Thánh Kinh được hát lên; và do sự gợi hứng và thúc đẩy của Thánh Kinh mà những lời kinh, lời nguyện và các bài phụng ca tuôn trào; và cũng từ Thánh Kinh mà các hành động cũng như các dấu chỉ có được ý nghĩa của chúng. [Back]
1101
Chúa Thánh Thần ban cho người đọc cũng như người nghe, tuỳ theo việc họ chuẩn bị tâm hồn, sự hiểu biết thiêng liêng về Lời Chúa. Qua các lời, các hành động và các biểu tượng, dệt thành việc cử hành, Chúa Thánh Thần đưa các tín hữu và các thừa tác viên vào trong tương quan sống động với Đức Kitô, là Lời và Hình Ảnh của Chúa Cha, để họ có thể làm sao cho ý nghĩa của các điều họ nghe, họ chiêm ngắm và họ hành động trong cuộc cử hành, được đưa vào trong đời sống của họ. [Back]
1102
Chính Lời của ơn cứu độ nuôi dưỡng đức tin trong tâm hồn các tín hữu; nhờ đức tin đó mà cộng đoàn các tín hữu khởi đầu và lớn lên. Việc loan báo Lời Chúa không dừng lại nơi một lời giảng dạy nào đó: nó đòi hỏi sự đáp lại của đức tin, xét như một ưng thuận và dấn thân, để có một Giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài. Chúa Thánh Thần còn ban ơn đức tin, củng cố và làm tăng trưởng đức tin trong cộng đoàn. Cộng đoàn phụng vụ trước hết là sự hiệp thông trong đức tin. [Back]
1103
Kinh Tưởng niệm (Anamnesis). Việc cử hành phụng vụ luôn quy chiếu về những lần can thiệp cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử. Nhiệm cục mạc khải này được thực hiện bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, theo nghĩa là các lời công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó. Trong phụng vụ Lời Chúa, Chúa Thánh Thần nhắc cho cộng đoàn nhớ tất cả những gì Đức Kitô đã làm cho chúng ta. Theo bản chất của các hành động phụng vụ và theo các truyền thống nghi lễ của các Giáo hội, việc cử hành nhắc nhớ lại kỳ công của Thiên Chúa trong phần Tưởng niệm (Anamnesis) được triển khai dài hay ngắn. Chúa Thánh Thần, Đấng nhắc cho Hội Thánh nhớ lại như vậy, cũng thúc giục Hội Thánh tạ ơn và ca ngợi (Doxologia). [Back]
1104
Chúa Thánh Thần hiện tại hóa mầu nhiệm Đức Kitô
Phụng vụ Kitô giáo không những gợi nhớ các biến cố đã giải thoát chúng ta, mà còn làm cho các biến cố đó hiện diện và tác động trong hiện tại. Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô được cử hành, chứ không phải được tái diễn; chỉ có các cuộc cử hành là được tái diễn; trong mỗi lần cử hành đều có sự tuôn đổ Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho mầu nhiệm duy nhất được hiện tại hoá. [Back]
1105
Kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis – khẩn cầu-trên) là lời khẩn cầu của vị tư tế nài xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần, Đấng Thánh Hóa đến, để các lễ vật trở thành Mình và Máu Đức Kitô, và khi lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, chính các tín hữu cũng trở thành lễ vật sống động dâng lên Thiên Chúa. [Back]
1106
Cùng với kinh Tưởng Niệm (Anamnesis), kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) nằm ở trung tâm mỗi cuộc cử hành bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể: Bạn hỏi: làm thế nào Bánh trở nên Mình Đức Kitô và Rượu trở nên Máu Đức Kitô? Tôi xin thưa với bạn: Chúa Thánh Thần ngự đến và thực hiện những điều đó, những điều vượt trên mọi lời nói và mọi tư tưởng. Bạn chỉ cần nghe biết đó là bởi Chúa Thánh Thần; cũng như do Mẹ Thiên Chúa và bởi Chúa Thánh Thần, Chúa đã nhận lấy xác phàm cho Người và nơi chính mình Người. [Back]
1107
Quyền năng biến đổi của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ làm cho Nước Chúa mau đến và mầu nhiệm cứu độ chóng hoàn tất. Trong việc chờ đợi và trong niềm hy vọng, Ngài thật sự làm cho chúng ta được tham dự trước vào sự hiệp thông sung mãn của Thiên Chúa Ba Ngôi. Được Chúa Cha, Đấng nhận lời khẩn cầu của Hội Thánh, sai đến, Chúa Thánh Thần ban sự sống cho những ai đón nhận Ngài và ngay từ bây giờ, đối với những kẻ ấy, Ngài là bảo chứng phần gia nghiệp của họ. [Back]
1108
Ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần
Mục đích của sứ vụ Chúa Thánh Thần trong mọi hoạt động phụng vụ là để chúng ta được hiệp thông với Đức Kitô để làm nên Thân Thể Người. Chúa Thánh Thần như nhựa sống trong cây nho của Chúa Cha, mang lại hoa trái nơi các ngành nho. Trong phụng vụ, sự cộng tác mật thiết giữa Chúa Thánh Thần và Hội Thánh được thực hiện. Chính Ngài, Thần Khí của sự hiệp thông, luôn hiện diện trong Hội Thánh, và do đó, Hội Thánh là bí tích lớn của sự hiệp thông của Thiên Chúa, một bí tích quy tụ các con cái Thiên Chúa còn đang tản mác. Hoa trái của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ là, một cách không thể tách rời, sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh và sự hiệp thông huynh đệ. [Back]
1109
Kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) cũng là lời nguyện xin cho cộng đoàn được hiệp thông trọn vẹn trong mầu nhiệm Đức Kitô. “Ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” (2 Cr 13,13) phải luôn ở với chúng ta và đem lại hiệu quả vượt ra ngoài lúc cử hành thánh lễ. Vì vậy, Hội Thánh cầu xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến để Ngài làm cho đời sống các tín hữu trở thành của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa, nhờ sự biến đổi thiêng liêng theo hình ảnh Đức Kitô, nhờ chăm lo cho sự hợp nhất của Hội Thánh và nhờ tham dự vào sứ vụ của Hội Thánh bằng việc làm chứng và phục vụ bác ái. [Back]
Tóm lược
Trong phụng vụ của Hội Thánh, Chúa Cha được chúc tụng và tôn thờ với tư cách là nguồn mạch mọi chúc lành trong công trình tạo dựng và cứu độ; qua đó Ngài đã chúc lành cho chúng ta trong Con của Ngài để ban Thần Khí nghĩa tử cho chúng ta. [Back]
1111
Công trình của Đức Kitô trong phụng vụ mang tính bí tích bởi vì mầu nhiệm cứu độ của Người được quyền năng Chúa Thánh Thần làm cho hiện diện; bởi vì Thân Thể của Người là Hội Thánh cũng là bí tích (dấu chỉ và dụng cụ) nhờ đó Chúa Thánh Thần ban phát mầu nhiệm cứu độ; và bởi vì Hội Thánh lữ hành, qua các hành động phụng vụ của mình, được tham dự như nếm trước Phụng vụ thiên quốc. [Back]
1112
Sứ vụ của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ của Hội Thánh là chuẩn bị cho cộng đoàn gặp gỡ Đức Kitô; là nhắc nhớ và làm tỏ hiện Đức Kitô cho đức tin của cộng đoàn; là, nhờ quyền năng biến đổi của Ngài, làm cho công trình cứu độ của Đức Kitô hiện diện và tác động trong hiện tại, và làm cho hồng ân hiệp thông được sinh hoa kết quả trong Hội Thánh. [Back]
Mầu nhiệm Vượt Qua trong các bí
tích của Hội Thánh
Toàn bộ đời sống
phụng vụ của Hội Thánh xoay quanh Hy tế Thánh Thể
và các bí tích. Trong Hội Thánh có bảy bí tích: Rửa Tội,
Thêm Sức hay Xức Dầu Thánh, Thánh Thể, Thống Hối,
Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối.
Trong mục này, sẽ bàn đến đặc tính chung về tín
lý của bảy bí tích của Hội Thánh. Những đặc
tính chung về việc cử hành sẽ được trình
bày ở chương II, và những điểm đặc thù của từng
bí tích sẽ được trình bày ở đoạn II. [Back]
1114
Các bí tích của Đức Kitô
Dựa vào giáo lý của các Sách
Thánh, vào các truyền thống Tông Đồ và sự đồng
tâm nhất trí của các Giáo phụ, chúng tôi tuyên xưng rằng
tất cả các bí tích của Luật Mới đều do Đức
Giêsu Kitô Chúa chúng ta thiết lập. [Back]
1115
Những lời nói và hành động của Chúa
Giêsu, trong quãng đời ẩn dật cũng như trong thừa
tác vụ công khai của Người, đều có tính chất cứu
độ. Chúng tham dự trước vào quyền năng của mầu
nhiệm Vượt Qua của Người. Chúng loan báo và chuẩn
bị những gì Người sẽ ban cho Hội Thánh khi
mọi sự được hoàn tất. Các mầu nhiệm của
cuộc đời Đức Kitô là nền tảng cho những
gì Người ban phát trong các bí tích nhờ các thừa tác
viên của Hội Thánh Người, bởi vì “điều hữu
hình nơi Đấng cứu độ chúng ta được chuyển
vào trong các bí tích. [Back]
1116
Là những năng lực phát ra từ thân thể Đức Kitô, Đấng hằng sống và ban sự sống, là những hành động của Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trong thân thể Đức Kitô là Hội Thánh, các bí tích là “những kỳ công của Thiên Chúa” trong Giao Ước mới và vĩnh cửu. [Back]
Các bí tích của Hội Thánh
Nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn đưa Hội Thánh vào “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13), Hội Thánh dần dần nhận ra kho tàng này mà mình đã lãnh nhận từ Đức Kitô và xác định việc ban phát kho tàng ấy, cũng như Hội Thánh đã làm với Thư Quy các Sách Thánh và giáo lý đức tin, với tư cách là người quản lý trung tín các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì vậy, theo dòng thời gian, Hội Thánh xác định trong số các cử hành phụng vụ của mình, có bảy cử hành là những bí tích, theo nghĩa hẹp của từ này, do Chúa thiết lập. [Back]
1118
Các bí tích là của Hội Thánh theo hai nghĩa: chúng là do Hội Thánh và cho Hội Thánh. Các bí tích là do Hội Thánh bởi vì Hội Thánh là bí tích của hành động của Đức Kitô Đấng đang hoạt động trong Hội Thánh nhờ sứ vụ của Chúa Thánh Thần. Và các bí tích là cho Hội Thánh, nhờ chúng mà Hội Thánh được xây dựng bởi vì chúng biểu lộ và truyền thông cho con người, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, mầu nhiệm của sự hiệp thông của Thiên Chúa-Tình Yêu, Đấng là Một Chúa Ba Ngôi. [Back]
1119
Hội Thánh, cùng với Đức Kitô là Đầu
làm nên như một con người mầu nhiệm, hành động
trong các bí tích với tư cách là cộng đoàn tư tế có tổ
chức. Nhờ bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, dân tư tế
có khả năng cử hành phụng vụ; ngoài ra, có một số
Kitô hữu, được lãnh nhận bí tích Truyền Chức
Thánh, được thiết đặt nhân danh Đức Kitô để chăn
dắt Hội Thánh bằng lời và ân sủng của Thiên
Chúa. [Back]
1120
Thừa tác vụ có chức thánh hay chức tư tế thừa tác là để phục vụ chức tư tế do bí tích Rửa Tội. Chức tư tế thừa tác bảo đảm rằng trong các bí tích, chính Đức Kitô hành động nhờ Chúa Thánh Thần cho Hội Thánh. Sứ vụ cứu độ mà Chúa Cha ủy thác cho Chúa Con khi xuống thế làm người, được trao cho các Tông Đồ và qua các ngài cho những người kế nhiệm các ngài: những vị này lãnh nhận Thánh Thần của Chúa Giêsu để hành động nhân danh Người và trong cương vị của Người. Như vậy, thừa tác vụ có chức thánh là sợi dây mang tính bí tích nối kết hành động phụng vụ với những gì các Tông Đồ đã nói và đã làm, và qua các Tông Đồ, với những gì Đức Kitô, Đấng là nguồn mạch và nền tảng của các bí tích, đã nói và đã làm. [Back]
1121
Ba bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Truyền Chức Thánh, ngoài việc trao ban ân sủng, còn ban một dấu ấn bí tích hoặc ấn tín, nhờ đó, Kitô hữu được tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và là thành phần trong Hội Thánh theo những bậc sống và những phận vụ khác nhau. Việc đồng hình đồng dạng như vậy với Đức Kitô và với Hội Thánh, do Chúa Thánh Thần thực hiện, là không thể bị tẩy xóa, nhưng tồn tại mãi mãi trong Kitô hữu, với tính cách một sự chuẩn bị tích cực để đón nhận ân sủng, với tính cách một lời hứa và bảo chứng được Thiên Chúa che chở, và với tính cách một ơn gọi để phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ Hội Thánh. Vì vậy các bí tích này không bao giờ có thể được tái ban. [Back]
Các bí tích của Đức Tin
Đức Kitô đã sai các Tông Đồ của Người đi để “nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân… kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24,47). “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mt 28,19). Sứ vụ làm Phép Rửa, tức là sứ vụ bí tích, được bao hàm trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng, bởi vì bí tích được chuẩn bị bằng Lời Chúa và bằng đức tin, là sự ưng thuận vâng theo Lời đó: Dân Thiên Chúa được quy tụ trước tiên bằng Lời của Thiên Chúa hằng sống. Chính thừa tác vụ bí tích đòi phải có việc rao giảng Lời Chúa, bởi vì các bí tích là bí tích của đức tin, một đức tin được sinh ra và được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa. [Back]
1123
Các bí tích có mục đích thánh hóa con người, xây
dựng thân thể Đức Kitô và sau cùng là thờ phượng
Thiên Chúa; là những dấu chỉ, chúng còn có mục
đích giáo huấn nữa. Các bí tích không những giả thiết
phải có đức tin trước, mà chúng còn nuôi dưỡng,
củng cố và diễn tả đức tin bằng các lời
đọc và các nghi thức; bởi vậy, chúng được gọi
là các bí tích của đức tin. [Back]
1124
Đức tin của Hội Thánh có trước đức
tin của tín hữu, là người được mời gọi gắn
bó với đức tin của Hội Thánh. Khi cử hành các bí
tích, Hội Thánh tuyên xưng đức tin đã lãnh nhận
từ các Tông Đồ. Từ đó có câu thành ngữ cổ: Lex
orandi, lex credendi, nghĩa là Luật cầu nguyện, luật
đức tin (hay như lời Ông Prospêrô Aquitanô, vào thế kỷ
thứ 5: Legem credendi lex statuat supplicandi, nghĩa là Luật của
việc khẩn cầu ấn định luật của đức
tin). Luật của việc cầu nguyện là luật của
đức tin. Hội Thánh tin như Hội Thánh cầu nguyện.
Phụng vụ là yếu tố cấu thành của Truyền
Thống thánh thiện và sống động. [Back]
1125
Vì vậy, không một nghi thức bí tích nào có thể được sửa đổi hay tuỳ tiện thêm bớt theo sở thích của thừa tác viên hay cộng đoàn. Chính thẩm quyền tối cao của Hội Thánh cũng không thể thay đổi phụng vụ theo sở thích của mình, nhưng chỉ được làm vậy trong sự vâng phục đức tin và tôn kính cách đạo hạnh mầu nhiệm của phụng vụ. [Back]
1126
Ngoài ra, bởi vì các bí tích diễn tả
và phát huy sự hiệp thông đức tin trong Hội Thánh, nên
luật cầu nguyện (lex orandi) là một trong những
tiêu chuẩn cốt yếu của việc đối thoại
nhằm tái lập sự hợp nhất các Kitô hữu. [Back]
Các bí tích của ơn Cứu Độ
Khi được cử hành cách xứng đáng trong đức tin, các bí tích ban ân sủng mà chúng biểu lộ. Các bí tích đều hữu hiệu, bởi vì chính Đức Kitô hành động trong chúng: chính Người là Đấng rửa tội, chính Người là Đấng hành động trong các bí tích của Người để truyền thông ân sủng mà bí tích biểu lộ. Chúa Cha luôn nhận lời cầu nguyện của Hội Thánh của Con Ngài, vì trong kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) của mỗi bí tích, Hội Thánh biểu lộ đức tin của mình vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. Cũng như lửa biến đổi mọi thứ nó chạm tới thành lửa, Chúa Thánh Thần cũng biến đổi những gì được trao phó cho quyền năng của Ngài thành sự sống thần linh. [Back]
1128
Đây là ý nghĩa của điều Hội Thánh khẳng định: các bí tích hữu hiệu “do sự” - ex opere operato – (do chính hành động bí tích được thực hiện) nghĩa là chúng hữu hiệu nhờ công trình cứu độ của Đức Kitô đã được hoàn thành một lần cho mãi mãi. Từ đó, có hệ luận này là: Bí tích không mang lại hiệu quả nhờ sự công chính của người trao ban hay người lãnh nhận, nhưng nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Khi một bí tích được cử hành theo đúng ý hướng của Hội Thánh, thì quyền năng của Đức Kitô và của Thần Khí Người hành động trong và qua bí tích ấy, chứ không lệ thuộc vào sự thánh thiện bản thân của thừa tác viên. Tuy nhiên, các hoa trái của các bí tích cũng tuỳ thuộc vào sự chuẩn bị nội tâm của người lãnh nhận. [Back]
1129
Hội Thánh khẳng định rằng, đối
với các tín hữu, các bí tích của Giao Ước Mới là
cần thiết cho ơn cứu độ. Ân sủng bí tích là ân sủng
của Chúa Thánh Thần được Đức Kitô ban cho riêng từng
bí tích. Chúa Thánh Thần chữa lành và biến đổi những
ai đón nhận Ngài bằng cách làm cho họ nên đồng
hình đồng dạng với Con Thiên Chúa. Hoa trái của
đời sống bí tích là, Thần Khí của ơn làm nghĩa tử
làm cho các tín hữu được tham dự bản tính Thiên Chúa bằng
cách kết hợp họ một cách sống động với
Người Con duy nhất, là Đấng Cứu Độ. [Back]
Các bí tích của đời sống vĩnh cữu
Hội Thánh cử hành mầu nhiệm của Chúa mình “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26), lúc “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). Ngay từ thời các Tông Đồ, phụng vụ đã được hướng đến cùng đích của mình qua lời rên xiết của Thần Khí trong Hội Thánh: “Marana tha! – Lạy Chúa, xin ngự đến!” (1 Cr 16,22). Như thế, Phụng vụ chia sẻ nỗi khát khao của Chúa Giêsu: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em... cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa” (Lc 22, 15.16). Trong các bí tích của Đức Kitô, Hội Thánh đã nhận được bảo chứng gia tài của mình, đã được dự phần vào đời sống vĩnh cửu, đang khi “trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2,13). “Thần Khí và Tân Nương nói: Xin Ngài ngự đến. Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22, 17.20).
Thánh Tôma tóm lược các chiều kích khác nhau của dấu chỉ bí tích như sau: “Bí tích là dấu chỉ nhắc nhớ điều đã xẩy ra trước nó, tức là cuộc khổ nạn của Đức Kitô; là dấu chỉ cho thấy điều được thực hiện nơi chúng ta nhờ cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tức là ân sủng; là dấu chỉ tiên báo, tức là báo trước vinh quang tương lai.” [Back]
1131
Tóm lược
Các bí tích là những dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, do Đức Kitô thiết lập và ủy thác cho Hội Thánh; qua các bí tích, sự sống thần linh được trao ban cho chúng ta. Các nghi thức khả giác được dùng để cử hành bí tích, biểu thị và thực hiện ân sủng riêng của từng bí tích. Các bí tích mang lại hoa trái nơi những người lãnh nhận có sự chuẩn bị nội tâm cần thiết. [Back]
1132
Hội Thánh cử hành các bí tích với tư cách là một cộng đoàn tư tế có tổ chức, gồm chức tư tế do bí tích Rửa Tội, và chức tư tế của các thừa tác viên có chức thánh. [Back]
1133
Chúa Thánh Thần chuẩn bị cho các bí tích bằng Lời Chúa và bằng đức tin đón nhận Lời Chúa nơi những tâm hồn đã chuẩn bị tốt. Lúc đó các bí tích củng cố và diễn tả đức tin. [Back]
1134
Đời sống bí tích đem lại hoa trái vừa cho cá nhân vừa cho Hội Thánh. Một đàng, đối với mọi tín hữu, hoa trái này là đời sống cho Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô; đàng khác, đối với Hội Thánh, hoa trái này là sự tăng trưởng trong đức mến và trong sứ vụ làm chứng của Hội Thánh. [Back]
Cử hành mầu nhiệm vượt qua trong các bí
tích
Việc dạy giáo lý về phụng
vụ đòi hỏi trước hết phải hiểu biết
Nhiệm cục bí tích (Chương một). Dưới ánh sáng đó, tính
chất mới mẻ của việc cử hành các bí tích được
tỏ hiện. Vì vậy, chương này sẽ bàn đến việc
cử hành các bí tích của Hội Thánh. Chúng ta sẽ
trình bày điểm chung của việc cử hành bảy
bí tích trong các truyền thống phụng vụ khác nhau; sau
đó sẽ là điểm đặc thù của từng bí tích. Việc
dạy giáo lý căn bản về các cử hành bí tích sẽ
trả lời những câu hỏi đầu tiên mà các tín hữu
đặt ra về vấn đề này:
– Ai cử hành?
– Cử hành như thế nào?
– Cử hành khi nào?
– Cử hành ở đâu? [Back]
1136
Cử hành phụng vụ của Hội
Thánh
Ai cử hành
Phụng vụ là hành động của Đức Kitô toàn thể (Christus totus). Những ai giờ đây cử hành phụng vụ vượt quá các dấu chỉ, là những người đang ở trong phụng vụ thiên quốc, ở đó, việc cử hành hoàn toàn là hiệp thông và lễ hội. [Back]
1137
Những người cử hành phụng vụ thiên quốc
Sách Khải Huyền của thánh Gioan, được đọc trong phụng vụ của Hội Thánh, trước tiên cho chúng ta thấy một cái ngai được đặt trên trời; và Đấng ngự trên ngai: đó là “Chúa” (Is 6,1). Rồi đến “Một Con Chiên trông như thể đã bị giết” (Kh 5,6): đó là Đức Kitô bị đóng đinh và đã sống lại, là vị Thượng Tế duy nhất của cung thánh đích thực, chính Người vừa là người dâng vừa là lễ vật được dâng lên, vừa là người tặng vừa là quà được hiến tặng. “Cuối cùng là con sông có nước trường sinh, chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và của Con Chiên” (Kh 22,1), đó là một trong những biểu tượng đẹp nhất về Chúa Thánh Thần. [Back]
1138
Những ai được quy tụ trong Đức Kitô tham dự vào việc phục vụ là ca ngợi Thiên Chúa và việc chu toàn kế hoạch của Ngài là: các Quyền thần trên trời, toàn thể thụ tạo (tượng trưng bằng bốn Con vật), các thừa tác viên thời Cựu và Tân Ước (24 Kỳ mục), dân mới của Thiên Chúa (144 ngàn người), đặc biệt là các vị tử đạo “những người đã bị giết vì đã rao giảng lời Thiên Chúa” (Kh 6,9), và Mẹ chí thánh của Thiên Chúa (Người Phụ nữ; Hiền thê của Con Chiên), cuối cùng là “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước, và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9). [Back]
1139
Chúa Thánh Thần và Hội Thánh cho chúng ta được tham dự vào Phụng vụ vĩnh cửu này, khi chúng ta cử hành mầu nhiệm cứu độ trong các bí tích. [Back]
1140
Những người cử hành phụng vụ bí tích
Toàn thể Cộng đoàn, Thân Thể của Đức Kitô kết hợp với Đầu của mình, cử hành phụng vụ. Các hoạt động phụng vụ không phải là những hoạt động riêng tư, nhưng là những cử hành của Hội Thánh, là ‘bí tích của sự hợp nhất’, nghĩa là dân thánh được quy tụ và điều hành dưới quyền các Giám mục. Vì vậy, các cử hành đó thuộc về thân thể phổ quát của Hội Thánh, chúng làm tỏ hiện và ảnh hưởng đến toàn thân thể; tuy nhiên các cử hành đó cũng liên quan đến từng chi thể theo những cách khác nhau, tùy theo sự khác biệt về phẩm trật, phận vụ và sự tham dự hiện thực. Vì vậy, mỗi khi các nghi thức, theo bản chất riêng của từng nghi thức, được cử hành chung, với sự tham dự đông đảo và tích cực của các tín hữu, thì phải nhấn mạnh rằng việc cử hành chung như vậy, bao nhiêu có thể, phải được quý chuộng hơn việc cử hành các nghi thức đó một cách đơn độc và có vẻ riêng tư. [Back]
1141
Cộng đoàn cử hành phụng vụ là cộng đoàn của những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, nhờ sự tái sinh và sự xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, họ được thánh hiến để trở thành ngôi nhà thiêng liêng và hàng tư tế thánh, để dâng lên những của lễ thiêng liêng qua tất cả các công việc của Kitô hữu. Chức tư tế cộng đồng này là chức tư tế của Đức Kitô, vị Tư Tế duy nhất, mà tất cả các chi thể của Người đều được tham dự vào: Mẹ Hội Thánh tha thiết ước mong mọi tín hữu đều được hướng dẫn tham dự các việc cử hành phụng vụ cách đầy đủ, ý thức và tích cực. Việc tham dự như vậy do chính bản chất phụng vụ đòi hỏi, và dân Kitô giáo, ‘là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa’ (1 Pr 2,9), do bí tích Rửa Tội, có quyền lợi và nhiệm vụ trong việc tham dự như vậy. [Back]
1142
“Nhưng mọi chi thể không có cùng một chức năng” (Rm 12,4). Một số chi thể đã được Thiên Chúa kêu gọi, trong và qua Hội Thánh, để đặc biệt phục vụ cộng đoàn. Những thừa tác viên này được tuyển chọn và được thánh hiến nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, qua đó, Chúa Thánh Thần làm cho họ có khả năng hành động trong cương vị của Đức Kitô là Đầu (in persona Christi-Capitis) để phục vụ mọi chi thể của Hội Thánh. Thừa tác viên có chức thánh là như họa ảnh của Đức Kitô Tư Tế. Bởi vì, trong bí tích Thánh Thể, bí tích của Hội Thánh được biểu lộ cách đầy đủ, nên thừa tác vụ giám mục nổi bật nhất trong việc chủ sự Thánh Lễ, và hiệp thông với ngài, là thừa tác vụ linh mục và phó tế. [Back]
1143
Để giúp các phận vụ của chức
tư tế cộng đồng của các tín hữu, còn có những
tác vụ đặc biệt khác, không được thánh hiến nhờ
bí tích Truyền Chức Thánh, và nhiệm vụ của những
tác vụ này được các Giám mục quy định theo các truyền
thống phụng vụ và các nhu cầu mục vụ. Cả
những người giúp lễ, đọc sách, dẫn giải và
các ca viên, cũng thật sự đảm nhận một tác vụ
phụng vụ. [Back]
1144
Như vậy, trong việc cử hành các bí tích,
toàn thể cộng đoàn đều là người cử hành phụng
vụ, mỗi người tùy theo phận vụ của
mình, nhưng “rong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần,
Đấng hoạt động trong mọi người. “Trong các cử
hành phụng vụ, thừa tác viên hay tín hữu, mỗi người
theo phận vụ của mình, chỉ làm và làm trọn
vẹn những gì thuộc phận vụ của
mình theo bản chất của sự việc và các quy
tắc phụng vụ. [Back]
Cử hành thế nào?
Các dấu chỉ và biểu tượng
Việc cử hành
bí tích được dệt bằng các dấu chỉ và các biểu
tượng. Theo đường lối sư phạm của Thiên Chúa
trong việc cứu độ, ý nghĩa của các dấu
chỉ và các biểu tượng được bén rễ trong công
trình tạo dựng và trong văn hoá nhân loại, được
xác định trong các biến cố của Giao Ước cũ,
và được bày tỏ cách đầy đủ trong con người và
công trình của Đức Kitô. [Back]
1146
Những dấu chỉ của thế giới loài người. Trong đời sống con người, các dấu chỉ và các biểu tượng chiếm một vị trí quan trọng. Con người, một hữu thể vừa thể xác vừa tinh thần, diễn tả và cảm nhận các thực tại tinh thần nhờ các dấu chỉ và các biểu tượng vật chất. Với tính cách là một hữu thể có tính xã hội, con người cần các dấu chỉ và các biểu tượng để giao tiếp với tha nhân nhờ ngôn ngữ, các cử chỉ, các hành động. Về tương quan của con người với Thiên Chúa cũng thế. [Back]
1147
Thiên Chúa nói với con người qua thụ tạo hữu hình. Vũ trụ vật chất được phô diễn trước trí tuệ con người, để họ đọc được nơi vũ trụ các dấu vết của Đấng Tạo Hoá của họ. Ánh sáng và đêm tối, gió và lửa, nước và đất, cây cối và hoa trái đều nói về Thiên Chúa; chúng nói lên một cách biểu tượng cả sự cao cả lẫn sự gần gũi của Ngài. [Back]
1148
Vì được Thiên Chúa tạo dựng, những thực tại khả giác này có thể trở thành phương tiện diễn tả hành động của Thiên Chúa, Đấng thánh hóa loài người, và diễn tả hành động của con người, những kẻ phụng thờ Thiên Chúa. Về các dấu chỉ và biểu tượng trong đời sống xã hội của con người cũng vậy: tắm rửa và xức dầu, bẻ bánh và chia sẻ một chén có thể diễn tả sự hiện diện tác thánh của Thiên Chúa và lòng tri ân của con người đối với Đấng Tạo Hoá của mình. [Back]
1149
Các tôn giáo lớn của nhân loại cho thấy rõ, một cách thường rất ấn tượng, ý nghĩa về vũ trụ và về các biểu tượng của các nghi thức tôn giáo. Phụng vụ của Hội Thánh đón nhận, hội nhập và thánh hoá các yếu tố của công trình tạo dựng và của văn hóa nhân loại, khi mang lại cho chúng phẩm tính là trở thành những dấu chỉ của ân sủng, của công cuộc tạo dựng mới trong Chúa Giêsu Kitô. [Back]
1150
Những dấu chỉ của Giao Ước. Dân Chúa chọn lãnh nhận từ Thiên Chúa những dấu chỉ và những biểu tượng đặc biệt phân biệt đời sống phụng vụ của họ: đây không chỉ là những cử hành long trọng các chu kỳ vũ trụ và các cử chỉ xã hội, nhưng còn là những dấu chỉ của Giao Ước, những biểu tượng của các kỳ công của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Trong số các dấu chỉ phụng vụ này của Giao Ước cũ, có thể kể việc cắt bì, việc xức dầu và việc thánh hiến các vua và các tư tế, việc đặt tay, các hy lễ, và nhất là lễ Vượt Qua. Hội Thánh coi các dấu chỉ đó như hình ảnh tiên báo các bí tích của Giao Ước mới. [Back]
1151
Những dấu chỉ được Đức Kitô sử dụng. Khi giảng dạy, Chúa Giêsu thường sử dụng những dấu chỉ của công trình tạo dựng để giúp nhận biết các mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa. Người chữa lành và minh hoạ lời giảng dạy của Người bằng những dấu chỉ vật chất hay những cử chỉ có tính biểu trưng. Người ban một ý nghĩa mới cho các sự kiện và các dấu chỉ của Giao Ước cũ, nhất là cho cuộc Xuất Hành và lễ Vượt Qua, bởi vì chính Người là ý nghĩa của tất cả các dấu chỉ đó. [Back]
1152
Các dấu chỉ bí tích. Từ sau Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần thực hiện việc thánh hóa qua các dấu chỉ bí tích của Hội Thánh của Ngài. Các bí tích của Hội Thánh không xóa bỏ, nhưng thanh luyện, đón nhận tất cả sự phong phú của các dấu chỉ và các biểu tượng của thế giới vật chất và đời sống xã hội. Hơn nữa, các bí tích còn hoàn tất những tiên trưng và hình bóng của Giao Ước cũ, biểu thị và thực hiện ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại, và cho thấy trước cũng như cho nếm trước vinh quang thiên quốc. [Back]
1153
Các lời nói và các hành động
Việc cử hành bí tích là cuộc gặp gỡ của các con cái Thiên Chúa với Cha mình, trong Đức Kitô và Chúa Thánh Thần, và cuộc gặp gỡ này diễn ra như một cuộc đối thoại, qua các hành động và các lời nói. Tuy các hành động biểu tượng chính là một thứ ngôn ngữ, nhưng cần có Lời Chúa và lời đáp lại của đức tin đi kèm theo và làm sống động các hành động ấy, để hạt giống của Nước Chúa mang lại hoa trái nơi thửa đất tốt. Các hành động phụng vụ nói lên điều Lời Chúa diễn tả: đó là sáng kiến nhưng không của Thiên Chúa, đồng thời là lời đáp lại của đức tin của dân Ngài. [Back]
1154
Phụng vụ Lời Chúa là phần không thể thiếu trong các cử hành bí tích. Để nuôi dưỡng đức tin của các tín hữu, các dấu chỉ của Lời Chúa phải được đề cao: Sách Lời Chúa (sách Bài Đọc hay sách Tin Mừng), việc tôn kính Lời Chúa (rước kiệu, xông hương, ánh sáng), vị trí công bố Lời Chúa (giảng đài), việc tuyên đọc Lời Chúa cho dễ nghe dễ hiểu, bài giảng của thừa tác viên làm sáng tỏ Lời Chúa vừa được công bố, những lời đáp lại của cộng đoàn (những lời tung hô, các Thánh vịnh để suy niệm, các kinh cầu, việc tuyên xưng đức tin). [Back]
1155
Lời phụng vụ và hành động phụng vụ, không thể tách biệt nhau xét như những dấu chỉ và giáo huấn, cũng không thể tách biệt nhau xét như cả hai thực hiện điều chúng biểu thị. Chúa Thánh Thần không những giúp hiểu được Lời Chúa qua việc khơi dậy đức tin, chính Ngài còn thực hiện, qua các bí tích, những kỳ công của Thiên Chúa đã được Lời Chúa loan báo: Ngài làm cho hiện diện và truyền thông công trình của Chúa Cha đã được Con yêu dấu thực hiện. [Back]
1156
Bài ca và âm nhạc
Truyền thống âm nhạc của Hội Thánh phổ quát đã tạo nên một kho tàng vô giá, vượt trên các hình thức nghệ thuật khác, nhất là vì thánh ca gắn liền với các lời nói, nên đã trở thành một phần cần thiết hoặc không thể thiếu của phụng vụ trọng thể. Việc sáng tác và ca hát các Thánh vịnh được linh hứng, thường có các nhạc cụ phụ họa, đã gắn chặt với các cử hành phụng vụ của Cựu Ước. Hội Thánh tiếp tục và phát huy truyền thống này: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,19). “Hát là cầu nguyện hai lần.” [Back]
1157
Bài ca và âm nhạc chu toàn chức năng
làm dấu chỉ của mình một cách có ý nghĩa
hơn, “khi chúng liên kết chặt chẽ hơn với hành động
phụng vụ, theo ba tiêu chuẩn chính sau đây: vẻ đẹp
diễn cảm của lời cầu nguyện, sự đồng
thanh tham dự của cộng đoàn vào những lúc đã được
quy định, và tính cách long trọng của cuộc cử
hành. Như vậy, bài ca và âm nhạc dự phần vào mục
đích của các lời nói và các hành động phụng vụ:
đó là làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu: Bao lần
con đã rơi lệ khi nghe các thánh thi, thánh ca của Chúa, những
âm thanh dịu dàng vang lên trong thánh đường của Chúa, con
đã xúc động biết bao! Các âm thanh đó rót vào tai con, và
chân lý được tinh luyện trong trái tim con, từ đó niềm
hưng phấn đạo đức sục sôi lên và nước mắt
tuôn tràn, những điều đó làm cho con hạnh phúc. [Back]
1158
Sự hòa hợp của các dấu chỉ
(ca hát, âm nhạc, lời nói và hành động) sẽ càng có
ý nghĩa hơn và mang nhiều hoa trái hơn nếu càng được
diễn tả trong sự phong phú về văn hóa đặc thù của
dân Thiên Chúa đang cử hành.
Vì vậy, những bài thánh ca mang tính dân tộc phải
được cổ võ cách khéo léo, để giọng các tín hữu
có thể vang lên trong những buổi thực hành đạo đức
và linh thánh và trong chính các hành động phụng vụ theo các
quy tắc của Hội Thánh. Tuy nhiên lời ca trong các bài
thánh ca phải phù hợp với giáo lý Công giáo và tốt
nhất là nên được rút ra từ Thánh Kinh và từ các nguồn
mạch phụng vụ. [Back]
1159
Các ảnh tượng thánh
Ảnh tượng thánh, ảnh tượng phụng vụ, chủ yếu trình bày Đức Kitô. Ảnh tượng không thể trình bày Thiên Chúa vô hình và khôn tả; việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa đã mở đầu một “nhiệm cục” mới của các ảnh tượng: Xưa kia Thiên Chúa, Đấng không có thân xác và diện mạo, không bao giờ được trình bày bằng ảnh tượng. Nhưng nay, sau khi Người đã tự trở nên hữu hình trong xác phàm và sống giữa loài người, tôi có thể họa một hình ảnh về điều tôi thấy nơi Thiên Chúa. Vậy sau khi dung nhan được mạc khải, chúng ta chiêm ngắm vinh quang của Chúa. [Back]
1160
Nghệ thuật ảnh tượng Kitô giáo dùng hình ảnh để truyền đạt sứ điệp Tin Mừng, sứ điệp mà Sách Thánh lưu truyền bằng lời. Hình ảnh và lời nói làm sáng tỏ lẫn nhau: Chúng tôi tuyên bố cách vắn tắt rằng, chúng tôi gìn giữ nguyên vẹn mọi truyền thống hoặc thành văn, hoặc bất thành văn của Hội Thánh, đã được ký thác cho chúng tôi. Một trong những truyền thống này là việc sử dụng ảnh tượng, vốn phù hợp với việc rao giảng lịch sử Tin Mừng. Việc sử dụng ảnh tượng góp phần nói lên sự chắc chắn xác thực, chứ không phải chỉ là dáng vẻ, của việc Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, và góp phần mang lại lợi ích cho chúng tôi. Những gì soi sáng cho nhau, thì chắc chắn có những ý nghĩa hỗ tương. [Back]
1161
Tất cả các dấu chỉ của
việc cử hành phụng vụ đều quy hướng về
Đức Kitô: kể cả các ảnh tượng của Mẹ
Thiên Chúa và của các thánh. Thật vậy, các ảnh tượng
này nói về Đức Kitô, Đấng được tôn vinh nơi các ngài.
Các ảnh tượng này cho thấy “ngần ấy nhân chứng
đức tin như đám mây bao quanh” (Dt 12,1), các ngài đang tiếp tục tham dự
vào công trình cứu độ trần gian và chúng ta được
liên kết với các ngài, nhất là khi cử hành các bí tích.
Qua ảnh tượng của các ngài, điều được mạc
khải cho đức tin của chúng ta là, con người, được
tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, cuối cùng được
biến hình nên “giống như Thiên Chúa, và cả các Thiên
thần, là những vị đã được quy tụ lại
trong Đức Kitô:
Theo giáo huấn của các Thánh Giáo phụ được Thiên Chúa linh hứng, và theo truyền thống của Hội Thánh Công giáo (mà chúng ta biết rằng đó là truyền thống của Chúa Thánh Thần, Đấng chắc chắn đang ngự trong Hội Thánh), chúng tôi ấn định với tất cả sự chắc chắn và chính đáng rằng, cũng như hình tượng cây Thánh Giá quý trọng và ban sự sống, các ảnh tượng đáng kính và thánh thiện, hoặc được vẽ và lắp ghép, hoặc bằng những chất liệu thích hợp khác, phải được đặt trong các thánh đường của Thiên Chúa, trên các bình thánh và y phục thánh, trên các bức tường và các bức hoạ, trong nhà và trên các đường phố: đó là ảnh tượng của Chúa Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta, cũng như ảnh tượng của Đức Bà tinh tuyền, là Mẹ thánh của Thiên Chúa, ảnh tượng của các Thiên thần đáng kính, của tất cả các Thánh và những người công chính. [Back]
1162
Vẻ đẹp và màu sắc của các ảnh tượng kích thích việc cầu nguyện của tôi. Đó là một bữa tiệc làm no thoả mắt tôi, cũng như quang cảnh đồng quê kích thích trái tim tôi ca tụng Thiên Chúa. Việc chiêm ngắm các ảnh tượng thánh, cùng với việc suy niệm Lời Chúa và việc ca hát các thánh thi phụng vụ, sẽ tạo nên một sự hoà hợp các dấu chỉ trong cuộc cử hành, làm cho mầu nhiệm được cử hành in sâu vào tâm khảm các tín hữu, rồi được biểu lộ ra trong đời sống mới của họ. [Back]
Cử hành khi nào?
Thời gian phụng vụ
Hội Thánh là Mẹ hiền, ý thức mình có bổn
phận cử hành công trình cứu độ của Phu
Quân thần linh của mình, bằng một sự tưởng
niệm thánh thiêng, vào những ngày cố định trong suốt
cả năm. Mỗi tuần, vào ngày được gọi là ngày của
Chúa (Chúa nhật), Hội Thánh tưởng niệm cuộc phục
sinh của Chúa, điều mà mỗi năm một lần Hội
Thánh còn cử hành trong đại lễ Vượt Qua, cùng với
cuộc khổ hình hồng phúc của Người. Hội
Thánh trình bày toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô qua
chu kỳ một năm.
Khi cử hành các mầu nhiệm cứu chuộc như vậy,
Hội Thánh mở ra cho các tín hữu kho tàng quyền năng và
công nghiệp của Chúa mình, khiến các mầu nhiệm
này một cách nào đó luôn hiện diện trong mọi lúc; các
tín hữu tiếp xúc với các mầu nhiệm đó, và được
đầy tràn ơn cứu độ. [Back]
1164
Dân Thiên Chúa, theo luật Môisen, đã có những lễ mừng cố định khởi từ cuộc Vượt Qua để ghi nhớ những hành động kỳ diệu của Thiên Chúa Cứu độ, để tạ ơn Ngài vì những kỳ công đó, để nhớ mãi những kỳ công đó và để dạy cho các thế hệ sau sống xứng đáng với những kỳ công đó. Đến thời Hội Thánh, trong khoảng thời gian từ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, được thực hiện một lần cho mãi mãi, cho đến ngày cuộc Vượt Qua được hoàn tất trong Nước Thiên Chúa, phụng vụ được cử hành vào những ngày đã ấn định, được đóng ấn bằng tính cách mới mẻ của mầu nhiệm Đức Kitô. [Back]
1165
Khi Hội Thánh cử hành mầu nhiệm Đức Kitô, có một từ luôn được nhắc đến trong kinh nguyện của Hội Thánh: đó là từ Hôm nay, là âm vang Lời Kinh Chúa dạy, và âm vang tiếng gọi của Chúa Thánh Thần. Ngày hôm nay này của Thiên Chúa hằng sống mà con người được mời gọi bước vào, chính là Giờ của cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, Giờ đó xuyên suốt và hướng dẫn toàn bộ lịch sử: Sự sống được mở ra cho vạn vật và tất cả được đầy tràn ánh sáng vĩnh cửu, và Đấng là Vầng Đông của các vầng đông xâm chiếm vũ trụ: Đấng được sinh ra trước Sao Mai, bất tử và cao cả, là Đức Kitô chiếu soi vạn vật hơn cả mặt trời. Vì vậy, ngày bừng sáng, lâu dài, vĩnh cửu và không thể tàn lụi đã xuất hiện cho chúng ta là những kẻ tin vào Người: đó là cuộc Vượt Qua thần bí. [Back]
1166
Ngày của Chúa
Theo truyền thống
Tông Đồ bắt nguồn từ chính ngày Đức Kitô sống
lại, Hội Thánh cử hành mầu nhiệm Vượt Qua
vào mỗi ngày thứ tám, ngày thật xứng đáng được gọi
là ngày của Chúa hoặc Chúa Nhật. Ngày phục sinh của
Đức Kitô vừa là ngày thứ nhất trong tuần gợi
lại ngày đầu tiên của công trình tạo dựng,
vừa là ngày thứ tám, trong ngày đó Đức Kitô, sau khi an nghỉ
trong ngày sabat vĩ đại của Người, đã khởi
đầu ngày “Chúa đã làm ra” (Tv 118,24), ngày không có chiều tà. Bữa tiệc
của Chúa là trung tâm của ngày này, bởi vì trong đó,
toàn thể cộng đoàn các tín hữu được gặp Chúa phục
sinh, Đấng mời họ vào bàn tiệc của Người:
Ngày của Chúa, ngày Phục Sinh, ngày của các Kitô hữu, là ngày của chúng ta. Vì thế ngày này được gọi là ngày của Chúa, bởi vì trong ngày đó Chúa, là Đấng chiến thắng, lên với Chúa Cha. Nếu người ngoại giáo gọi ngày này là ngày của mặt trời, chúng ta cũng sẵn sàng công nhận như vậy: vì hôm nay, ánh sáng của trần gian đã mọc lên, hôm nay mặt trời công chính đã xuất hiện, các tia sáng của mặt trời này mang lại ơn chữa lành. [Back]
1167
Ngày Chúa Nhật đặc biệt là ngày họp mặt để cử hành phụng vụ, trong đó, các tín hữu quy tụ lại để, khi nghe Lời Chúa và tham dự bí tích Thánh Thể, họ kính nhớ cuộc khổ nạn, sự sống lại và vinh quang của Chúa Giêsu, đồng thời họ cảm tạ Thiên Chúa, Đấng đã tái sinh họ trong niềm hy vọng sống động, nhờ sự sống lại từ cõi chết của Chúa Giêsu Kitô:
Lạy Đức Kitô, khi chúng con suy ngắm những kỳ công vinh quang và những dấu chỉ lạ lùng được thực hiện trong ngày Chúa Nhật của cuộc phục sinh thánh và vinh hiển của Chúa, chúng con thốt lên: Chúc tụng ngày của Chúa, bởi vì trong ngày này công trình tạo dựng đã được khởi đầu, trần gian được cứu chuộc, nhân loại được canh tân. Trong ngày này, trời đất bừng sáng lên và cả trần gian ngập tràn ánh sáng. Chúc tụng ngày của Chúa, bởi vì trong ngày này các cửa thiên đàng được mở ra để ông Ađam và mọi kẻ bị lưu đày tiến vào đó mà không sợ hãi. [Back]
1168
Năm phụng
vụ
Khởi từ Tam Nhật Vượt Qua, như từ nguồn ánh
sáng của mình, thời đại mới của cuộc
phục sinh tuôn đổ sự rực rỡ của nó trên suốt
năm phụng vụ. Dần dần, nhờ hết phần
này đến phần khác của nguồn mạch này, trọn
cả năm được biến hình nhờ phụng vụ.
Đó quả thật là năm hồng ân của Chúa. Nhiệm cục
cứu độ hoạt động trong khung thời gian, nhưng từ
khi nhiệm cục đó được hoàn tất trong cuộc Vượt
Qua của Chúa Giêsu và trong việc tuôn ban Chúa Thánh Thần,
thì lúc tận cùng của lịch sử đã được
tiền dự như sự nếm trước và Nước Thiên Chúa
bước vào thời gian của chúng ta. [Back]
1169
Vì vậy, Lễ Phục Sinh không chỉ đơn giản là một ngày lễ giữa bao lễ khác: nó chính là Ngày Lễ của các ngày lễ, Lễ Trọng của các lễ trọng, cũng như Thánh Thể là bí tích của các bí tích (bí tích trọng đại). Thánh Athanasiô gọi lễ Phục Sinh là “Chúa Nhật vĩ đại”[49], cũng như Tuần Thánh được Giáo Hội Đông phương gọi là Tuần Lễ vĩ đại. Mầu nhiệm Phục Sinh, trong đó Đức Kitô tiêu diệt sự chết, thấm nhập vào thời gian già cỗi của chúng ta bằng sức mạnh đầy quyền năng của Người, cho đến khi mọi sự phải quy phục Người. [Back]
1170
Tại Công đồng Nicêa (năm 325), tất cả các Giáo Hội đồng ý mừng lễ Phục Sinh Kitô giáo vào Chúa Nhật sau ngày trăng tròn (14 tháng Nisan), sau ngày xuân phân. Vì có những phương pháp khác nhau để tính ngày 14 tháng Nisan, nên ngày mừng lễ Phục sinh trong các Giáo hội Đông phương và Tây phương đã không luôn trùng khớp với nhau. Vì vậy, ngày nay các Giáo Hội này đang tìm cách thỏa thuận để ngày đại lễ Phục sinh của Chúa lại có thể được mừng chung trong cùng một ngày. [Back]
1171
Năm phụng vụ là sự triển khai những khía cạnh khác nhau của mầu nhiệm Vượt Qua duy nhất. Điều này đặc biệt đúng cho chu kỳ các lễ xoay quanh mầu nhiệm Nhập Thể (Truyền Tin, Giáng Sinh, Hiển Linh), để tưởng niệm việc khởi đầu ơn cứu độ của chúng ta và truyền thông cho chúng ta những hoa trái đầu mùa của mầu nhiệm Vượt Qua. [Back]
1172
Việc kính các Thánh trong năm Phụng vụ
Trong khi cử hành các mầu nhiệm của Đức Kitô theo chu kỳ hằng năm, Hội Thánh tôn kính với một tình yêu đặc biệt Đức Maria diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa, Đấng được nối kết với Con mình trong công trình cứu độ bằng mối dây bất khả phân ly. Nơi Mẹ, Hội Thánh ngưỡng mộ và tán dương hoa trái tuyệt vời nhất của ơn cứu chuộc, và vui mừng chiêm ngắm nơi Mẹ như trong một hình ảnh rất tinh tuyền, mọi điều mà chính Hội Thánh ước mong và hy vọng trở thành. [Back]
1173
Trong chu kỳ hằng năm, khi kính nhớ các
Thánh tử đạo và các vị Thánh khác, Hội Thánh công bố
mầu nhiệm Vượt Qua nơi các người nam và người nữ
đó, là những vị đã cùng chịu đau khổ và cùng được
vinh hiển với Đức Kitô, và Hội Thánh trình bày
cho các tín hữu những mẫu gương của các ngài, để
lôi kéo tất cả đến với Chúa Cha nhờ Đức
Kitô, và nhờ công nghiệp của các ngài, Hội Thánh nhận
được những ơn lành của Thiên Chúa. [Back]
1174
Các Giờ Kinh phụng vụ
Mầu nhiệm của Đức Kitô, cuộc Nhập Thể và Vượt Qua của Người, mà chúng ta cử hành trong bí tích Thánh Thể, đặc biệt nơi cộng đoàn quy tụ ngày Chúa nhật, thấm nhập và biến đổi thời gian của từng ngày nhờ việc cử hành các Giờ Kinh phụng vụ, còn gọi là kinh Thần Vụ. Trung thành với những lời khuyên của các Tông Đồ là hãy cầu nguyện không ngừng, việc cử hành này đã được thiết lập để suốt cả ngày đêm được thánh hiến bằng việc ca ngợi Thiên Chúa. Các Giờ Kinh phụng vụ là kinh nguyện công khai của Hội Thánh, trong đó các tín hữu (giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân) thực thi chức tư tế vương giả của những người đã lãnh bí tích Rửa Tội. Khi được cử hành theo hình thức được Hội Thánh phê chuẩn, các Giờ Kinh phụng vụ “thật sự là tiếng của chính Hiền Thê nói với Phu Quân; thậm chí còn là lời cầu nguyện của Đức Kitô cùng với Thân thể Người dâng lên Chúa Cha. [Back]
1175
Các Giờ Kinh phụng vụ phải trở
thành kinh nguyện của toàn thể Dân Chúa. Trong các giờ
kinh đó, chính Đức Kitô tiếp tục thực thi phận vụ
tư tế qua Hội Thánh của Người; mỗi người, theo
phận vụ riêng biệt của mình trong Hội
Thánh và theo hoàn cảnh sống, đều tham dự vào các giờ
kinh này: các linh mục, bởi vì, là những người
chuyên lo việc mục vụ, họ được kêu gọi
chuyên cần cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa;
các tu sĩ nam nữ vì đặc sủng của đời
sống thánh hiến; mọi tín hữu theo khả năng của
mình. Các mục tử của các linh hồn phải liệu
sao để các Giờ Kinh chính yếu, nhất là giờ Kinh
Chiều, các ngày Chúa nhật và lễ trọng, được cử
hành chung trong nhà thờ. Khuyên các giáo dân hãy đọc Kinh
Thần vụ, hoặc cùng với các linh mục, hoặc
khi họ họp nhau, và kể cả đọc riêng một
mình nữa. [Back]
1176
Việc cử hành các Giờ Kinh phụng vụ
đòi hỏi không những phải hòa hợp tiếng
nói với tâm hồn cầu nguyện, mà còn phải lo
cho mình có kiến thức dồi dào hơn về phụng
vụ và Thánh Kinh, nhất là về các Thánh vịnh. [Back]
1177
Các thánh thi và kinh cầu của các Giờ Kinh phụng vụ đã đưa lời cầu nguyện của các Thánh vịnh vào thời gian của Hội Thánh, khi chúng diễn tả tính biểu tượng của thời khắc trong ngày, của thời gian phụng vụ hoặc của ngày lễ được cử hành. Hơn nữa, bài đọc Lời Chúa trong mỗi Giờ Kinh (với các câu Xướng Đáp theo sau) và, trong một số Giờ Kinh, việc đọc các tác phẩm của các Giáo phụ và các tôn sư linh đạo, cho thấy một cách sâu sắc hơn ý nghĩa của mầu nhiệm được cử hành, giúp thấu hiểu các Thánh vịnh và chuẩn bị cho việc cầu nguyện trong thinh lặng. Phương pháp Lectio divina (Đọc về Chúa), trong đó Lời Chúa được đọc, được suy niệm để trở thành lời cầu nguyện, như vậy cũng đã có gốc rễ từ việc cử hành phụng vụ. [Back]
1178
Các Giờ Kinh phụng vụ, được coi như sự nối dài của việc cử hành thánh lễ, không loại trừ, nhưng xét như một bổ sung, kêu gọi các việc đạo đức khác nhau của Dân Chúa, đặc biệt là việc thờ phượng và tôn sùng Thánh Thể. [Back]
Cử hành ở đâu?
Việc phụng tự của Giao Ước Mới “trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4,24) không bị ràng buộc vào một nơi duy nhất. Toàn thể trái đất là thánh và được ủy thác cho con cái loài người. Khi các tín hữu được quy tụ tại một nơi, thì điều quan trọng nhất là, chính họ là “những viên đá sống động”, được gom lại để “xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng” (1 Pr 2,5). Thân Thể của Đức Kitô Phục Sinh là ngôi đền thờ thiêng liêng, từ đó mạch nước hằng sống tuôn trào. Được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần, chính chúng ta là “đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2 Cr 6,16). [Back]
1180
Khi việc thực hành tự do tôn giáo không bị ngăn cản, các Kitô hữu xây dựng những tòa nhà dành riêng cho việc phụng thờ Thiên Chúa. Những thánh đường hữu hình này không chỉ đơn giản là những nơi tụ họp, nhưng chúng cho thấy và làm tỏ hiện Hội Thánh sống động ở nơi đó, là nơi lưu ngụ của Thiên Chúa với những người đã được hòa giải và kết hợp trong Đức Kitô. [Back]
1181
Nhà cầu nguyện là nơi bí tích Thánh Thể cực
thánh được cử hành và cất giữ, nơi các tín hữu được
quy tụ, nơi sự hiện diện của Con Thiên Chúa, Đấng
Cứu độ chúng ta, được hiến dâng trên bàn thờ hy tế
vì chúng ta, được tôn thờ để phù trợ và an ủi
các tín hữu, nhà đó phải đẹp, phải thích hợp cho
việc cầu nguyện và cho các nghi thức thánh thiêng.
Trong ngôi nhà của
Thiên Chúa, sự chân thật và hài hòa của các dấu
chỉ tạo nên ngôi nhà này, phải biểu lộ Đức
Kitô đang hiện diện và hành động ở chính nơi này. [Back]
1182
Bàn thờ của Giao Ước Mới là Thập Giá của Chúa, từ đó tuôn trào các bí tích của mầu nhiệm Vượt Qua. Trên bàn thờ, là trung tâm của thánh đường, hy tế thập giá được hiện tại hóa dưới những dấu chỉ bí tích. Bàn thờ cũng là bàn tiệc của Chúa mà dân Thiên Chúa được mời đến tham dự. Trong một số phụng vụ Đông phương, bàn thờ còn là biểu tượng của ngôi mộ (Đức Kitô đã thật sự chết và thật sự sống lại). [Back]
1183
Nhà Tạm phải được đặt ở nơi cao quý nhất và một cách tôn kính nhất trong các nhà thờ. Sự cao quý, vị trí và sự an toàn của nhà tạm Thánh Thể phải tạo sự thuận lợi cho việc thờ phượng Chúa đang hiện diện thực sự trong bí tích cực thánh trên bàn thờ.
Dầu Thánh (myron), mà việc xức dầu này là dấu chỉ bí tích cho ấn tín ơn Chúa Thánh Thần, theo truyền thống được bảo quản và tôn kính tại một nơi an toàn trong cung thánh. Dầu Dự tòng và Dầu Bệnh nhân có thể được đặt chung ở đó. [Back]
1184
Ghế ngồi của giám mục (toà) hay của linh mục phải nói lên phận vụ của vị đó là chủ tọa cộng đoàn và hướng dẫn việc cầu nguyện.
Giảng đài: Phẩm giá của Lời Chúa đòi phải có một nơi thích hợp trong nhà thờ, để công bố Lời Chúa và, trong phần phụng vụ Lời Chúa, sự chú ý của các tín hữu tự nhiên hướng về đó. [Back]
1185
Việc quy tụ dân Thiên Chúa bắt đầu bằng bí tích Rửa Tội; nên thánh đường phải có nơi để cử hành bí tích Rửa Tội (giếng rửa tội) và giúp người ta nhớ đến các lời hứa trong bí tích Rửa Tội (nước thánh).
Việc canh tân đời sống theo bí tích Rửa Tội đòi hỏi việc thống hối. Thánh đường phải là nơi thích hợp để bày tỏ lòng thống hối và lãnh nhận ơn tha thứ, nghĩa là phải có nơi thích hợp để đón tiếp các hối nhân.
Thánh đường cũng phải là một không gian mời gọi người ta hồi tâm và cầu nguyện trong thinh lặng, điều đó kéo dài kinh nguyện cao cả là bí tích Thánh Thể và nội tâm hoá kinh nguyện cao cả đó. [Back]
1186
Sau cùng, thánh đường có một ý nghĩa cánh chung. Để tiến vào Nhà Chúa, người ta phải bước qua ngưỡng cửa, điều này là biểu tượng của việc vượt qua thế giới đầy thương tích vì tội lỗi để bước vào thế giới của đời sống mới mà mọi người được kêu gọi bước vào. Thánh đường hữu hình là biểu tượng của nhà Cha mà dân Thiên Chúa đang tiến về; nơi đó, Cha “sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 21,4). Vì vậy, thánh đường còn là nhà của tất cả các con cái Thiên Chúa, luôn mở rộng và chào đón mọi người. [Back]
Tóm lược
Phụng vụ là công trình của Đức Kitô toàn thể - gồm Đầu và Thân Thể. Vị Thượng Tế của chúng ta không ngừng cử hành Phụng vụ ấy trong Phụng vụ trên trời, cùng với Mẹ Thiên Chúa, các Tông Đồ, các thánh và đông đảo những người đã được vào Nước Trời. [Back]
1188
Trong một cử hành Phụng vụ, toàn thể cộng đoàn đều là người cử hành phụng vụ, mỗi người theo chức năng của mình. Chức tư tế của bí tích Rửa Tội là chức tư tế của toàn Thân Thể Đức Kitô. Nhưng một số tín hữu được truyền chức do bí tích Truyền Chức Thánh để đại diện Đức Kitô như là Đầu của Thân Thể. [Back]
1189
Cử hành phụng vụ bao gồm các dấu chỉ và biểu tượng lấy từ công trình tạo dựng (ánh sáng, nước, lửa), từ đời sống con người (tắm giặt, xức dầu, bẻ bánh), và từ lịch sử cứu độ (các nghi thức Vượt Qua). Được đưa vào lãnh vực đức tin và được quyền năng Chúa Thánh Thần tác động, những yếu tố vũ trụ, những nghi thức của loài người, những cử chỉ gợi nhớ đến Chúa sẽ trở thành phương thế mang các hoạt động cứu độ và thánh hóa của Đức Kitô. [Back]
1190
Phụng vụ
Lời Chúa là phần thiết yếu của phụng vụ.
Ý nghĩa của việc cử hành được diễn tả
qua Lời Chúa được công bố và qua việc đồng thuận
của đức tin trong lời đáp lại. [Back]
1191
Bài ca và âm nhạc
nối kết chặt chẽ với hoạt động phụng
vụ. Để sử dụng tốt phải chú ý đến
các điều này: vẻ đẹp diễn cảm của lời
cầu nguyện, việc tham gia cách đồng tâm nhất trí
của cộng đoàn và đặc tính thánh thiêng của cuộc cử
hành. [Back]
1192
Các ảnh tượng thánh, hiện diện trong các thánh đường và trong nhà của chúng ta, có mục đích khơi dậy và nuôi dưỡng đức tin vào mầu nhiệm của Đức Kitô. Qua hình ảnh của Đức Kitô và các công trình cứu độ của Người, chúng ta tôn thờ chính Người. Qua các ảnh tượng thánh của Mẹ Thiên Chúa, của các Thiên thần và của các Thánh, chúng ta tôn kính những vị mà các ảnh tượng này biểu thị. [Back]
1193
Chúa nhật,
Ngày của Chúa, là ngày chính yếu để cử hành bí tích
Thánh Thể vì là ngày của mầu nhiệm Phục
Sinh. Đó là ngày quy tụ cộng đoàn phụng vụ, ngày của
gia đình Kitô giáo, ngày của niềm vui và ngày nghỉ việc.
Ngày Chúa nhật là “nền tảng và cốt lõi của
cả năm phụng vụ. [Back]
1194
Hội Thánh triển
khai toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô qua chu kỳ một
năm, từ mầu nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh đến
Thăng Thiên, đến ngày lễ Ngũ Tuần, và cho đến việc
mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và cuộc Ngự
đến của Chúa. [Back]
1195
Khi kính nhớ các Thánh, trước hết là Mẹ Thiên Chúa, kế đến là các Thánh Tông Đồ, các Thánh Tử đạo và các Thánh khác, vào những ngày nhất định trong năm Phụng vụ, Hội Thánh nơi trần thế biểu lộ sự hiệp thông với phụng vụ thiên quốc. Hội Thánh tôn vinh Đức Kitô, vì ơn cứu độ Người đã hoàn thành nơi những chi thể đã được tôn vinh của Người. Gương sáng của các ngài khích lệ Hội Thánh trên đường về với Chúa Cha. [Back]
1196
Các tín hữu cử
hành các Giờ Kinh phụng vụ, được kết hợp với
Đức Kitô, vị Thượng Tế của chúng ta, qua lời
cầu nguyện các Thánh vịnh, suy niệm Lời Chúa, các
bài thánh ca và những lời chúc tụng. Nhờ đó, họ
được liên kết với lời nguyện liên lỉ và phổ
quát của Đức Kitô mà tôn vinh Chúa Cha và cầu xin ơn Chúa
Thánh Thần xuống trên khắp trần gian. [Back]
1197
Đức Kitô là Đền
Thờ đích thực của Thiên Chúa, là nơi vinh quang của
Chúa Cha ngự trị. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, các
tín hữu cũng trở nên đền thờ của Chúa Thánh
Thần, nên những viên đá sống động xây nên Hội
Thánh. [Back]
1198
Trong tình trạng tại thế, Hội Thánh cần có những nơi để cộng đoàn tập họp: các thánh đường hữu hình của chúng ta là những nơi thánh, là hình ảnh của Thành thánh Giêrusalem thiên quốc, nơi chúng ta là những lữ khách đang tiến về. [Back]
1199
Chính trong những thánh đường này, Hội Thánh cử hành việc thờ phượng công khai để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi, lắng nghe Lời Chúa, ca hát những lời chúc tụng, dâng lên lời cầu nguyện của mình và dâng hy tế của Đức Kitô, Đấng hiện diện cách bí tích giữa cộng đoàn. Những thánh đường nầy còn là nơi giúp tín hữu hồi tâm và cầu nguyện riêng. [Back]
Sự đa dạng
của phụng vụ và sự duy nhất của mầu
nhiệm
Các truyền thống phụng vụ và tính công giáo của
Hội Thánh
Từ cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem cho đến ngày Đức Kitô ngự đến, các Giáo Hội của Thiên Chúa, trung thành với đức tin tông truyền, đều cử hành ở mọi nơi cùng một mầu nhiệm Vượt Qua. Mầu nhiệm được cử hành trong phụng vụ, chỉ là một, nhưng những hình thức của việc cử hành mầu nhiệm đó thì khác nhau. [Back]
1201
Mầu nhiệm Đức Kitô phong phú khôn lường đến nỗi không một truyền thống phụng vụ nào có thể diễn tả trọn vẹn được. Lịch sử hình thành và phát triển các nghi lễ này cho thấy chúng bổ túc cho nhau một cách kỳ diệu. Khi các Giáo Hội sống những truyền thống phụng vụ này trong sự hiệp thông đức tin và hiệp thông các bí tích của đức tin, các Giáo Hội đó đã làm phong phú cho nhau và lớn lên trong sự trung thành với Thánh Truyền và với sứ vụ chung của toàn thể Hội Thánh. [Back]
1202
Các truyền thống phụng vụ khác nhau đã được khai sinh vì chính sứ vụ của Hội Thánh. Các Giáo Hội trong cùng một khu vực địa dư và văn hóa đã cử hành mầu nhiệm Đức Kitô bằng những cách diễn tả đặc biệt, đặc trưng về văn hoá: trong việc lưu truyền kho tàng Đức Tin, trong các biểu tượng phụng vụ, trong việc tổ chức hiệp thông huynh đệ, trong sự hiểu biết thần học về các mầu nhiệm và trong các điển hình của sự thánh thiện. Như vậy, nhờ đời sống phụng vụ của từng Giáo Hội, Đức Kitô, Đấng là Ánh Sáng và Ơn Cứu Độ cho muôn dân, được biểu lộ cho dân tộc và nền văn hóa mà Hội Thánh được sai đến và đã bén rễ vào đó. Hội Thánh có đặc tính Công giáo: Hội Thánh có thể hội nhập vào sự duy nhất của mình tất cả những sự phong phú đích thực của các nền văn hóa, sau khi đã thanh tẩy chúng. [Back]
1203
Các truyền thống phụng vụ, hoặc các nghi lễ, ngày nay đang được sử dụng trong Hội Thánh là nghi lễ La tinh (chủ yếu là nghi lễ Rôma, nhưng cũng có các nghi lễ của một số Giáo Hội địa phương như nghi lễ thánh Ambrôsiô, hoặc nghi lễ của một số dòng tu), và các nghi lễ Byzantinô, Alexandrinô hoặc Copticô, Syriacô, Armêniô, Marônita và Chalđêô. Trung thành vâng theo truyền thống, thánh Công đồng tuyên bố rằng Mẹ Hội Thánh coi tất cả các nghi lễ đã được chính thức công nhận đều bình đẳng trên pháp lý và được tôn trọng như nhau, lại muốn các nghi lễ ấy được duy trì trong tương lai và được cổ võ bằng mọi cách. [Back]
1204
Phụng vụ và các nền văn hóa
Vì vậy việc cử hành phụng vụ phải phù hợp với tinh thần và văn hóa của các dân tộc khác nhau. Để mầu nhiệm của Đức Kitô được loan báo “cho muôn dân biết, để họ tin mà vâng phục Thiên Chúa” (Rm 16,26), thì mầu nhiệm đó phải được loan báo, cử hành và sống trong tất cả các nền văn hóa, sao cho mầu nhiệm Đức Kitô không xoá bỏ, nhưng cứu chuộc và kiện toàn các nền văn hoá đó. Đông đảo các con cái Thiên Chúa cùng với nền văn hoá nhân loại riêng của họ và nhờ nền văn hoá đó, một nền văn hoá đã được Đức Kitô đón nhận và biến đổi, đã đến với Chúa Cha, để tôn vinh Ngài trong một Thần Khí duy nhất. [Back]
1205
Phải lưu ý rằng trong phụng vụ, nhất là trong phụng vụ các bí tích, có một phần bất biến, vì do Chúa thiết lập, mà Hội Thánh là người canh giữ, và những phần có thể thay đổi, mà Hội Thánh có quyền, và đôi khi có bổn phận thích nghi với các nền văn hóa của các dân tộc mới đón nhận Tin Mừng. [Back]
1206
Sự đa dạng của phụng vụ có thể là nguồn mạch của sự phong phú, nhưng cũng có thể gây ra những căng thẳng, những hiểu lầm lẫn nhau và thậm chí những vụ ly giáo. Trong lãnh vực này, hiển nhiên là sự đa dạng không được làm tổn thương sự hợp nhất, và sự đa dạng đó chỉ có thể được diễn tả nhờ lòng trung thành đối với đức tin chung, đối với các dấu chỉ bí tích mà Hội Thánh đã nhận từ Đức Kitô, và đối với sự hiệp thông phẩm trật. Sự thích nghi với các nền văn hóa đòi phải hối cải nội tâm, và nếu cần, phải đoạn tuyệt với những thói quen lâu đời không phù hợp với đức tin công giáo. [Back]
Tóm lược
Việc cử hành phụng vụ nên được diễn tả trong nền văn hóa của dân mà Hội Thánh đang hiện diện, nhưng không được lệ thuộc vào đó. Mặt khác, phụng vụ cũng có vai trò khai sinh và đào tạo các nền văn hóa. [Back]
1208
Các truyền thống
phụng vụ khác nhau, hay các nghi lễ, được chính thức
công nhận, vì chúng biểu thị và thông hiệp cùng
một mầu nhiệm của Đức Kitô, biểu lộ
tính công giáo của Hội Thánh. [Back]
1209
Tiêu chuẩn bảo
đảm cho sự duy nhất giữa sự đa dạng của
các truyền thống phụng vụ, là sự trung thành với
truyền thống Tông Đồ, nghĩa là: hiệp thông trong đức
tin và các bí tích do các Tông Đồ truyền lại, sự hiệp
thông này được biểu thị và bảo đảm nhờ việc
kế nhiệm Tông Đồ. [Back]
Bảy bí tích của Hội Thánh
Các bí tích của Luật Mới được thiết lập bởi Đức Kitô; có bảy bí tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Thống Hối, Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối. Bảy bí tích này liên quan đến tất cả các giai đoạn và thời điểm quan trọng trong đời sống Kitô hữu: chúng làm cho đời sống đức tin của các Kitô hữu được sinh ra và lớn lên, được chữa lành và được trao sứ vụ. Về điều này, có một sự tương tự nào đó giữa những giai đoạn của đời sống tự nhiên và những giai đoạn của đời sống thiêng liêng. [Back]
1211
Theo sự tương tự đó, trước tiên, chúng ta sẽ trình bày ba bí tích khai tâm Kitô giáo (Chương một), tiếp đến là các bí tích chữa lành (Chương hai), cuối cùng là các bí tích phục vụ sự hiệp thông và sứ vụ của các tín hữu (Chương ba). Thứ tự này dĩ nhiên không phải là cách duy nhất, nhưng cho thấy các bí tích hợp thành một cấu trúc trong đó mỗi bí tích đặc thù có một vị trí sinh động. Trong cấu trúc này, bí tích Thánh Thể giữ một địa vị độc đáo vì là bí tích của các bí tích: Tất cả các bí tích khác đều quy hướng về bí tích Thánh Thể như về cùng đích. [Back]
1212
Các bí tích khai tâm Kitô giáo
Ba bí tích khai tâm Kitô giáo: Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể, đặt nền tảng cho toàn bộ đời sống Kitô hữu. Việc tham dự vào bản tính Thiên Chúa, mà ân sủng của Đức Kitô ban cho con người, có một sự tương tự nào đó với đời sống tự nhiên, là được sinh ra, lớn lên và được nuôi dưỡng. Thật vậy, được tái sinh bằng bí tích Rửa Tội, các tín hữu được củng cố bằng bí tích Thêm Sức, và sau cùng được bồi bổ bằng bánh trường sinh trong bí tích Thánh Thể. Như vậy, nhờ các bí tích khai tâm Kitô giáo, càng ngày họ càng được lãnh nhận những kho tàng của đời sống thần linh và tiến đến sự trọn hảo của đức mến. [Back]
1213
Bí tích Rửa Tội
Bí tích Rửa Tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cổng vào đời sống thiêng liêng, và là cửa mở ra để lãnh nhận các bí tích khác. Nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và được tái sinh làm con cái Thiên Chúa, được trở thành chi thể của Đức Kitô, được tháp nhập vào Hội Thánh và được tham dự sứ vụ của Hội Thánh: Có thể định nghĩa một cách đúng đắn và thích hợp rằng bí tích Rửa Tội là bí tích tái sinh chúng ta bởi nước trong Lời Chúa. [Back]
Bí tích này được gọi thế nào?
Bí tích Rửa Tội được gọi
theo nghi thức trung tâm mà nó được thực hiện: Rửa
(tiếng Hy Lạp là Baptizein) có nghĩa là “chìm xuống”,
“dìm xuống”. Việc “dìm xuống” nước tượng
trưng cho việc mai táng người dự tòng vào sự chết
của Đức Kitô, và từ đó họ bước ra nhờ được
sống lại với Người, với tư cách là một “thụ
tạo mới” (2 Cr 5,17; Gl 6,15). [Back]
1215
Bí tích này cũng được gọi là “Phép Rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới” (Tt 3,5), bởi vì bí tích này biểu lộ và thực hiện việc sinh ra bởi nước và Thánh Thần, mà nếu không có việc đó thì “không ai có thể vào Nước Thiên Chúa” (Ga 3,5). [Back]
1216
Phép Rửa này còn được gọi là ơn soi sáng, vì những ai học biết điều này (về giáo lý) thì được soi sáng trong tâm trí. Người được Rửa Tội, vì trong Phép Rửa họ được đón nhận Ngôi Lời là “ánh sáng thật chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), nên sau khi được soi sáng, họ trở thành con cái sự sáng và chính họ là “ánh sáng” (Ep 5,8):
Bí tích Rửa Tội là hồng ân cao đẹp nhất và kỳ diệu nhất trong các hồng ân của Thiên Chúa. Chúng ta gọi bí tích đó là hồng ân, ân sủng, Rửa Tội, xức dầu, soi sáng, y phục bất hoại, sự tắm rửa của ơn tái sinh, ấn tín và tất cả những gì quý giá nhất. Nó được gọi là hồng ân, bởi vì được ban cho những người trước đó chẳng có gì; là ân sủng, bởi vì được ban cả cho những người tội lỗi; là sự dìm xuống, bởi vì tội lỗi bị chôn vùi trong nước; là xức dầu, bởi vì bí tích này là thánh thiêng và vương giả (như những người được xức dầu); là ơn soi sáng, bởi vì nó sáng ngời và chói lọi; là y phục, bởi vì nó che phủ sự xấu xa của chúng ta; là tắm rửa, bởi vì bí tích này rửa sạch; là ấn tín, bởi vì nó là sự bảo toàn và là dấu chỉ của uy quyền. [Back]
Bí tích Rửa Tội trong nhiệm cục Cứu Độ
Những hình ảnh trong Giao Ước cũ tiên báo bí tích Rửa Tội
Trong phụng vụ Canh thức Vượt Qua, khi làm phép nước rửa tội, Hội Thánh long trọng tưởng nhớ những biến cố trọng đại trong lịch sử cứu độ, những biến cố này là hình ảnh tiên báo mầu nhiệm bí tích Rửa Tội: Lạy Chúa, Chúa dùng quyền năng vô hình mà làm cho các bí tích trở nên hữu hiệu lạ lùng. Và qua dòng lịch sử cứu độ, Chúa đã bao lần dùng nước do chính Chúa tạo dựng, để bày tỏ hiệu năng của Phép Rửa. [Back]
1218
Từ tạo thiên lập địa, nước, thụ tạo khiêm tốn và lạ lùng này, là nguồn mạch sự sống và sự sinh sôi nảy nở. Kinh Thánh xem nước như được ấp ủ bởi Thần Khí Thiên Chúa. Lạy Chúa, ngay từ lúc vũ trụ khởi nguyên, Thánh Thần Chúa đã bay là là trên mặt nước, để từ đó nước hàm chứa năng lực thánh hoá muôn loài. [Back]
1219
Hội Thánh nhìn con tàu của ông Nôê là hình ảnh tiên báo ơn cứu độ nhờ bí tích Rửa Tội: “Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước” (1 Pr 3,20). Chúa lại dùng nước hồng thuỷ làm hình ảnh tiên báo Phép Rửa ban ơn tái sinh, vì nước biểu thị quyền năng Chúa, vừa tiêu diệt tội lỗi lại vừa khai mở một đời sống mới. [Back]
1220
Nếu nước nguồn tượng trưng cho sự sống, thì nước biển là biểu tượng của sự chết. Vì vậy, nước có thể là hình bóng của mầu nhiệm thập giá. Qua biểu tượng này, bí tích Rửa Tội nói lên sự hiệp thông với sự chết của Đức Kitô. [Back]
1221
Đặc biệt cuộc vượt qua Biển Đỏ, việc giải thoát thật sự nhà Israel khỏi kiếp nô lệ ở Ai Cập, loan báo ơn giải thoát nhờ Phép Rửa. Chúa đã giải thoát con cháu ông Abraham khỏi vòng nô lệ mà dẫn qua Biển Đỏ ráo chân, để họ tượng trưng cho một dân tộc mới, là những người được lãnh Phép Rửa sau này. [Back]
1222
Cuối cùng, bí tích Rửa Tội được tiên báo trong việc vượt qua sông Jorđanô, nhờ đó dân Thiên Chúa nhận được hồng ân là Đất đã được hứa ban cho dòng dõi ông Abraham, là hình ảnh của đời sống vĩnh cửu. Lời hứa về gia tài hồng phúc này sẽ được thực hiện trong Giao Ước Mới. [Back]
1223
Phép Rửa của Đức Kitô
Tất cả các hình ảnh tiên
báo của Giao Ước cũ đã được hoàn tất trong
Đức Kitô Giêsu. Người bắt đầu đời sống công
khai sau khi để cho thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa
cho mình trong sông Jorđanô. Sau khi phục sinh, Người trao
cho các Tông Đồ sứ vụ này: “Anh em hãy đi và làm cho
muôn dân trở thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ nhân
danh Cha, và Con, và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ
mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20). [Back]
1224
Chúa chúng ta đã tự nguyện chịu phép rửa của thánh Gioan, một phép rửa dành cho những kẻ tội lỗi, để giữ trọn đức công chính. Cử chỉ này của Chúa Giêsu biểu lộ sự hạ mình của Người. Chúa Thánh Thần, Đấng xưa kia bay lượn là là trên mặt nước trong công trình tạo dựng thứ nhất, nay ngự xuống trên Đức Kitô như khúc nhạc dạo đầu của công trình tạo dựng mới, và Chúa Cha tỏ cho thấy Chúa Giêsu là Con chí ái của Ngài. [Back]
1225
Trong cuộc Vượt Qua của mình, Đức Kitô đã khai mở các nguồn mạch của bí tích Rửa Tội cho tất cả mọi người. Quả vậy, Người đã nói về cuộc khổ nạn Người sẽ phải chịu tại Giêrusalem như một Phép Rửa” mà Người phải lãnh nhận. Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu chịu đóng đinh, là những điển hình của bí tích Rửa Tội và Thánh Thể, là những bí tích của đời sống mớ: từ lúc đó, người ta có thể được “sinh ra bởi nước và Thần Khí” để vào Nước Thiên Chúa (Ga 3,5).
Hãy xem, bạn được rửa tội ở đâu, bí tích Rửa Tội là từ đâu nếu không phải là từ Thánh Giá của Đức Kitô, từ sự chết của Người. Toàn bộ mầu nhiệm là ở đó, bởi vì Người đã chịu khổ hình vì bạn. Trong Người, bạn được cứu chuộc; trong Người, bạn được cứu độ. [Back]
1226
Bí tích Rửa Tội trong Hội Thánh
Từ ngày lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh đã cử hành và ban bí tích Rửa Tội. Thật vậy, thánh Phêrô tuyên bố với đám đông đang bối rối vì bài giảng của ngài: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu Phép Rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được hồng ân là Thánh Thần” (Cv 2,38). Các Tông Đồ và những cộng sự viên của các ngài ban bí tích Rửa Tội cho những ai tin vào Chúa Giêsu: những người Do Thái, những người kính sợ Thiên Chúa và những người ngoại giáo. Bí tích Rửa Tội luôn gắn liền với đức tin. Thánh Phaolô tuyên bố với viên cai ngục canh giữ ông ở Philipphê: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, thì ông và cả nhà sẽ được cứu độ”. Trình thuật kể tiếp: “Lập tức, ông ấy được chịu Phép Rửa cùng với tất cả người nhà” (Cv 16,31-33). [Back]
1227
Theo thánh Phaolô Tông Đồ, nhờ bí tích
Rửa Tội, tín hữu được hiệp thông vào sự chết
của Đức Kitô; họ được mai táng và sống lại
với Người:
“Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người. Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,3-4).
Những người chịu Phép Rửa đã “mặc lấy Đức Kitô. Nhờ Chúa Thánh Thần, bí tích Rửa Tội là Phép Rửa để thanh tẩy, thánh hóa và công chính hóa. [Back]
1228
Như vậy, bí tích Rửa Tội là Phép Rửa bằng nước nhờ đó hạt giống bất hoại của Lời Chúa đem lại hiệu quả của nó là ban sự sống. Thánh Augustinô nói về bí tích Rửa Tội: Lời liên kết với một yếu tố vật chất và nó trở thành một bí tích. [Back]
Bí tích Rửa Tội được cử hành như thế nào?
Khai tâm Kitô giáo
Ngay từ thời các Tông Đồ, để trở thành Kitô hữu người ta phải trải qua con đường khai tâm gồm nhiều giai đoạn. Hành trình này có thể nhanh hay chậm, nhưng luôn hội đủ những điều cốt yếu như sau: loan báo Lời Chúa, đón nhận Tin Mừng kèm theo là hối cải, tuyên xưng đức tin, Rửa Tội, ban Thánh Thần, lãnh nhận Thánh Thể. [Back]
1230
Việc khai tâm này, qua các thời đại và theo những hoàn cảnh khác nhau, đã biến đổi nhiều. Vào các thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh, việc khai tâm Kitô giáo được triển khai đáng kể, với một giai đoạn dự tòng lâu dài và một chuỗi các nghi thức dọn đường, đánh dấu con đường chuẩn bị của thời kỳ dự tòng bằng những cột mốc phụng vụ và dẫn đến việc cử hành các bí tích khai tâm Kitô giáo. [Back]
1231
Ở đâu việc cử hành bí tích Rửa Tội cho các nhi đồng đã thành thói quen phổ biến, thì việc cử hành này trở thành một hành vi duy nhất, gom lại một cách rất tóm tắt các giai đoạn chuẩn bị cho việc khai tâm Kitô giáo. Theo bản chất của nó, việc ban Phép Rửa cho các nhi đồng đòi hỏi một giai đoạn dự tòng sau Phép Rửa. Đây không chỉ là cần thiết phải dạy dỗ sau Phép Rửa, nhưng còn cần làm triển nở ân sủng của bí tích Rửa Tội trong sự tăng trưởng của con người. Đây là phận vụ đặc thù của việc dạy giáo lý. [Back]
1232
Từ Công đồng Vaticanô II đối với Giáo Hội La tinh thời kỳ dự tòng dành cho người thành niên, chia thành nhiều giai đoạn đã được tái lập. Các nghi thức của thời kỳ này được trình bày trong quyển “Ordo initiationis christianae adultorum” (Nghi thức gia nhập Kitô giáo dành cho người lớn). Ngoài ra Công đồng còn cho phép, ngoài những yếu tố đã có trong truyền thống Kitô giáo, các xứ truyền giáo được chấp nhận cả những yếu tố vẫn thấy được sử dụng nơi mỗi dân tộc, miễn là các yếu tố đó có thể được thích nghi với nghi thức Kitô giáo. [Back]
1233
Vì vậy, ngày nay trong tất cả các nghi lễ La tinh và Đông phương, việc khai tâm Kitô giáo dành cho người thành niên bắt đầu bằng việc họ bước vào giai đoạn dự tòng, và việc khai tâm đó đạt tới tột đỉnh trong một cuộc cử hành duy nhất gồm cả ba bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. Trong các nghi lễ Đông phương, việc khai tâm Kitô giáo dành cho nhi đồng bắt đầu với bí tích Rửa Tội, liền sau đó là Thêm Sức và Thánh Thể; còn trong nghi lễ La tinh, việc khai tâm kéo dài trong những năm học giáo lý rồi sau đó được kết thúc với bí tích Thêm Sức và bí tích Thánh Thể là tột đỉnh của việc khai tâm Kitô giáo. [Back]
1234
Tính cách dẫn vào mầu nhiệm của cuộc cử hành
Ý nghĩa và ân sủng của bí tích Rửa Tội được trình bày rõ ràng trong các nghi thức cử hành. Khi chăm chú theo dõi các cử chỉ và lời nói của cuộc cử hành, các tín hữu được khai tâm về các sự phong phú mà bí tích nầy biểu lộ và thực hiện nơi mỗi người tân tòng. [Back]
1235
Dấu Thánh Giá lúc bắt đầu việc cử hành ghi dấu ấn của Đức Kitô trên kẻ sắp thuộc về Người, và nói lên ân sủng cứu chuộc mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta nhờ thập giá của Người. Việc công bố Lời Chúa dọi chiếu chân lý được mạc khải cho các ứng viên và cộng đoàn, và khơi lên lời đáp lại của đức tin, vốn không thể tách rời khỏi bí tích Rửa Tội. Bí tích Rửa Tội, một cách đặc biệt, là bí tích của đức tin, bởi vì nó là cửa ngõ bí tích dẫn vào đời sống đức tin. [Back]
1236
Việc công bố Lời Chúa dọi chiếu chân lý được mạc khải cho các ứng viên và cộng đoàn, và khơi lên lời đáp lại của đức tin, vốn không thể tách rời khỏi bí tích Rửa Tội. Bí tích Rửa Tội, một cách đặc biệt, là bí tích của đức tin, bởi vì nó là cửa ngõ bí tích dẫn vào đời sống đức tin. [Back]
1237
Bởi vì bí tích Rửa Tội nói lên sự giải thoát khỏi tội lỗi và kẻ xúi giục tội lỗi là ma quỷ, nên một (hay nhiều) lời nguyện trừ tà được đọc trên ứng viên. Họ được xức dầu dự tòng hay được vị chủ sự đặt tay, và họ minh nhiên từ bỏ Satan. Được chuẩn bị như vậy xong, họ có thể tuyên xưng đức tin của Hội Thánh mà họ sẽ được “trao phó” cho đức tin đó nhờ bí tích Rửa Tội. [Back]
1238
Rồi Nước rửa tội được thánh hiến bằng Kinh khẩn cầu Chúa Thánh Thần (hoặc ngay lúc này hoặc đã làm trong đêm Canh thức Vượt Qua). Hội Thánh cầu xin Thiên Chúa để nhờ Con Ngài, quyền năng của Chúa Thánh Thần ngự xuống trên nước này, để những ai sắp được thanh tẩy trong nước này, thì được “sinh ra bởi nước và Thần khí” (Ga 3,5). [Back]
1239
Tiếp đến là nghi thức chính yếu của bí tích: đó là chính việc rửa tội, nó biểu lộ và thực hiện cái chết đối với tội lỗi và việc bước vào đời sống của Ba Ngôi Chí Thánh nhờ được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong mầu nhiệm Vượt Qua. Phép Rửa được thực hiện một cách có ý nghĩa nhất, qua ba lần dìm xuống nước rửa tội. Nhưng từ xa xưa, việc này cũng có thể được thực hiện bằng cách đổ nước ba lần trên đầu ứng viên. [Back]
1240
Trong Giáo Hội La tinh, việc đổ nước ba lần đó được kèm theo lời nói của thừa tác viên: “T..., cha rửa con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Trong các phụng vụ Đông phương, người dự tòng hướng về phía Đông và linh mục đọc: “Tôi tớ của Thiên Chúa, là T..., được rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Mỗi lần kêu cầu từng Ngôi vị trong Ba Ngôi Chí Thánh, vị chủ sự sẽ dìm người dự tòng xuống nước rồi kéo lên. [Back]
1241
Việc xức dầu thánh, dầu được pha hương liệu do Giám mục thánh hiến, có ý nghĩa là hồng ân Chúa Thánh Thần được ban cho người tân tòng. Họ trở nên một Kitô hữu, nghĩa là người được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, được tháp nhập vào Đức Kitô, Đấng đã được xức dầu làm Tư tế, Tiên tri và Vương đế. [Back]
1242
Trong phụng vụ của các Giáo Hội Đông phương, việc xức dầu sau Phép Rửa là bí tích Xức Dầu Thánh (bí tích Thêm Sức). Trong phụng vụ Rôma, nghi thức này báo trước việc xức dầu thánh lần thứ hai sẽ do Giám mục trao ban: đó là bí tích Thêm Sức, bí tích này như củng cố và kiện toàn việc xức dầu trong bí tích Rửa Tội. [Back]
1243
Áo trắng nói lên cách tượng trưng người chịu Phép Rửa đã mặc lấy Đức Kitô, đã sống lại cùng với Đức Kitô. Cây nến được thắp sáng từ nến phục sinh nói lên rằng Đức Kitô đã chiếu dọi ánh sáng cho người tân tòng. Trong Đức Kitô, những người chịu Phép Rửa là “ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Người tân tòng lúc đó là con cái Thiên Chúa trong Người Con Duy Nhất. Họ có thể đọc lời kinh của những người con Thiên Chúa: kinh Lạy Cha. [Back]
1244
Rước lễ lần đầu. Người tân tòng, đã trở nên con Thiên Chúa, và đã mặc áo cưới, được đón nhận vào “tiệc cưới của Con Chiên” và lãnh nhận lương thực của đời sống mới, là Mình và Máu Đức Kitô. Các Giáo hội Đông phương ý thức cách sống động về tính duy nhất của việc khai tâm Kitô giáo, nên ban bí tích Thánh Thể cho tất cả những người vừa được rửa tội và thêm sức, kể cả các nhi đồng, vì nhớ lại lời Chúa: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng” (Mc 10,14). Giáo Hội La tinh, dành việc rước lễ lại cho các em đã đến tuổi khôn, nên diễn tả việc mở ngỏ của bí tích Rửa Tội hướng đến bí tích Thánh Thể, bằng cách đưa nhi đồng vừa chịu Phép Rửa đến gần bàn thờ để đọc kinh Lạy Cha. [Back]
1245
Phép lành trọng thể kết thúc cuộc cử hành bí tích Rửa Tội. Khi rửa tội cho trẻ sơ sinh, phép lành ban cho người mẹ có một tầm quan trọng đặc biệt. [Back]
Ai có thể lãnh nhận bí tích Rửa Tội?
Tất cả và chỉ những người chưa chịu Phép Rửa, mới có khả năng lãnh nhận bí tích Rửa Tội. [Back]
1247
Rửa tội cho người thành niên
Từ thuở ban đầu của Hội Thánh, việc rửa tội cho người thành niên là hình thức thông thường nhất ở những nơi Tin Mừng mới được rao giảng. Lúc đó thời kỳ dự tòng (chuẩn bị cho bí tích Rửa Tội) là một giai đoạn quan trọng. Vì là việc khai tâm về đức tin và đời sống Kitô giáo, thời kỳ này phải chuẩn bị cho người dự tòng đón nhận hồng ân của Thiên Chúa trong bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. [Back]
1248
Thời kỳ dự tòng, hoặc thời gian huấn luyện các dự tòng, có mục đích giúp đương sự, khi đáp lại sáng kiến của Thiên Chúa và hợp nhất với một cộng đoàn Hội Thánh, có thể hối cải và làm cho đức tin của mình được trưởng thành. Đây chính là việc huấn luyện toàn bộ đời sống Kitô giáo, nhờ đó, các môn đệ được kết hợp với Đức Kitô là Thầy của mình. Như vậy các dự tòng phải được khai tâm cách thích đáng về mầu nhiệm cứu độ, và về việc thực hành luân lý của Tin Mừng, và nhờ các nghi thức thánh thiêng được tuần tự cử hành theo từng giai đoạn, họ được dẫn vào đời sống đức tin, đời sống phụng vụ và đời sống bác ái của dân Thiên Chúa. [Back]
1249
Những người dự tòng đã được kết hợp với Hội Thánh rồi, đã là người nhà của Đức Kitô rồi và thường đã sống một đời đức tin, đức cậy và đức mến rồi. Họ được Mẹ Hội Thánh yêu thương chăm sóc như con cái mình rồi. [Back]
1250
Rửa tội cho nhi đồng
Vì được sinh ra với bản tính con người sa ngã và hoen ố do nguyên tội, các nhi đồng cũng cần được tái sinh trong bí tích Rửa Tội, để chúng được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được đưa vào miền tự do của các con cái Thiên Chúa mà tất cả mọi người được mời gọi. Tính cách hoàn toàn nhưng không của ơn cứu độ được biểu lộ cách đặc biệt trong bí tích Rửa Tội cho các nhi đồng. Vì vậy Hội Thánh và cha mẹ em nhỏ, nếu không cho em được Rửa Tội ít lâu sau khi sinh ra, thì làm em thiệt mất ân sủng vô giá là được trở nên con cái Thiên Chúa. [Back]
1251
Các cha mẹ Kitô giáo nhận biết rằng, việc thực hành này cũng đi đôi với nhiệm vụ của họ là những người nuôi dưỡng sự sống mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho họ. [Back]
1252
Việc Rửa Tội cho các nhi đồng là một truyền thống rất xa xưa của Hội Thánh. Có những bằng chứng rõ ràng về truyền thống này từ thế kỷ thứ hai. Nhưng rất có thể ngay từ lúc các Tông Đồ bắt đầu rao giảng, khi có những gia đình mà cả nhà đều chịu Phép Rửa thì người ta cũng đã Rửa Tội cho cả các nhi đồng. [Back]
1253
Đức Tin và bí tích Rửa Tội
Bí tích Rửa Tội là bí tích của đức tin. Nhưng đức tin cần đến cộng đoàn các tín hữu. Mỗi Kitô hữu chỉ có thể tin trong đức tin của Hội Thánh. Đức tin cần phải có để được chịu Phép Rửa, chưa phải là đức tin hoàn hảo và trưởng thành, nhưng là một khởi đầu cần được tăng trưởng. Hội Thánh hỏi người dự tòng hoặc người đỡ đầu: “Con xin gì cùng Hội Thánh Chúa?” Và họ trả lời: “Con xin đức tin”. [Back]
1254
Đức tin của mọi người đã chịu Phép Rửa, cả nhi đồng cả người thành niên, cần được tăng trưởng sau bí tích Rửa Tội. Vì vậy, hằng năm, trong đêm Canh thức Vượt Qua, Hội Thánh cử hành việc lặp lại các lời hứa Phép Rửa. Việc chuẩn bị lãnh nhận bí tích Rửa Tội mới chỉ đưa tới ngưỡng cửa của đời sống mới. Bí tích Rửa Tội là nguồn mạch của đời sống mới trong Đức Kitô, từ đó tuôn trào toàn bộ đời sống Kitô hữu. [Back]
1255
Để ân sủng của bí tích Rửa Tội có thể được triển nở, sự hỗ trợ của cha mẹ là rất quan trọng. Cha mẹ đỡ đầu cũng có nhiệm vụ trong công việc này. Họ phải là những tín hữu kiên vững, có khả năng và sẵn sàng giúp đỡ người mới chịu Phép Rửa, nhi đồng cũng như người thành niên, trên con đường của đời sống Kitô hữu. Nhiệm vụ của cha mẹ đỡ đầu thực sự là một chức vụ chính thức (officium) trong Hội Thánh. Toàn thể cộng đoàn giáo hội đều dự phần trách nhiệm trong việc làm triển nở và giữ gìn ân sủng đã được lãnh nhận trong bí tích Rửa Tội. [Back]
Ai có thể ban bí tích Rửa Tội?
Thừa tác viên thông thường của bí tích Rửa Tội là Giám mục, linh mục, và trong Giáo Hội La tinh, cả phó tế nữa. Trong trường hợp khẩn thiết, thì bất cứ người nào, kể cả những người chưa chịu Phép Rửa, mà có ý hướng cần thiết, đều có thể cử hành Phép Rửa, bằng cách sử dụng công thức Rửa Tội nhân danh Chúa Ba Ngôi. Ý hướng cần thiết là muốn làm điều Hội Thánh làm khi ban Phép Rửa. Lý do của việc người ngoại giáo cũng có thể cử hành Phép Rửa như vậy, là vì Hội Thánh thấy rõ rằng Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người và bí tích Rửa Tội là cần thiết để được cứu độ. [Back]
1257
Sự cần
thiết của bí tích Rửa Tội
Chính Chúa khẳng định rằng bí tích Rửa Tội là cần thiết để được cứu độ. Vì vậy, Người đã truyền lệnh cho các môn đệ Người rao giảng Tin Mừng và làm Phép Rửa cho muôn dân. Bí tích Rửa Tội cần thiết cho ơn cứu độ đối với những người đã được loan báo Tin Mừng và có khả năng xin lãnh nhận bí tích này. Ngoài bí tích Rửa Tội, Hội Thánh không biết đến một phương thế nào khác để bảo đảm cho người ta được vào vinh phúc vĩnh cửu; vì vậy, Hội Thánh không xao lãng sứ vụ mình đã lãnh nhận từ nơi Chúa là phải làm cho tất cả những người có thể lãnh bí tích này được sinh ra bởi nước và Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa đã ràng buộc ơn cứu độ với bí tích Rửa Tội, nhưng chính Ngài không bị ràng buộc bởi các bí tích của Ngài. [Back]
1258
Từ đầu, Hội Thánh luôn xác tín rằng những người chịu chết vì đức tin, mặc dầu chưa lãnh nhận bí tích Rửa Tội, thì họ đã được tẩy rửa bằng cái chết của họ vì Đức Kitô và với Đức Kitô. Được tẩy rửa bằng máu như vậy, cũng như ước muốn chịu Phép Rửa, vẫn mang lại hiệu quả của bí tích Rửa Tội, tuy đó không phải là bí tích. [Back]
1259
Đối với những người dự tòng chết trước khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, việc họ khao khát tỏ tường muốn lãnh nhận bí tích này, liên kết với việc thống hối các tội lỗi của họ và với đức mến, bảo đảm cho họ ơn cứu độ mà họ đã không thể lãnh nhận qua bí tích. [Back]
1260
Vì Đức Kitô đã chết cho tất cả mọi người, và vì ơn gọi tối hậu của con người thật sự là duy nhất, đó là ơn gọi bởi Thiên Chúa, nên chúng ta phải hiểu rằng, Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng được tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua, bằng cách nào đó chỉ có Chúa biết. Bất kỳ ai, dù không biết Tin Mừng của Đức Kitô và không biết Hội Thánh của Người, nhưng tìm kiếm chân lý và thực thi ý muốn của Thiên Chúa theo như họ hiểu biết, thì có thể được cứu độ. Có thể giả thiết rằng, những người như vậy hẳn đã minh nhiên khao khát lãnh nhận bí tích Rửa Tội, nếu họ đã biết đến sự cần thiết của bí tích này. [Back]
1261
Về các trẻ em chết mà chưa được lãnh bí tích Rửa Tội, Hội Thánh chỉ biết phó dâng các em cho lòng thương xót của Thiên Chúa, như Hội Thánh đã làm trong nghi lễ an táng dành cho các em. Thật vậy, lòng thương xót cao cả của Thiên Chúa, “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2,4) và lòng thương mến của Chúa Giêsu đối với trẻ em khiến Người đã nói: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng” (Mc 10,14) cho phép chúng ta hy vọng rằng, có một con đường cứu độ dành cho những trẻ em chết mà chưa chịu Phép Rửa. Hội Thánh cũng hết sức khẩn thiết kêu gọi, đừng ngăn cản các trẻ em không cho chúng đến với Đức Kitô nhờ hồng ân của bí tích Rửa Tội. [Back]
Ân sủng của
bí tích Rửa Tội
Những hiệu quả khác nhau của bí tích Rửa Tội được nói lên qua các yếu tố khả giác của nghi thức bí tích. Việc dìm xuống nước là biểu tượng của sự chết và việc thanh tẩy, nhưng cũng là biểu tượng của sự tái sinh và sự canh tân. Vậy hai hiệu quả chính là việc thanh tẩy tội lỗi và sự tái sinh trong Chúa Thánh Thần. [Back]
1263
Để tha tội
Nhờ bí tích Rửa Tội, tất cả mọi tội lỗi đều được tha: tội tổ tông và tất cả các tội cá nhân, cũng như tất cả các hình phạt do tội. Thật vậy, nơi những người đã được tái sinh, không còn gì ngăn cản họ bước vào Nước Thiên Chúa, dù là tội của ông Ađam, dù là tội của bản thân, dù là những hậu quả của tội, mà hậu quả nghiêm trọng nhất là phải xa lìa Thiên Chúa. [Back]
1264
Tuy nhiên, một số hậu quả tạm thời của tội vẫn còn tồn tại nơi người đã chịu Phép Rửa, như đau khổ, bệnh tật, sự chết, hoặc những mỏng dòn trong cuộc sống như tính tình yếu đuối, v.v…, hoặc cả sự hướng chiều về tội mà Truyền thống gọi là dục vọng (concupiscentia) hay nói cách ẩn dụ là bùi nhùi nhóm lửa của tội (fomes peccati): Dục vọng, được để lại để chúng ta chiến đấu, không có khả năng làm hại những ai không chiều theo nó mà còn mạnh mẽ chống lại nó nhờ ân sủng của Đức Kitô Giêsu. Hơn nữa, “không đoạt giải nếu không thi đấu theo luật lệ” (2 Tm 2,5) [Back]
1265
Thụ tạo mới
Bí tích Rửa Tội không những rửa sạch mọi tội lỗi, mà còn làm cho người tân tòng trở nên một thụ tạo mới, thành nghĩa tử của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô và đồng thừa tự với Người, và thành đền thờ Chúa Thánh Thần. [Back]
1266
Chúa Ba Ngôi Chí Thánh ban cho người chịu Phép Rửa ơn thánh hóa, ơn công chính hóa:
– làm cho người đó có khả năng tin vào Thiên Chúa, trông cậy Ngài và yêu mến Ngài nhờ các nhân đức đối thần;
– làm cho người đó có khả năng sống và hành động theo sự tác động của Chúa Thánh Thần nhờ các hồng ân của Chúa Thánh Thần;
– làm cho người đó tăng trưởng trong điều thiện hảo nhờ các nhân đức luân lý.
Như vậy, toàn bộ cơ cấu của đời sống siêu nhiên của Kitô hữu đều bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội. [Back]
1267
Được tháp nhập vào Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô
Bí tích Rửa Tội làm cho chúng ta thành chi thể của Thân Thể Đức Kitô. “Chúng ta là phần thân thể của nhau” (Ep 4,25). Bí tích Rửa Tội tháp nhập chúng ta vào Hội Thánh. Từ giếng rửa tội, dân duy nhất của Thiên Chúa của Giao Ước Mới được sinh ra, dân này vượt lên trên mọi ranh giới tự nhiên hoặc nhân bản về dân tộc, văn hóa, chủng tộc và giới tính: “Tất cả chúng ta đều đã chịu Phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1 Cr 12,13). [Back]
1268
Những người đã chịu Phép Rửa trở nên “những viên đá sống động mà xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng… làm hàng tư tế thánh” (1 Pr 2,5). Nhờ bí tích Rửa Tội, họ được tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, vào sứ vụ tiên tri và vương đế của Người, họ là “giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Ngài, Đấng đã gọi ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1 Pr 2,9). Bí tích Rửa Tội cho họ tham dự vào chức tư tế cộng đồng của các tín hữu. [Back]
1269
Người đã chịu Phép Rửa đã trở thành phần tử của Hội Thánh, họ không còn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc về Đấng đã chết và đã sống lại vì chúng ta. Từ nay, họ được mời gọi để phục tùng lẫn nhau và phục vụ người khác trong sự hiệp thông của Hội Thánh, được mời gọi vâng lời và phục tùng các vị lãnh đạo của Hội Thánh với lòng kính trọng và quý mến. Cũng như bí tích Rửa Tội là nguồn mạch của các trách nhiệm và bổn phận, người chịu Phép Rửa cũng được hưởng các quyền lợi trong lòng Hội Thánh: được lãnh nhận các bí tích, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và được nâng đỡ bằng các trợ giúp thiêng liêng khác của Hội Thánh. [Back]
1270
Những người đã chịu Phép Rửa, “được tái sinh làm con Thiên Chúa (nhờ bí tích Rửa Tội), có bổn phận tuyên xưng trước mặt mọi người đức tin mà họ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa qua Hội Thánh và tham dự vào hoạt động tông đồ và truyền giáo của dân Thiên Chúa. [Back]
1271
Mối dây bí tích của sự hợp nhất các Kitô hữu
Bí tích Rửa Tội đặt nền tảng cho sự hiệp thông giữa tất cả các Kitô hữu, kể cả với những người chưa hoàn toàn hiệp thông với Hội Thánh Công giáo: Thật vậy, những người tin vào Đức Kitô và đã chịu Phép Rửa đúng nghi thức, vẫn hiệp thông một cách nào đó với Hội Thánh Công giáo, tuy là sự hiệp thông không hoàn hảo. Đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu Phép Rửa, những người đó đã được tháp nhập vào Đức Kitô, vì vậy họ có quyền mang danh Kitô hữu và xứng đáng được các con cái của Hội Thánh Công giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa. Vậy bí tích Rửa Tội là mối dây bí tích liên kết cách chặt chẽ sự hợp nhất giữa tất cả những người đã được tái sinh nhờ bí tích đó. [Back]
1272
Ấn tín thiêng liêng không thể tẩy xóa
Người chịu Phép Rửa, được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ bí tích Rửa Tội, được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Bí tích này ghi trên Kitô hữu một dấu chỉ thiêng liêng không thể tẩy xóa (ấn tín), một dấu chỉ cho thấy họ thuộc về Đức Kitô. Không một tội lỗi nào xóa được ấn tín này, mặc dù tội lỗi ngăn cản bí tích Rửa Tội mang lại những hiệu quả của ơn cứu độ. Bí tích Rửa Tội chỉ được ban một lần cho mãi mãi, nên không thể được tái ban. [Back]
1273
Được tháp nhập vào Hội Thánh nhờ bí tích Rửa Tội, các tín hữu nhận được ấn tín bí tích, ấn tín này thánh hiến họ để lo việc phụng tự Kitô giáo. Ấn tín Phép Rửa làm cho họ có khả năng và đòi buộc họ phải phục vụ Thiên Chúa bằng việc tham dự sống động vào phụng vụ thánh của Hội Thánh và phải thực thi chức tư tế Phép Rửa của họ qua việc làm chứng bằng một đời sống thánh thiện và bằng một đức mến đầy hiệu năng. [Back]
1274
“Ấn tín của Chúa”[84] là dấu ấn Chúa Thánh Thần ghi trên chúng ta “để chờ ngày cứu chuộc” (Ep 4,30). “Bí tích Rửa Tội là dấu ấn của đời sống vĩnh cửu. Tín hữu nào “gìn giữ dấu ấn” cho đến cùng, nghĩa là, trung thành với những đòi buộc của bí tích Rửa Tội của mình, thì có thể chết với dấu chỉ của đức tin, với đức tin của bí tích Rửa Tội của mình, trong sự mong đợi được vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa – đó là sự hoàn tất đức tin – và trong niềm hy vọng sống lại. [Back]
Tóm
lược
Việc khai tâm Kitô giáo được thực hiện bằng ba bí tích: bí tích Rửa Tội khởi đầu cuộc sống mới; bí tích Thêm Sức củng cố đời sống đó; bí tích Thánh Thể nuôi dưỡng tín hữu bằng Mình và Máu Đức Kitô để biến đổi họ trong Người. [Back]
1276
Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20). [Back]
1277
Bí tích Rửa Tội là việc sinh ra trong đời sống mới trong Đức Kitô. Theo ý muốn của Chúa, bí tích Rửa Tội cần thiết cho ơn cứu độ cũng như chính Hội Thánh mà bí tích Rửa Tội tháp nhập vào. [Back]
1278
Nghi thức chính yếu của bí tích Rửa Tội là dìm người dự tòng vào trong nước hay đổ nước trên đầu họ trong khi kêu cầu danh Ba Ngôi Chí Thánh là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. [Back]
1279
Hiệu quả của bí tích Rửa Tội hay ân sủng của bí tích Rửa Tội là một thực tế phong phú bao gồm: việc tha tội tổ tông và tất cả các tội cá nhân; việc sinh ra vào đời sống mới, nhờ đó con người trở thành nghĩa tử của Chúa Cha, chi thể của Đức Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần. Người chịu Phép Rửa được tháp nhập vào Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô, và tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô. [Back]
1280
Bí tích Rửa Tội
ghi vào linh hồn một dấu thiêng liêng không thể tẩy
xóa, gọi là ấn tín. Ấn tín này thánh hiến người
được rửa tội cho việc phụng tự Kitô giáo.
Vì ấn tín này, nên bí tích Rửa Tội không thể được
tái ban. [Back]
1281
Những người chịu chết vì đức tin cũng như người dự tòng và tất cả những ai tuy không nhận biết Hội Thánh, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa dưới tác động của ơn thánh và cố gắng chu toàn thánh ý Ngài, vẫn có thể đạt được ơn cứu độ, dù chết mà chưa lãnh nhận bí tích Rửa Tội. [Back]
1282
Từ thời rất xa xưa, bí tích Rửa Tội đã được ban cho trẻ em, vì đây là ân sủng và hồng ân của Thiên Chúa, chứ không do công trạng của con người. Các em được rửa tội trong đức tin của Hội Thánh. Việc bước vào đời sống Kitô hữu dẫn đến sự tự do đích thực. [Back]
1283
Về phần các trẻ em chết mà chưa được rửa tội, phụng vụ Hội Thánh mời gọi chúng ta tin tưởng vào lòng nhân từ của Thiên Chúa và cầu nguyện cho các em được ơn cứu độ. [Back]
1284
Trong trường hợp khẩn thiết, mọi người đều có thể Rửa Tội, miễn là có ý làm điều Hội Thánh muốn làm và đổ nước lên đầu người lãnh nhận trong khi đọc: “Tôi rửa anh (chị) nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. [Back]
Bí tích Thêm Sức
Bí tích Thêm Sức cùng với bí tích Rửa Tội
và Thánh Thể tạo thành tổng thể các bí tích khai tâm
Kitô giáo, mà sự thống nhất của nó phải được
giữ gìn. Vì thế, phải giải thích cho các
tín hữu biết việc lãnh nhận bí tích Thêm Sức
là cần thiết để hoàn tất ân sủng của bí
tích Rửa Tội. Thật vậy, những người
đã chịu Phép Rửa nhờ bí tích Thêm Sức, được
liên kết với Hội Thánh cách hoàn hảo hơn, được dư
đầy sức mạnh đặc biệt của Chúa Thánh Thần,
và như vậy, với tư cách là những nhân chứng thật
của Đức Kitô, họ càng có bổn phận khẩn thiết
hơn phải loan truyền và đồng thời bảo vệ đức
tin bằng lời nói và việc làm. [Back]
1286
Bí
tích Thêm Sức trong nhiệm cục Cứu Độ
Trong Cựu Ước các tiên tri đã loan báo rằng Thần Khí Chúa sẽ ngự xuống trên Đấng Messia thiên hạ đợi trông vì sứ vụ cứu độ của Người. Việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu, khi Người được ông Gioan làm phép rửa, là dấu chỉ cho thấy chính Người là Đấng phải đến, chính Người là Đấng Messia, là Con Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã được thụ thai bởi Chúa Thánh Thần; trọn cuộc đời và sứ vụ của Người đều hiệp thông trọn vẹn với Chúa Thánh Thần, Đấng “Chúa Cha ban cho Người vô ngần vô hạn” (Ga 3,34). [Back]
1287
Tuy nhiên, việc tràn đầy Thần Khí không phải chỉ dành cho Đấng Messia, mà phải được truyền thông cho toàn thể dân của Đấng Messia. Nhiều lần, Đức Kitô đã hứa việc tuôn ban Thần Khí như vậy, và Người đã thực hiện lời hứa đó trước tiên vào ngày lễ Vượt Qua[8], và sau đó, một cách hoành tráng hơn, vào ngày lễ Ngũ Tuần[9]. Được tràn đầy Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ bắt đầu rao giảng “những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2,11), và thánh Phêrô công bố rằng việc tuôn đổ Thánh Thần này là dấu chỉ thời đại Messia. Lúc đó những ai tin lời rao giảng của các Tông Đồ và chịu Phép Rửa, thì đến lượt họ cũng được lãnh nhận hồng ân Chúa Thánh Thần. [Back]
1288
Từ đó, thực hiện ý muốn của Đức Kitô, các Tông Đồ đã đặt tay ban hồng ân Thần Khí cho các tân tòng để kiện toàn ân sủng của bí tích Rửa Tội. Chính vì vậy, như trong thư gửi tín hữu Do thái, giáo lý về các phép rửa và về việc đặt tay đã được kể vào số các yếu tố của giáo huấn sơ đẳng của Kitô giáo. Việc đặt tay được công nhận cách đúng đắn theo truyền thống công giáo là nguồn gốc của bí tích Thêm Sức, và một cách nào đó, bí tích này làm cho ân sủng ngày lễ Ngũ Tuần luôn tồn tại trong Hội Thánh. [Back]
1289
Từ rất xa xưa, để biểu thị rõ hơn hồng ân Chúa Thánh Thần, việc xức dầu thơm (dầu Chrisma) được liên kết với việc đặt tay. Việc xức dầu này làm sáng tỏ danh xưng “Kitô hữu” (Christianus) có nghĩa là “người được xức dầu” và bắt nguồn từ danh xưng của chính Đức Kitô (Christus): “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người” (Cv 10,38). Nghi thức Xức Dầu này tồn tại đến ngày nay trong nghi lễ Đông cũng như Tây phương. Vì vậy, ở Đông phương, bí tích này được gọi là bí tích Dầu Chrisma (Christmatio là việc xức bằng dầu Myron, nghĩa là Dầu thánh). Ở Tây phương, thuật ngữ bí tích Thêm Sức (Confirmatio) nói lên rằng bí tích này vừa kiện toàn bí tích Rửa Tội, vừa củng cố ân sủng của bí tích Rửa Tội. [Back]
1290
Hai truyền thống: Đông phương và Tây phương
Trong những thế kỷ đầu, bí tích Thêm Sức thường được cử hành chung với bí tích Rửa Tội, thành một bí tích kép, theo kiểu nói của thánh Cyprianô. Ngoài các lý do khác, còn có sự gia tăng việc ban bí tích Rửa Tội cho các nhi đồng trong suốt năm, và có thêm nhiều giáo xứ (ở đồng quê), các giáo phận lớn dần, những điều này khiến Giám mục không thể hiện diện trong tất cả các cử hành rửa tội được nữa. Ở Tây phương, bởi vì người ta muốn dành cho Giám mục việc hoàn tất bí tích Rửa Tội, nên đã tách biệt về thời gian của hai bí tích này. Đông phương vẫn duy trì việc liên kết hai bí tích trên, nên bí tích Thêm Sức được ban do vị linh mục cử hành Phép Rửa. Tuy nhiên, vị này chỉ có thể ban bí tích Thêm Sức với dầu thánh đã được Giám mục thánh hiến. [Back]
1291
Một thói quen của Giáo Hội Rôma giúp phát triển cách thực hành của Tây phương, đó là việc xức dầu thánh hai lần sau khi Rửa Tội. Lần đầu do linh mục thực hiện trên người tân tòng vừa bước ra khỏi giếng rửa tội; việc xức dầu này chỉ được hoàn tất bằng việc xức dầu lần thứ hai do Giám mục ghi trên trán mỗi người tân tòng. Việc xức dầu thánh lần thứ nhất do linh mục thực hiện, vẫn thuộc về nghi thức rửa tội; nó nói lên sự tham dự của nguời chịu Phép Rửa vào các chức vụ tiên tri, tư tế và vương đế của Đức Kitô. Nếu bí tích Rửa Tội được ban cho người thành niên, thì chỉ có một lần xức dầu sau khi rửa tội: đó là việc xức dầu của bí tích Thêm Sức. [Back]
1292
Cách thực hành của các Giáo Hội Đông phương nhấn mạnh hơn đến tính thống nhất của việc khai tâm Kitô giáo. Cách thực hành của Giáo Hội La tinh diễn tả rõ ràng hơn sự hiệp thông của Kitô hữu mới với Giám mục của mình, là người bảo đảm và người phục vụ cho sự hợp nhất của Hội Thánh, cho đặc tính công giáo và tông truyền của Hội Thánh, và nhờ đó là mối dây liên kết với các nguồn gốc Tông Đồ của Hội Thánh Đức Kitô. [Back]
Các dấu chỉ và nghi thức của bí tích Thêm
Sức
Trong nghi thức của bí tích này, phải lưu ý đến dấu chỉ xức dầu và điều mà việc xức dầu nói lên và ghi dấu: đó là ấn tín thiêng liêng.
Việc xức dầu, theo ý nghĩa biểu tượng của Kinh Thánh và văn hoá cổ thời, có rất nhiều ý nghĩa: dầu là dấu chỉ sự sung mãn và niềm vui, dầu dùng để thanh tẩy (xức dầu trước và sau khi tắm), dầu làm cho dẻo dai (xức dầu cho các lực sĩ và các đô vật); dầu là dấu chỉ chữa lành bởi vì nó làm giảm đau các vết bầm và vết thương; dầu làm nổi bật vẻ đẹp, sức khỏe và sức mạnh. [Back]
1294
Tất cả các ý nghĩa đó của việc xức dầu đều được gặp lại trong đời sống bí tích. Việc xức dầu dự tòng trước bí tích Rửa Tội có ý nghĩa thanh tẩy và tăng sức. Việc xức dầu bệnh nhân diễn tả sự chữa lành và an ủi. Việc xức dầu Thánh sau bí tích Rửa Tội, trong bí tích Thêm Sức và Truyền Chức Thánh, là dấu chỉ sự thánh hiến. Nhờ bí tích Thêm Sức, các Kitô hữu, nghĩa là những người đã được xức dầu, tham dự nhiều hơn vào sứ vụ của Chúa Giêsu Kitô và vào sự tràn đầy Chúa Thánh Thần như Người, để cả cuộc đời của họ tỏa ngát hương thơm của Đức Kitô. [Back]
1295
Nhờ việc xức dầu này, người lãnh nhận bí tích Thêm Sức nhận được một dấu chỉ, là ấn tín của Chúa Thánh Thần. Ấn tín là biểu tượng của một nhân vật, là dấu chỉ uy quyền của người đó, dấu chỉ quyền sở hữu của người đó trên một đối tượng nào đó – bởi vậy ngày xưa, các binh sĩ được ghi dấu bằng ấn tín của vị chỉ huy họ, các nô lệ cũng được ghi dấu bằng ấn tín của chủ mình –; ấn tín chứng thực một văn kiện pháp lýhay một tài liệuvà có khi ấn tín niêm phong làm cho tài liệu đó trở thành một tài liệu mật. [Back]
1296
Chính Đức Kitô tuyên bố Người được ghi dấu bằng ấn tín của Cha Người. Kitô hữu cũng được ghi dấu bằng một ấn tín: “Đấng củng cố chúng tôi cùng với anh em trong Đức Kitô, và đã xức dầu cho chúng ta, Đấng ấy là Thiên Chúa. Chính Ngài cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Cr 1,21-22). Ấn tín này của Chúa Thánh Thần xác nhận một người hoàn toàn thuộc về Đức Kitô, để vĩnh viễn phục vụ Người, nhưng ấn tín đó cũng là một lời hứa là được Thiên Chúa che chở trong cuộc thử thách lớn lao thời cánh chung. [Back]
1297
Cử hành bí tích Thêm Sức
Một nghi thức quan trọng đi trước việc cử hành bí tích Thêm sức, nhưng một cách nào đó cũng dự phần trong việc cử hành này, đó là việc thánh hiến dầu thánh. Chính Giám mục, trong Thánh lễ Dầu ngày thứ năm Tuần Thánh, thánh hiến dầu thánh để sử dụng trong toàn giáo phận của ngài. Trong các Giáo Hội Đông phương, việc thánh hiến này cũng dành riêng cho vị Thượng phụ.
Trong Phụng vụ Antiôchia, kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) trong nghi thức thánh hiến dầu thánh (tiếng Hy lạp là myron) là như sau: Lạy Cha xin sai Chúa Thánh Thần đến trên chúng con và trên dầu này đang đặt trước mặt chúng con đây và xin Cha thánh hiến dầu này, để đối với mọi người được xức và được ghi dấu, nó sẽ là dầu thánh, dầu tư tế, dầu vương đế, y phục sáng láng, áo choàng của ơn cứu độ, sự che chở đời sống, hồng ân thiêng liêng, ơn thánh hóa linh hồn và thân xác, sự hoan lạc của tâm hồn, sự ngọt ngào vĩnh cửu, niềm vui vững bền, ấn tín không thể tẩy xóa, khiên thuẫn của đức tin, và mũ chiến gây kinh hoàng chống lại mọi hành động của Kẻ Thù. [Back]
1298
Khi bí tích Thêm Sức được cử hành tách biệt khỏi bí tích Rửa Tội, như trong nghi thức Rôma, thì phụng vụ bí tích bắt đầu bằng việc lặp lại lời hứa Phép Rửa và việc tuyên xưng đức tin của người sắp nhận bí tích Thêm Sức. Điều này cho thấy cách rõ ràng là bí tích Thêm Sức có sự liên tục với bí tích Rửa Tội. Khi một người thành niên được rửa tội, thì liền sau đó họ sẽ lãnh nhận bí tích Thêm Sức và tham dự vào bí tích Thánh Thể. [Back]
1299
Trong nghi thức Rôma, Giám mục giơ tay trên toàn thể những người lãnh nhận bí tích Thêm Sức. Từ thời các Thánh Tông Đồ, cử chỉ này là dấu chỉ hồng ân của Thần Khí. Và Giám mục cầu khẩn việc tuôn đổ Thần Khí như sau:
Lạy Thiên Chúa toàn năng, là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, Chúa đã tái sinh các tôi tớ Chúa đây bởi nước và Thánh Thần khi giải thoát họ khỏi tội lỗi, thì lạy Chúa, xin hãy ban Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi đến trong những người này; xin ban cho họ thần trí khôn ngoan và thông hiểu, thần trí lo liệu và sức mạnh, thần trí suy biết và đạo đức, xin ban cho những người này đầy ơn kính sợ Chúa. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. [Back]
1300
Tiếp theo là nghi thức chính yếu của bí tích. Trong nghi lễ Latinh, bí tích Thêm Sức được trao ban bằng việc xức dầu thánh trên trán, đồng thời với việc đặt tay và đọc lời này: ‘T…, hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần’. Trong các Giáo hội Đông phương theo nghi lễ Byzantin, việc xức dầu thánh được thực hiện sau kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần, trên những phần có ý nghĩa hơn của thân thể: trán, mắt, mũi, tai, môi, ngực, lưng, hai tay và hai chân; mỗi lần xức dầu, chủ sự nói: Tôi ghi dấu cho anh bằng hồng ân của Chúa Thánh Thần. [Back]
1301
Cái hôn bình an kết thúc nghi thức bí tích, nói lên và biểu lộ sự hiệp thông trong Hội Thánh với Giám mục và với tất cả các tín hữu. [Back]
Những hiệu quả của bí tích Thêm Sức
Việc cử hành cho thấy rõ hiệu quả của bí tích Thêm Sức là sự tuôn đổ tràn đầy Chúa Thánh Thần, như xưa Ngài đã được tuôn đổ trên các Tông Đồ ngày lễ Ngũ Tuần. [Back]
1303
Vì vậy, bí tích Thêm Sức mang lại sự gia tăng và thấm nhuần sâu xa hơn ân sủng của bí tích Rửa Tội:
– giúp chúng ta bén rễ sâu hơn vào việc làm con cái Thiên Chúa, trong đó chúng ta kêu lên: “Abba, Cha ơi!” (Rm 8,15);
– kết hợp chúng ta với Đức Kitô cách khăng khít hơn;
– gia tăng trong chúng ta các hồng ân của Chúa Thánh Thần;
– làm cho dây liên kết của chúng ta với Hội Thánh được hoàn hảo hơn;
– ban cho chúng ta sức mạnh đặc biệt của Chúa Thánh Thần, để chúng ta dùng lời nói và việc làm mà truyền bá và bảo vệ đức tin với tư cách là những chứng nhân đích thực của Đức Kitô, để chúng ta can đảm tuyên xưng danh Đức Kitô và không bao giờ hổ thẹn vì Thập Giá:
Vậy anh em nhớ, anh em đã lãnh nhận ấn tín của Chúa Thánh Thần: Thần Khí khôn ngoan và thông hiểu, Thần Khí lo liệu và sức mạnh, Thần Khí suy biết và đạo đức, Thần Khí của sự kính sợ Thiên Chúa, và hãy gìn giữ những gì anh em đã lãnh nhận. Chúa Cha đã ghi ấn tín cho anh em, Chúa Kitô đã tăng sức cho anh em và đã đặt bảo chứng, là Chúa Thánh Thần, vào trái tim anh em. [Back]
1304
Bí tích Thêm Sức là sự kiện toàn bí tích Rửa Tội, và cũng như bí tích Rửa Tội, bí tích Thêm Sức chỉ được ban một lần mà thôi. Bí tích Thêm Sức in vào linh hồn một dấu ấn thiêng liêng không thể tẩy xóa được, một ấn tí, đó là dấu ấn Đức Kitô đã ghi cho Kitô hữu bằng ấn tín của Chúa Thánh Thần, khi ban xuống cho họ sức mạnh từ trên cao để họ trở nên chứng nhân của Người. [Back]
1305
Ấn tín này kiện toàn chức tư tế cộng đồng của các tín hữu mà họ đã lãnh nhận trong bí tích Rửa Tội. Người lãnh bí tích Thêm Sức nhận được sức mạnh để công khai tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô bằng lời nói, như do một chức vụ chính thức (quasi ex officio). [Back]
Ai có thể lãnh nhận bí tích Thêm Sức?
Mọi người đã được Rửa Tội mà chưa được Thêm Sức, đều có thể và phải lãnh nhận bí tích Thêm Sức. Bởi vì các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể tạo thành một thể thống nhất, nên các tín hữu buộc phải lãnh nhận bí tích Thêm Sức vào thời gian thích hợp, bởi vì nếu không có bí tích Thêm Sức và Thánh Thể, thì tuy bí tích Rửa Tội vẫn chắc chắn thành sự và hữu hiệu, nhưng việc khai tâm Kitô giáo vẫn chưa được trọn vẹn. [Back]
1307
Thói quen của Giáo Hội La tinh, đã từ nhiều thế kỷ, lấy tuổi biết phân biệt tốt xấu như thời điểm phải quy chiếu để lãnh nhận bí tích Thêm Sức. Nhưng trong trường hợp nguy tử, các nhi đồng phải được Thêm Sức, mặc dầu chúng chưa đến tuổi biết phân biệt tốt xấu. [Back]
1308
Nếu đôi khi chúng ta gọi bí tích Thêm Sức là bí tích của sự trưởng thành Kitô giáo, thì đừng vì vậy mà lẫn lộn tuổi trưởng thành về đức tin với tuổi trưởng thành của sự tăng trưởng tự nhiên; cũng đừng quên rằng ân sủng của bí tích Rửa Tội là một ân sủng của sự tuyển chọn nhưng không (của Thiên Chúa) chứ không do công trạng (của chúng ta), nó không cần một xác nhận nào để trở thành có hiệu lực. Thánh Tôma nhắc nhớ điều đó:
Tuổi tác phần xác không làm hại đến linh hồn. Bởi đó cả trong tuổi thơ, con người cũng có thể đạt sự trọn hảo của tuổi tinh thần: về điều này sách Khôn Ngoan dạy: ‘Tuổi thọ đáng kính không phải bởi sống lâu, cũng không do số tuổi’ (Kn 4,8). Vì vậy, có nhiều trẻ em, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà chúng đã lãnh nhận, đã anh dũng chiến đấu đến đổ máu vì Đức Kitô. [Back]
1309
Việc chuẩn bị cho bí tích Thêm Sức phải nhắm dẫn đưa Kitô hữu đến sự kết hợp thân mật hơn với Đức Kitô, đến sự kết hợp sống động hơn với Chúa Thánh Thần, với hoạt động của Ngài, với các hồng ân của Ngài, với sự thân thiết trước những mời gọi của Ngài, để họ có thể đảm nhận cách tốt hơn những trách nhiệm tông đồ của đời sống Kitô hữu. Do đó, giáo lý Thêm Sức phải cố gắng khơi dậy ý thức mình thuộc về Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô, Hội Thánh phổ quát cũng như cộng đoàn giáo xứ. Cộng đoàn này có trách nhiệm đặc biệt trong việc chuẩn bị cho những người sắp chịu phép Thêm Sức. [Back]
1310
Để lãnh nhận bí tích Thêm Sức, phải ở trong tình trạng ân sủng. Phải đến với bí tích Hòa Giải để được thanh tẩy hầu đón nhận hồng ân của Chúa Thánh Thần. Phải cầu nguyện tha thiết hơn để chuẩn bị lãnh nhận sức mạnh và các ân sủng của Chúa Thánh Thần với tâm hồn vâng phục và sẵn sàng. [Back]
1311
Đối với bí tích Thêm Sức, cũng như đối với bí tích Rửa Tội, các ứng viên phải có cha hay mẹ đỡ đầu, để được trợ giúp thiêng liêng. Nên chọn chính người đỡ đầu Rửa Tội để làm rõ nét sự thống nhất của hai bí tích này. [Back]
Thừa tác viên bí tích Thêm Sức
Thừa tác viên nguyên thủy của bí tích Thêm Sức là Giám mục.
Ở Đông phương, thông thường linh mục nào ban bí tích Rửa Tội, sẽ ban luôn bí tích Thêm Sức trong cùng một cử hành. Tuy nhiên, linh mục phải dùng dầu thánh đã được vị Thượng phụ hay Giám mục thánh hiến, để nói lên tính duy nhất tông truyền của Hội Thánh mà các dây liên kết của tính duy nhất đó được củng cố nhờ bí tích Thêm Sức. Trong Giáo Hội La tinh trình tự này cũng được áp dụng khi rửa tội cho người thành niên, hay khi đón nhận vào hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công giáo, một người đã chịu Phép Rửa trong một cộng đoàn Kitô giáo khác, mà chưa lãnh nhận bí tích Thêm Sức thành sự. [Back]
1313
Trong nghi lễ La tinh, thừa tác viên thông thường của bí tích Thêm Sức là Giám mục. Khi cần, Giám mục có thể uỷ quyền cho các linh mục ban bí tích Thêm Sức; nhưng ngài không được quên rằng, việc ban bí tích Thêm Sức được dành cho ngài, đó chính là lý do khiến việc cử hành bí tích Thêm Sức đã được tách biệt khỏi bí tích Rửa Tội một khoảng thời gian. Các Giám mục là những người kế nhiệm các Tông Đồ, các ngài đã được lãnh nhận sự viên mãn của bí tích Truyền Chức Thánh. Việc chính các ngài cử hành bí tích Thêm Sức, nói lên cách rõ ràng rằng, bí tích Thêm Sức đem lại hiệu quả là những người lãnh nhận bí tích này được kết hợp một cách chặt chẽ hơn với Hội Thánh, với các nguồn gốc tông truyền của Hội Thánh và với sứ vụ của Hội Thánh là làm chứng cho Đức Kitô. [Back]
1314
Nếu một Kitô hữu đang trong tình trạng nguy tử, thì bất cứ linh mục nào cũng có thể ban bí tích Thêm Sức cho họ. Thật vậy, Hội Thánh muốn rằng không người con nào của mình, kể cả trẻ nhỏ nhất, phải lìa đời mà trước đó chưa được Chúa Thánh Thần kiện toàn bằng hồng ân do sự sung mãn của Đức Kitô. [Back]
Tóm lược
“Các Tông Đồ ở
Giêrusalem nghe biết dân miền Samari đã đón nhận Lời
Thiên Chúa, thì cử ông Phêrô và ông Gioan đến với họ.
Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ
nhận được Thánh Thần. Vì Thánh Thần chưa ngự
xuống một ai trong nhóm họ, họ mới chỉ chịu
Phép Rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay
trên họ, và họ nhận được Thánh Thần” (Cv
8,14-17).
1316
Bí tích Thêm Sức
kiện toàn ân sủng Rửa Tội. Đây là bí tích ban Chúa
Thánh Thần để giúp chúng ta tiến sâu hơn vào ơn làm con cái
Thiên Chúa, tháp nhập chúng ta cách mật thiết hơn vào Đức
Kitô, làm cho dây liên kết với Hội Thánh được chặt
chẽ hơn, gắn bó thiết thực hơn với sứ mạng
của Hội Thánh và giúp chúng ta làm chứng cho đức tin
Kitô giáo bằng lời nói và việc làm. [Back]
1317
Như bí tích Rửa
Tội, bí tích Thêm Sức cũng in vào tâm hồn tín hữu
một dấu ấn thiêng liêng, một ấn tín không tẩy
xóa được. Vì thế, mỗi người chỉ có thể
lãnh nhận bí tích Thêm Sức một lần mà thôi. [Back]
1318
Ở Đông phương, bí tích Thêm Sức được trao ban liền sau bí tích Rửa Tội; tiếp đó, là việc tham dự bí tích Thánh Thể – một truyền thống làm nổi bật sự thống nhất của ba bí tích khai tâm Kitô giáo. Giáo Hội La tinh ban bí tích Thêm Sức cho các em đã tới tuổi khôn; và thường dành quyền ban bí tích này cho Giám mục để thấy rõ bí tích này củng cố sự liên kết với Hội Thánh. [Back]
1319
Người muốn lãnh bí tích Thêm Sức phải là người đã đạt tới tuổi khôn, phải tuyên xưng đức tin, phải đang trong tình trạng ân sủng, có ý muốn lãnh nhận bí tích và được chuẩn bị để lãnh nhận vai trò môn đệ và chứng nhân của Đức Kitô, trong cộng đoàn giáo hội cũng như trong các lãnh vực trần thế. [Back]
1320
Nghi thức
chính yếu của bí tích Thêm Sức là việc xức dầu
thánh trên trán người đã lãnh nhận bí tích Rửa
Tội (Giáo Hội Đông phương còn xức dầu trên những
phần khác của thân thể), cùng với việc đặt
tay của thừa tác viên và đọc: “Hãy lãnh nhận
ấn tín ơn Chúa Thánh Thần” (nghi lễ La tinh) hay "Ấn
tín ơn Chúa Thánh Thần” (nghi lễ Byzantin). [Back]
1321
Khi bí tích Thêm Sức
được cử hành tách khỏi bí tích Rửa Tội, dây liên
hệ với bí tích Rửa Tội được diễn tả,
ngoài các việc khác, bằng việc lặp lại lời
hứa trong bí tích Rửa Tội. Việc trao ban bí tích Thêm Sức
trong Thánh lễ nhằm nhấn mạnh tính thống nhất
của các bí tích khai tâm Kitô giáo. [Back]
Bí tích Thánh Thể
Bí tích Thánh Thể hoàn tất việc khai tâm Kitô giáo. Những người đã được nâng lên hàng tư tế vương giả nhờ bí tích Rửa Tội, và được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô cách sâu xa hơn nhờ bí tích Thêm Sức, nay nhờ bí tích Thánh Thể được tham dự vào chính hy tế của Chúa cùng với toàn thể cộng đoàn. [Back]
1323
Đang khi ăn bữa Tiệc ly, trong đêm Người bị nộp, Đấng Cứu Độ chúng ta đã thiết lập Hy tế Thánh Thể bằng Mình và Máu Người, để nhờ đó, Hy tế thập giá trường tồn qua các thời đại, cho tới khi Người đến, và cũng để ủy thác cho Hiền Thê yêu quý của Người là Hội Thánh, việc tưởng nhớ sự Chết và Sống lại của Người: Đây là bí tích tình yêu, là dấu chỉ sự hợp nhất, là mối dây bác ái, là bữa tiệc Vượt Qua, nơi chúng ta lãnh nhận Đức Kitô, linh hồn được tràn đầy ân sủng và nhận được bảo đảm cho vinh quang tương lai. [Back]
1324
Thánh Thể, nguồn mạch và tột đỉnh của đời
sống Hội Thánh
Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống Kitô giáo. Những bí tích khác cũng như mọi thừa tác vụ trong Hội Thánh, và các hoạt động tông đồ, đều gắn liền với bí tích Thánh Thể và quy hướng về bí tích đó. Thật vậy, phép Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng toàn bộ của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó là chính Đức Kitô, Chiên Vượt Qua của chúng ta. [Back]
1325
Việc hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa và sự hợp nhất của dân Thiên Chúa, nhờ hai điều đó mà Hội Thánh tồn tại, được diễn tả cách xác đáng và thực hiện cách kỳ diệu nhờ bí tích Thánh Thể. Trong bí tích này, hành động Thiên Chúa thánh hoá trần gian trong Đức Kitô và việc phụng tự mà con người dâng lên Đức Kitô và nhờ Người mà dâng lên Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, cả hai đều đạt tới tột đỉnh. [Back]
1326
Sau cùng, nhờ việc cử hành bí tích Thánh
Thể, chúng ta đã được kết hợp với phụng
vụ trên trời và tham dự trước vào đời sống
vĩnh cửu, trong đó “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). [Back]
1327
Tóm lại, bí tích Thánh Thể là bản toát yếu và tổng luận của đức tin của chúng ta: Cách chúng ta suy nghĩ phù hợp với bí tích Thánh Thể, và ngược lại bí tích Thánh Thể xác nhận cách suy nghĩ của chúng ta. [Back]
Bí tích Thánh Thể được gọi thế nào?
Sự phong phú vô tận của bí tích này được diễn tả qua nhiều tên gọi khác nhau mà người ta dành cho bí tích này. Mỗi một trong các tên gọi đó gợi lên một số phương diện. Người ta gọi bí tích Thánh Thể là:
Lễ Tạ Ơn, bởi vì đây chính là hành động cảm tạ Thiên Chúa. Các từ Eucharistein (Lc 22,19; 1 Cr 11,24) và eulogein (Mt 26,26; Mc 14,22) nhắc lại những lời chúc tụng của dân Do Thái – nhất là trong bữa ăn – để tung hô các kỳ công của Thiên Chúa: tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa. [Back]
1329
Bữa ăn tối của Chúa, bởi vì Hội Thánh tưởng niệm bữa Tiệc Ly Chúa cùng ăn với các môn đệ Người hôm trước ngày Người chịu nạn, và đây như là việc tham dự trước vào Tiệc Cưới của Con Chiên trong thành Giêrusalem thiên quốc.
Việc Bẻ Bánh, vì nghi thức này, nét đặc thù của bữa ăn Do Thái, đã được Chúa Giêsu sử dụng khi Người dâng lời chúc tụng và phân phối bánh với tư cách người chủ tiệc, đặc biệt trong bữa Tiệc Ly. Nhờ cử chỉ này, các môn đệ nhận ra Người sau khi Người sống lại; và các Kitô hữu tiên khởi đã dùng thuật ngữ Bẻ Bánh”để nói về các buổi cử hành Thánh Thể của họ. Như vậy họ muốn nói lên rằng, tất cả những ai cùng ăn một tấm bánh duy nhất được bẻ ra, là Đức Kitô, thì được hiệp thông với Người và làm thành một thân thể trong Người.
Cộng đoàn Thánh Thể (Synaxis), bởi vì bí tích Thánh Thể được cử hành trong cộng đoàn các tín hữu, đó là cách diễn tả hữu hình về Hội Thánh. [Back]
1330
Việc Tưởng Niệm cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa.
Hy tế thánh, bởi vì hy tế duy nhất của Đức Kitô Đấng Cứu Độ được hiện tại hoá và bao gồm cả lễ vật của Hội Thánh. Bí tích Thánh Thể còn được gọi là Hy tế Thánh lễ, “lễ tế ngợi khen” (Dt 13,15), lễ tế thiêng liêng, hy tế tinh tuyền và thánh thiện, bởi vì bí tích này hoàn tất và vượt trên mọi hy tế của Giao Ước cũ.
Phụng vụ thánh và thần linh, bởi vì tất cả phụng vụ của Hội Thánh có trung tâm và cách diễn tả cô đọng nhất trong việc cử hành bí tích này; cũng theo nghĩa đó bí tích Thánh Thể còn được gọi là cuộc cử hành Các mầu nhiệm thánh. Bí tích này cũng được gọi là Bí Tích Cực Thánh, bởi vì là bí tích của các bí tích. Danh xưng này để chỉ các hình dạng Thánh Thể được lưu giữ trong Nhà Tạm. [Back]
1331
Sự hiệp lễ, bởi vì nhờ bí tích này, chúng ta được kết hợp với Đức Kitô, là Đấng cho chúng ta tham dự vào Mình và Máu Người, để làm thành một thân thể duy nhất; bí tích này cũng được gọi là Những sự thánh (ta hagia; sancta)
– đây là ý nghĩa đầu tiên của mầu nhiệm các Thánh thông công mà Tín biểu của các Tông Đồ nói đến
– Bánh các Thiên thần, Bánh bởi trời, Thuốc
trường sinh, Của ăn đàng. [Back]
1332
Thánh Lễ (Lễ Misa), bởi vì phụng vụ trong đó mầu nhiệm cứu độ được hoàn tất, được kết thúc bằng việc sai các tín hữu ra đi (missio), để họ chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày của họ. [Back]
Bí tích Thánh Thể trong nhiệm cục Cứu Độ
Các dấu chỉ là bánh và rượu
Ở trung tâm việc cử hành bí tích Thánh Thể có bánh và rượu, mà nhờ lời của Đức Kitô và việc khẩn cầu Chúa Thánh Thần, sẽ trở thành Mình và Máu của Đức Kitô. Trung thành với mệnh lệnh của Chúa, để nhớ đến Người, cho tới khi Người lại đến trong vinh quang, Hội Thánh tiếp tục làm điều Chúa đã làm hôm trước ngày Người chịu khổ hình: “Người cầm lấy bánh...”, “Người cầm lấy chén rượu...”. Các dấu chỉ là bánh và rượu, khi đã trở nên Mình và Máu Đức Kitô cách mầu nhiệm, vẫn tiếp tục nói lên sự thiện hảo của công trình tạo dựng. Vì vậy trong phần Dâng lễ, chúng ta tạ ơn Đấng Tạo Hoá vì đã ban bánh và rượu, là kết quả của “công lao của con người,” nhưng trước hết đó là “hoa mầu ruộng đất” và “sản phẩm từ cây nho”, tức là những hồng ân của Đấng Tạo Hoá. Hội Thánh nhận ra cử chỉ của Melchisedech, là vua và là tư tế, ông “mang bánh và rượu ra” (St 14,18), là hình ảnh tiên báo cho hiến lễ của mình. [Back]
1334
Thời Giao Ước cũ, trong số các hoa trái đầu mùa của ruộng đất, bánh và rượu được dâng lên làm lễ vật, với tính cách một dấu chỉ của lòng biết ơn đối với Đấng Tạo Hoá. Nhưng chúng còn mang một ý nghĩa mới trong bối cảnh cuộc Xuất Hành: Các bánh không men mà người Do Thái hằng năm vẫn ăn trong dịp lễ Vượt Qua, gợi nhớ đến sự vội vã của cuộc ra đi thoát khỏi Ai Cập; kỷ niệm về manna trong sa mạc luôn nhắc nhớ dân Israel rằng họ sống bằng bánh là Lời Chúa. Cuối cùng, bánh ăn hằng ngày là sản phẩm của Đất hứa, là bảo chứng việc Thiên Chúa trung tín với các lời hứa của Ngài. “Chén chúc tụng” (1 Cr 10,16) vào cuối bữa tiệc Vượt Qua của người Do Thái, đã thêm cho rượu một ý nghĩa cánh chung ngoài niềm vui lễ hội, đó là sự trông chờ Đấng Messia đến tái tạo Giêrusalem. Khi thiết lập bí tích Thánh Thể của Người, Chúa Giêsu đã ban một ý nghĩa mới và dứt khoát cho việc dâng lời chúc tụng trên bánh và chén rượu. [Back]
1335
Các phép lạ hóa bánh ra nhiều, khi Chúa dâng lời chúc tụng, bẻ bánh ra và trao cho các môn đệ Người để nuôi dưỡng đám đông, là hình ảnh tiên báo sự vô cùng phong phú của tấm bánh duy nhất là Thánh Thể của Người. Dấu chỉ nước hoá thành rượu ở Cana đã loan báo Giờ vinh quang của Chúa Giêsu. Dấu chỉ này biểu lộ sự hoàn tất của bữa tiệc cưới trong Nước của Chúa Cha, nơi các tín hữu uống rượu mới đã trở thành Máu Đức Kitô. [Back]
1336
Lời loan báo đầu tiên về bí tích Thánh Thể đã gây chia rẽ các môn đệ, giống như lời loan báo về cuộc khổ nạn đã làm cho họ vấp phạm: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60). Thánh Thể và Thánh Giá là những hòn đá gây vấp ngã. Vẫn là cùng một mầu nhiệm, và mầu nhiệm đó không ngừng là cớ gây chia rẽ. “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67): Câu hỏi này của Chúa vang vọng qua các thời đại, với tính cách một lời mời gọi của tình yêu của Người để khám phá ra rằng, chỉ một mình Người mới có “những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68), và việc đón nhận hồng ân Thánh Thể của Người trong đức tin là đón nhận chính Người. [Back]
1337
Việc thiết lập bí tích Thánh Thể
Khi yêu thương những kẻ thuộc về mình, Chúa đã yêu họ đến cùng. Khi biết đã đến Giờ lìa bỏ thế gian mà về cùng Cha mình, trong một bữa tiệc, Người đã rửa chân cho họ và ban cho họ giới luật yêu thương. Để lưu lại cho họ bảo chứng của tình yêu này, để không bao giờ lìa xa những kẻ thuộc về mình, và để họ được tham dự vào cuộc Vượt Qua của Người, Người đã thiết lập bí tích Thánh Thể, với tính cách một việc để nhớ đến cái Chết và sự Sống lại của Người, và Người truyền cho các Tông Đồ Người, những vị Người đặt làm tư tế của Giao Ước Mới phải cử hành bí tích này cho tới khi Người lại đến. [Back]
1338
Ba Tin Mừng Nhất Lãm và thánh Phaolô lưu
truyền cho chúng ta bản tường thuật việc thiết
lập bí tích Thánh Thể; về phần mình, thánh Gioan
thuật lại những lời của Chúa Giêsu tại hội
đường Capharnaum, những lời đó thật sự chuẩn
bị cho việc thiết lập bí tích Thánh Thể: chính Đức
Kitô tự xưng mình là Bánh Hằng Sống, từ trời
xuống. [Back]
1339
Chúa Giêsu chọn thời gian mừng lễ Vượt Qua để thực hiện điều Người đã báo trước ở Capharnaum: Người ban Mình và Máu Người cho các môn đệ của Người:
“Đã đến ngày lễ Bánh Không Men, ngày phải sát tế chiên Vượt Qua. Chúa Giêsu sai ông Phêrô với ông Gioan đi và dặn: ‘Các anh hãy đi dọn cho chúng ta ăn lễ Vượt Qua’… Các ông ra đi ... và dọn tiệc Vượt Qua. Khi giờ đã đến, Chúa Giêsu vào bàn cùng với các Tông Đồ. Người nói với các ông: ‘Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa’... Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: ‘Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy’. Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: ‘Chén này là giao ước mới, lập bằng Máu Thầy, máu đổ ra vì anh em’” (Lc 22,7-20) [Back]
1340
Khi cử hành bữa Tiệc Ly với các Tông Đồ của Người trong khung cảnh bữa tiệc Vượt Qua, Chúa Giêsu đã ban cho lễ Vượt Qua của người Do Thái một ý nghĩa dứt khoát. Quả thật, cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu để về cùng Cha Người, qua cái Chết và sự Sống lại, thật sự là cuộc Vượt Qua mới, được tham dự trước trong bữa Tiệc Ly và được cử hành trong bí tích Thánh Thể, cuộc Vượt Qua đó hoàn thành lễ Vượt Qua của người Do Thái và tham dự trước vào lễ Vượt Qua chung cuộc của Hội Thánh trong vinh quang Nước Thiên Chúa. [Back]
1341
Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy
Mệnh lệnh Chúa Giêsu truyền phải lặp lại những cử chỉ và lời nói của Người “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26), không chỉ đòi hỏi phải nhớ đến Chúa Giêsu và những gì Người đã làm. Mệnh lệnh này nhắm đến việc cử hành phụng vụ, do các Tông Đồ và những người kế nhiệm các ngài, để tưởng niệm Đức Kitô, tưởng niệm cuộc đời của Người, cái Chết và sự Sống lại của Người, và việc chuyển cầu của Người bên Chúa Cha. [Back]
1342
Ngay từ đầu, Hội Thánh đã trung thành tuân giữ mệnh lệnh này của Chúa. Về Hội Thánh tại Giêrusalem có bài tường thuật như sau:
“Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng... Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” (Cv 2,42.46). [Back]
1343
Đặc biệt vào “ngày thứ nhất trong tuần,
nghĩa là ngày Chúa Nhật, ngày Chúa Giêsu phục sinh, các Kitô hữu
tụ họp để “bẻ bánh” (Cv 20,7). Từ đó đến nay, việc
cử hành bí tích Thánh Thể tiếp tục tồn tại
y như vậy, đến độ ngày nay chúng ta vẫn gặp được
việc cử hành đó, ở bất cứ đâu trong Hội
Thánh, với cùng một cấu trúc căn bản. Bí tích Thánh Thể
vẫn mãi mãi là trung tâm của đời sống Hội
Thánh. [Back]
1344
Như vậy, từ cử hành này sang cử hành khác để loan báo mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu, “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26), dân Thiên Chúa trên đường lữ hành, qua đường hẹp của thập giá, đang tiến về bàn tiệc thiên quốc, nơi tất cả mọi người được tuyển chọn sẽ ngồi vào bàn tiệc của Nước Thiên Chúa.
Cử hành phụng vụ Thánh Thể
Thánh lễ của mọi thời đại
Từ thế kỷ II, chúng ta có chứng từ của thánh Justinô tử đạo về những nét chính của việc cử hành thánh lễ. Những nét chính đó vẫn được giữ nguyên cho đến ngày nay, trong tất cả các truyền thống phụng vụ lớn. Để giải thích cho hoàng đế ngoại giáo Antôniô Piô (138-161) những gì các Kitô hữu đã làm, thánh Justinô viết vào khoảng năm 155 như sau:
Vào ngày Mặt Trời như người ta thường gọi, mọi người ở thành phố hay ở nông thôn đều họp lại một nơi. Và người ta đọc ký sự của các Tông Đồ hoặc sách của các Tiên tri, tuỳ thời gian cho phép. Khi người đọc kết thúc, vị chủ sự lên tiếng nhắn nhủ và khuyến khích mọi người bắt chước những điều tốt lành đó. Sau đó, tất cả chúng tôi cùng đứng dậy và dâng lời cầu nguyện cho chính chúng tôi và cho mọi người khác ở khắp nơi, để chúng tôi sống ngay chính trong các việc làm và trong việc tuân giữ các giới răn, hầu chúng tôi đạt được ơn cứu độ vĩnh cửu.
Khi kết thúc việc cầu nguyện, chúng tôi trao hôn bình an cho nhau. Tiếp đến, người ta mang đến cho vị chủ sự bánh và một chén rượu có pha nước. Vị chủ sự cầm lấy bánh rượu, dâng lời tán tụng và tôn vinh Cha của vũ trụ, nhân danh Chúa Con và Chúa Thánh Thần và đọc một kinh tạ ơn dài (tiếng Hy Lạp: eucharistian) về việc chúng tôi được coi là xứng đáng với các hồng ân này.
Khi vị chủ sự kết thúc các lời nguyện và việc tạ ơn, mọi người hiện diện đồng thanh đáp: Amen.
Sau khi vị chủ
sự hoàn tất nghi thức tạ ơn và toàn dân đã đáp lại,
thì các vị mà chúng tôi gọi là phó tế, phân phát bánh
và rượu có pha nước ‘đã được thánh thể hoá’
(eucharistizata) cho mỗi người hiện diện tham dự
và đem đến cho những người vắng mặt. [Back]
1346
Phụng vụ Thánh lễ diễn tiến theo một cấu trúc căn bản đã được duy trì qua các thế kỷ cho đến thời đại chúng ta. Phụng vụ Thánh lễ được triển khai trong hai phần chính, làm thành một thể thống nhất:
– Tập họp, Phụng vụ Lời Chúa với các bài đọc, bài giảng và lời nguyện phổ quát;
– Phụng vụ Thánh Thể với việc tiến dâng bánh rượu; kinh tạ ơn thánh hiến [Kinh nguyện Thánh Thể] và hiệp lễ.
Phụng Vụ Lời
Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể cùng tạo thành một
hành vi phụng tự duy nhất; thật vậy, bàn tiệc
được dọn ra cho chúng ta trong Thánh Lễ vừa là bàn tiệc
Lời Thiên Chúa, vừa là bàn tiệc Mình Chúa. [Back]
1347
Đó không phải là diễn tiến bữa tiệc Vượt Qua của Chúa Giêsu phục sinh với các môn đệ Người sao? Khi đi đường, Người giải thích Kinh Thánh cho họ, rồi khi vào bàn ăn với họ, “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (Lc 24,30) [Back]
1348
Diễn tiến việc cử hành
Tất cả mọi người tập họp lại. Các Kitô hữu tập họp lại một nơi để cử hành Thánh Thể. Trong đó, chính Đức Kitô đứng đầu cộng đoàn, Người là nhân vật hoạt động chính của bí tích Thánh Thể. Người là Thượng tế của Giao Ước Mới. Chính Người chủ trì cách vô hình mọi việc cử hành Thánh Thể. Thay mặt Người, Giám mục hay linh mục (hành động trong cương vị của Đức Kitô là Đầu) chủ trì cộng đoàn, lên tiếng sau các bài đọc, đón nhận lễ vật và đọc Kinh nguyện Thánh Thể. Mọi người đều có phần chủ động của mình trong cuộc cử hành, mỗi người theo cách của mình: người thì đọc Sách Thánh, người thì mang lễ vật, người thì trao Mình Thánh Chúa và toàn dân biểu lộ sự tham dự của mình bằng lời đáp Amen. [Back]
1349
Phụng vụ Lời Chúa gồm các tác phẩm của các Tiên tri, nghĩa là Cựu Ước, và ký sự của các Tông Đồ, nghĩa là các thánh thư và các sách Tin Mừng; sau đó là bài giảng để khuyến khích việc đón nhận các lời này xét như đó thật sự là Lời Chúa, và đem ra thực hành, tiếp đến là lời chuyển cầu cho mọi người, theo lời thánh Tông Đồ dạy: “Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền” (1 Tm 2,1-2). [Back]
1350
Dâng lễ vật (offertorium). Người ta mang, hay đôi khi rước cách long trọng, bánh và rượu lên bàn thờ. Bánh rượu này sẽ được chủ tế, nhân danh Đức Kitô, dâng lên trong Hy tế Thánh Thể, để trở thành Mình Máu Đức Kitô. Đây chính là cử chỉ của Đức Kitô, trong bữa Tiệc Ly, cầm lấy bánh và chén rượu. Chỉ có Hội Thánh mới dâng lên Đấng Tạo Hoá lễ vật tinh tuyền này, khi dâng lên Ngài cùng với lời tạ ơn, lễ vật từ các thụ tạo của Ngài. Việc dâng lễ vật trên bàn thờ lặp lại cử chỉ của Melchisedech và phó dâng các tặng phẩm của Đấng Tạo Hoá vào tay Đức Kitô. Trong hy tế của Người, chính Đức Kitô kiện toàn mọi cố gắng dâng hy tế của con người. [Back]
1351
Từ thuở ban đầu, khi mang bánh và rượu đến cử hành thánh lễ, các Kitô hữu cũng mang theo tặng phẩm của mình để chia sẻ với những người túng thiếu. Tục lệ quyên góp này, nay vẫn còn, được gợi hứng từ gương mẫu của Đức Kitô, Đấng trở nên nghèo để làm cho chúng ta nên giàu có:
Những ai sung túc mà muốn thì cho tuỳ ý mình, và những gì quyên góp được, sẽ được trao cho vị chủ sự, và ngài sẽ giúp đỡ cho các cô nhi quả phụ, những người vì bệnh tật hay vì một lý do nào khác phải thiếu thốn, các tù nhân, các di dân, tắt một lời, ngài cứu giúp cho tất cả những ai đang túng thiếu. [Back]
1352
Kinh nguyện Thánh Thể. Với kinh nguyện Thánh Thể, lời kinh tạ ơn và thánh hiến, chúng ta bước vào trung tâm và tột đỉnh của cuộc cử hành:
Trong Kinh Tiền Tụng, Hội Thánh dâng lời tạ ơn Chúa Cha, nhờ Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần, về tất cả các công trình của Ngài, các công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa. Lúc đó toàn thể cộng đoàn kết hợp với lời ca vô tận của Hội Thánh trên trời, các Thiên thần và toàn thể các Thánh, tán tụng Thiên Chúa ba lần thánh. [Back]
1353
Trong Kinh Epiclesis, Hội Thánh khẩn cầu Chúa Cha sai Thần Khí của Ngài (hay quyền năng chúc lành của Ngài) xuống trên bánh rượu để nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Giêsu Kitô, và để những ai tham dự bí tích Thánh Thể được trở thành một thân thể và một tinh thần duy nhất (một số truyền thống phụng vụ đặt lời kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần sau Kinh Tưởng Niệm).
Trong phần tường thuật việc Chúa thiết lập bí tích Thánh Thể, sức mạnh của lời nói và hành động của Đức Kitô, và quyền năng của Chúa Thánh Thần, làm cho Mình và Máu Đức Kitô, là hy tế Người đã dâng trên thập giá một lần cho mãi mãi, hiện diện cách bí tích dưới hình bánh hình rượu. [Back]
1354
Trong Kinh Tưởng Niệm tiếp theo sau đó, Hội Thánh kính nhớ cuộc khổ nạn, sự phục sinh và sự quang lâm vinh hiển của Đức Kitô Giêsu; Hội Thánh trình lên Chúa Cha hy tế là Con của Ngài, Đấng giao hoà chúng ta với Ngài.
Trong các lời chuyển cầu, Hội Thánh cho thấy bí tích Thánh Thể được cử hành trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh trên trời dưới thế, với kẻ sống và người chết, và trong sự hiệp thông với các vị mục tử của Hội Thánh, Đức Giáo Hoàng, Đức Giám mục giáo phận, hàng linh mục và phó tế của ngài và tất cả các Giám mục toàn cầu cùng với các Giáo Hội của các ngài. [Back]
1355
Trong phần Hiệp lễ, trước đó có kinh Lạy Cha và nghi thức bẻ bánh, các tín hữu lãnh nhận “bánh bởi trời” và “chén cứu độ”, là Mình và Máu Thánh Đức Kitô, Đấng tự hiến “để cho thế gian được sống” (Ga 6,51):
“Bởi vì bánh này và rượu này, theo cách nói xưa là ‘đã được thánh thể hoá’ (‘eucharistizata’), nên chúng tôi gọi lương thực này là Thánh Thể, không ai được chia sẻ lương thực này, ngoài kẻ tin rằng giáo lý của chúng tôi là chân thật, và đã được Rửa Tội để được tha thứ tội lỗi và được tái sinh, và sống như Đức Kitô đã dạy. [Back]
Hy tế bí tích: Tạ ơn, tưởng niệm, hiện diện
Nếu ngay từ ban đầu, các Kitô hữu đã cử hành thánh lễ với một hình thức về căn bản không thay đổi, dù trải qua nhiều khác biệt lớn về thời đại và các nền phụng vụ, thì chính là bởi vì chúng ta biết mình bị ràng buộc bởi mệnh lệnh Chúa đã ban, hôm trước ngày Người chịu khổ hình: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11,24-25). [Back]
1357
Chúng ta chu toàn mệnh lệnh này của Chúa, khi chúng ta cử hành việc tưởng niệm hy tế của Người. Khi làm điều này, chúng ta dâng lên Chúa Cha những gì mà chính Ngài đã ban cho chúng ta: các tặng phẩm từ cuộc tạo dựng của Ngài, là bánh và rượu, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần và các lời của Đức Kitô, trở nên Mình và Máu Đức Kitô: như thế, Đức Kitô hiện diện một cách thật sự và mầu nhiệm. [Back]
1358
Vì vậy, chúng ta phải khảo sát bí tích Thánh Thể với tính cách là:
– việc tạ ơn và ca ngợi Chúa Cha;
– việc tưởng niệm hy tế của Đức Kitô và của thân thể Người;
– sự hiện diện của Đức Kitô, nhờ quyền năng của Lời Người và quyền năng của Thần Khí Người.
Việc tạ ơn và ca ngợi Chúa Cha. [Back]
1359
Thánh Thể, là bí tích của ơn cứu độ được Đức Kitô thực hiện trên thập giá, cũng là hy tế ca ngợi để tạ ơn vì công trình tạo dựng. Trong hy tế Thánh Thể, toàn bộ công trình tạo dựng được Thiên Chúa yêu thương được trình lên Chúa Cha qua cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô. Nhờ Đức Kitô, Hội Thánh có thể dâng hy tế ca ngợi để tạ ơn vì tất cả những gì là tốt, là đẹp, là đúng mà Thiên Chúa đã thực hiện trong công trình tạo dựng và trong nhân loại. [Back]
1360
Bí tích Thánh Thể là hy tế để tạ ơn Chúa Cha, là lời chúc tụng qua đó Hội Thánh diễn tả lòng tri ân của mình đối với Thiên Chúa vì mọi điều Ngài ban, vì mọi điều Ngài đã thực hiện trong công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa. Bí tích Thánh Thể trước hết có nghĩa là tạ ơn. [Back]
1361
Bí tích Thánh Thể cũng là hy tế ca ngợi, qua đó Hội Thánh nhân danh toàn thể thụ tạo ca tụng vinh quang Thiên Chúa. Hy tế ca ngợi này chỉ có thể được thực hiện nhờ Đức Kitô: Người kết hợp các tín hữu vào bản thân Người, vào lời ca ngợi của Người, vào sự chuyển cầu của Người, và như vậy hy tế ca ngợi được dâng lên Chúa Cha nhờ Đức Kitô, với Người, để được chấp nhận trong Người. [Back]
1362
Việc tưởng niệm hy tế của Đức Kitô và của Thân Thể Người là Hội Thánh
Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, là hiện tại hoá hy tế duy nhất của Người, và dâng hy tế duy nhất đó cách bí tích, trong phụng vụ của Hội Thánh là Thân Thể Người. Trong tất cả các Kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta đều thấy, sau các lời tường thuật về việc Chúa thiết lập Thánh Thể, một kinh nguyện được gọi là kinh Tưởng Niệm (anamnesis hoặc memoriale). [Back]
1363
Theo ý nghĩa của Thánh Kinh, tưởng niệm không chỉ là nhớ lại những biến cố của quá khứ, nhưng còn là công bố các kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện cho loài người. Khi cử hành phụng vụ về các biến cố này, chúng hiện diện và được hiện tại hoá một cách nào đó. Dân Israel hiểu về việc mình được giải thoát khỏi Ai Cập theo cách như vậy: Mỗi lần lễ Vượt Qua được cử hành, các biến cố thời Xuất Hành lại hiện diện trong ký ức của các tín hữu, để họ điều chỉnh cuộc sống của mình cho phù hợp với các biến cố đó.
Việc tưởng niệm trong Giao Ước mới mang một ý nghĩa mới. Khi cử hành bí tích Thánh Thể, Hội Thánh tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, thì cuộc Vượt Qua này trở nên hiện diện: Hy tế mà Đức Kitô dâng lên một lần cho mãi mãi trên thập giá, luôn luôn được hiện tại hoá. Mỗi lần hy tế thập giá, qua đó ‘Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta’ (1 Cr 5,7), được cử hành trên bàn thờ, thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện. [Back]
1364
Việc tưởng niệm trong Giao Ước mới
mang một ý nghĩa mới. Khi cử hành bí tích Thánh
Thể, Hội Thánh tưởng niệm cuộc Vượt Qua của
Đức Kitô, thì cuộc Vượt Qua này trở nên hiện
diện: Hy tế mà Đức Kitô dâng lên một lần cho
mãi mãi trên thập giá, luôn luôn được hiện tại
hoá. Mỗi lần hy tế
thập giá, qua đó ‘Đức Kitô đã chịu hiến tế
làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta’ (1 Cr 5,7), được cử hành
trên bàn thờ, thì công trình cứu chuộc chúng ta
được thực hiện. [Back]
1365
Bởi vì là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, nên bí tích Thánh Thể cũng là một hy tế. Tính chất hy tế của bí tích Thánh Thể được biểu lộ trong chính các lời thiết lập bí tích này: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em”. “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,19-20). Trong bí tích Thánh Thể, Đức Kitô ban chính thân mình đã bị nộp vì chúng ta trên thập giá, ban chính máu mà Người đã đổ ra “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). [Back]
1366
Vì vậy, bí tích Thánh Thể là một Hy tế bởi vì bí tích này làm cho Hy tế thập giá hiện diện, bởi vì bí tích này là việc tưởng niệm Hy tế đó, và bởi vì bí tích này áp dụng hiệu quả của Hy tế đó:
Đức Kitô là Thiên Chúa và Chúa chúng ta, … đã tự hiến cho Chúa Cha bằng cái chết trên bàn thờ thập giá một lần cho mãi mãi, để thực hiện ơn cứu chuộc muôn đời cho loài người. Tuy nhiên, bởi vì cái chết của Người không chấm dứt chức tư tế của Người [Dt 7,24.27], nên trong bữa Tiệc Ly, ‘trong đêm bị nộp’ [1 Cr 11,23], … Người đã để lại cho Hiền Thê yêu dấu của Người là Hội Thánh một hy tế hữu hình (như bản tính con người đòi hỏi); trong hy tế hữu hình này, hy tế đẫm máu được thực hiện một lần duy nhất trên thập giá được hiện diện, và việc tưởng niệm hy tế đẫm máu đó sẽ còn mãi cho đến ngày tận thế, và sức mạnh cứu độ của hy tế đó sẽ được áp dụng để tha thứ các tội lỗi chúng ta phạm hằng ngày. [Back]
1367
Hy tế của Đức Kitô và hy tế Thánh Thể là một hy tế duy nhất. Cũng cùng một hiến vật, cũng cùng một Đấng xưa đã tự hiến trên thập giá, nay cũng chính Người dâng lên qua thừa tác vụ tư tế, chỉ khác biệt về cách tiến dâng: Vì trong hy tế thần linh được thực hiện trong thánh lễ, cũng chính Đức Kitô Đấng đã tự hiến một lần bằng cách đổ máu trên bàn thờ thập giá, nay được hiến dâng và sát tế một cách không đổ máu, nên hy tế này thật sự có giá trị đền tội. [Back]
1368
Bí tích Thánh Thể cũng là hy tế của Hội Thánh. Hội Thánh, là Thân Thể của Đức Kitô, tham dự vào lễ tế của Đấng là Đầu của mình. Cùng với Người, toàn thể Hội Thánh được dâng lên. Hội Thánh kết hợp mình với việc chuyển cầu của Người bên Chúa Cha, để cầu cho tất cả mọi người. Trong bí tích Thánh Thể, hy tế của Đức Kitô cũng trở thành hy tế của các chi thể trong Thân Thể Người. Đời sống của các tín hữu, lời ca ngợi, sự đau khổ, lời cầu nguyện, việc lao động của họ, được kết hợp với cùng những khía cạnh đó trong đời sống của Đức Kitô và với toàn bộ lễ tế của Người, và như vậy chúng có một giá trị mới. Hy tế của Đức Kitô hiện diện trên bàn thờ đem lại cho mọi thế hệ Kitô hữu khả năng được kết hợp với lễ tế của Người.
Trong các hang toại đạo, Hội Thánh thường được diễn tả như một người nữ đang cầu nguyện, hai tay giang ra trong cử chỉ cầu nguyện. Như Đức Kitô giang tay trên thập giá, thì nhờ Người, với Người và trong Người, Hội Thánh dâng chính mình và chuyển cầu cho tất cả mọi người. [Back]
1369
Toàn thể Hội Thánh được kết hợp với lễ tế và lời chuyển cầu của Đức Kitô. Đảm nhận thừa tác vụ của thánh Phêrô trong Hội Thánh, Đức Giáo Hoàng được liên kết với mọi cử hành Thánh lễ, trong đó, ngài được nhắc đến với tư cách là dấu chỉ và thừa tác viên của sự hợp nhất của Hội Thánh toàn cầu. Giám mục địa phương luôn có trách nhiệm về Thánh lễ, cả khi một linh mục cử hành; tên ngài được đọc lên trong Thánh lễ để nói lên rằng ngài đứng đầu Giáo Hội địa phương, giữa hàng linh mục và với sự trợ giúp của các phó tế. Cộng đoàn cũng chuyển cầu cho tất cả các thừa tác viên đang dâng lễ cho cộng đoàn và cùng với cộng đoàn:
Bí tích Thánh Thể chỉ được coi là thành sự khi được cử hành dưới sự chủ tọa của Giám mục hay của người được ngài giao trách nhiệm. Qua thừa tác vụ của các linh mục, hy tế thiêng liêng của các tín hữu được hoàn tất trong sự kết hợp với hy tế của Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất, hy tế này nhờ tay các linh mục, nhân danh toàn thể Hội Thánh, được dâng lên trong thánh lễ một cách bí tích và không đổ máu, cho tới khi Chúa đến. [Back]
1370
Không những các chi thể của Đức Kitô còn ở trần gian, mà cả những vị đang hưởng vinh quang trên trời cũng được kết hợp với lễ tế của Đức Kitô: Hội Thánh dâng hy tế Thánh Thể trong sự hiệp thông với Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, và nhớ đến ngài cũng như đến tất cả các Thánh nam nữ. Trong Thánh lễ, Hội Thánh một cách nào đó đứng dưới Thánh Giá, cùng với Mẹ Maria, kết hợp với lễ tế và lời chuyển cầu của Đức Kitô. [Back]
1371
Hy tế Thánh Thể cũng được dâng lên để cầu cho các tín hữu đã qua đời, “cho những người đã chết trong Đức Kitô mà chưa được thanh luyện trọn vẹn”[52], để họ được vào hưởng ánh sáng và bình an của Đức Kitô:
Các con hãy chôn xác này ở bất cứ nơi đâu: đừng lo lắng gì về chuyện đó; mẹ chỉ xin các con điều này, là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ tới mẹ nơi bàn thờ của Chúa.
Sau đó [trong Kinh nguyện Thánh Thể] chúng ta cầu cho các Giáo hoàng và các Giám mục đã an nghỉ, và cách chung, cho các tín hữu đã qua đời giữa chúng ta, vì chúng ta tin rằng các linh hồn sẽ được trợ giúp tối đa nhờ lời cầu nguyện cho họ, khi Của Lễ hiến tế thánh và đáng kính sợ đang hiện diện. Khi dâng lên Thiên Chúa những lời chuyển cầu của chúng ta cho những người đã an giấc, dù họ là những tội nhân, chúng ta dâng chính Đức Kitô bị sát tế vì tội lỗi chúng ta, để xin ơn giao hoà với Thiên Chúa, Bạn của loài người, cho họ và cho chúng ta. [Back]
1372
Thánh Augustinô tóm tắt một cách tuyệt vời giáo lý này, một giáo lý thúc giục chúng ta tham dự ngày càng trọn vẹn hơn vào hy tế của Đấng Cứu Chuộc chúng ta mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ:
Chính toàn thể đô thành đã được cứu chuộc, tức là cộng đoàn và tập thể các Thánh, là một hy tế phổ quát được dâng lên Thiên Chúa nhờ vị Thượng Tế, Đấng trong hình dạng một kẻ nô lệ, đã tự hiến mình chịu khổ nạn vì chúng ta, để chúng ta trở thành Thân thể của Đấng là Đầu cao cả dường ấy… Đây là hy tế của các Kitô hữu: ‘Chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô’ (Rm 12,5). Hy tế này được Hội Thánh tiếp tục cử hành qua bí tích bàn thờ mà các tín hữu đã biết, trong đó Hội Thánh hiến dâng chính mình trong Hy tế mà Hội Thánh tiến dâng. [Back]
1373
Sự hiện diện của Đức Kitô nhờ quyền năng của Lời Người và của Chúa Thánh Thần
“Đức Kitô Giêsu, Đấng đã chết, hơn nữa đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta” (Rm 8,34) đang hiện diện trong Hội Thánh Người dưới nhiều hình thức: trong Lời của Người, trong kinh nguyện của Hội Thánh Người, “ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20), trong những người nghèo khổ, những bệnh nhân, những người bị cầm tù, trong các bí tích mà chính Người là tác giả, trong Hy tế Thánh lễ và trong con người thừa tác viên. Nhưng nhất là Người hiện diện dưới các hình dạng Thánh Thể. [Back]
1374
Cách thức hiện diện của Đức Kitô dưới các hình dạng Thánh Thể là độc nhất vô nhị. Người nâng bí tích Thánh Thể vượt lên trên các bí tích khác và vì vậy bí tích này là “như sự trọn hảo của đời sống thiêng liêng và cùng đích của mọi bí tích. Trong bí tích Thánh Thể cực thánh, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và như vậy là Đức Kitô toàn thể (totus Christus), hiện diện một cách đích thực, thật sự, và theo bản thể. Sự hiện diện này được gọi là thật sự, không theo nghĩa loại trừ, nghĩa là không coi các hình thức hiện diện khác như không thật sự, nhưng theo nghĩa đặc biệt, bởi vì đây là cách hiện diện theo bản thể, và qua đó Đức Kitô toàn thể và trọn vẹn (totus atque integer Christus), vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện diện một cách chắc chắn. [Back]
1375
Trong bí tích này, Đức Kitô hiện diện nhờ sự biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Đức Kitô. Các Giáo phụ mạnh mẽ khẳng định đức tin của Hội Thánh vào hiệu lực của lời Đức Kitô và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần trong việc thực hiện sự biến đổi này. Thánh Gioan Kim Khẩu tuyên bố:
Không phải người ta, nhưng chính Đức Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh vì chúng ta, làm cho các lễ vật trở thành Mình và Máu Đức Kitô. Vị tư tế, hình ảnh của Đức Kitô, đọc các lời này, nhưng hiệu quả và ân sủng là do Thiên Chúa. Ngài đọc ‘Này là Mình Thầy’. Lời này biến đổi các lễ vật.
Và thánh Ambrôsiô nói về sự biến đổi như sau:
Chúng ta hãy tin chắc rằng: Đây không phải là vấn đề bản chất đã tạo ra, nhưng là điều lời chúc lành đã thánh hiến. Sức mạnh của lời chúc lành vượt trên sức mạnh của bản chất, vì nhờ lời chúc lành mà chính bản chất đã biến đổi. Lời Đức Kitô có khả năng làm ra, từ hư không, cái trước đó chưa từng hiện hữu, chẳng lẽ lời đó lại không thể biến đổi những sự vật đang hiện hữu thành những sự vật trước đó chưa có hay sao? Việc ban bản chất đầu tiên cho sự vật cũng tương đương như biến đổi bản chất của chúng. [Back]
1376
Công đồng Triđentinô đã tóm tắt đức tin công giáo bằng lời tuyên bố: “Vì Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta, đã phán dạy: Điều Người dâng lên dưới hình bánh, đích thực là Thân Mình Người, nên Hội Thánh luôn luôn xác tín như vậy, và thánh Công đồng này một lần nữa tuyên bố: Nhờ lời thánh hiến bánh và rượu đã diễn ra sự biến đổi trọn vẹn bản thể bánh thành bản thể Mình Thánh Đức Kitô, Chúa chúng ta, và biến đổi trọn vẹn bản thể rượu thành bản thể Máu Thánh Người; Hội Thánh công giáo gọi việc biến đổi này một cách thích hợp và chính xác là sự biến đổi bản thể (transsubstantiatio). [Back]
1377
Sự hiện diện Thánh Thể của Đức Kitô băt đầu từ lúc thánh hiến [a momento consecrationis, quen gọi là lúc truyền phép] và kéo dài bao lâu các hình dạng Thánh Thể còn tồn tại. Đức Kitô hiện diện trọn vẹn trong mỗi hình bánh và rượu, và trong mỗi phần nhỏ của hình bánh và rượu, như vậy việc bẻ bánh không phân chia Đức Kitô. [Back]
1378
Việc tôn thờ Thánh Thể. Trong phụng vụ Thánh lễ, chúng ta bày tỏ đức tin vào sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong các hình bánh và rượu bằng nhiều cách, như bái gối hay cúi mình sâu để tỏ dấu tôn thờ Chúa. “Hội Thánh Công giáo đã và vẫn luôn tôn thờ Thánh Thể, không chỉ trong mà còn ngoài Thánh lễ nữa, bằng cách bảo quản hết sức cẩn thận Bánh đã được thánh hiến (consecratas Hostias), đặt lên cho các tín hữu tôn thờ cách long trọng, và rước kiệu Thánh Thể với đông đảo dân chúng vui mừng tham dự. [Back]
1379
Nhà Tạm, trước hết được dùng để lưu giữ Thánh Thể cách xứng đáng để có thể mang đến cho các bệnh nhân và những người vắng mặt rước lễ ngoài thánh lễ. Nhờ đào sâu đức tin vào sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể, Hội Thánh ý thức về ý nghĩa của việc thinh lặng tôn thờ Đức Kitô hiện diện trong các hình dạng Thánh Thể. Vì vậy, Nhà Tạm phải đặt nơi đặc biệt xứng đáng trong nhà thờ, và phải được thiết kế như thế nào để nêu cao và bày tỏ chân lý về sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong Bí tích Cực thánh này. [Back]
1380
Thật rất thích hợp, việc Đức Kitô đã muốn hiện diện với Hội Thánh của Người theo cách thức độc nhất vô nhị này. Bởi vì Đức Kitô dưới hình dạng hữu hình, đã rời bỏ những kẻ thuộc về Người, nên Người muốn ban cho chúng ta sự hiện diện cách bí tích của Người; bởi vì Người đã tự hiến trên thập giá để cứu độ chúng ta, nên Người muốn chúng ta tưởng niệm tình yêu mà Người đã yêu thương ta “đến cùng” (Ga 13,1), đến độ ban cả mạng sống mình. Thật vậy, trong sự hiện diện bí tích của Người, Người vẫn ở giữa chúng ta cách mầu nhiệm với tư cách là Đấng đã yêu mến và nộp mình vì chúng ta, và Người hiện diện dưới những dấu chỉ diễn tả và truyền thông tình yêu này:
Quả thật, Hội Thánh và trần gian rất cần sự tôn thờ bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu đang chờ đợi chúng ta trong bí tích tình yêu này. Đừng từ chối thời gian đến gặp Người để tôn thờ, để chiêm ngắm tràn đầy đức tin và sẵn sàng đền tạ những tội lỗi và tội ác nặng nề của trần gian. Chúng ta hãy không ngừng tôn thờ Thánh Thể. [Back]
1381
Thánh Tôma đã nói: “Không thể nhận biết bằng giác quan Mình thật và Máu thật của Đức Kitô hiện diện trong bí tích này, nhưng chỉ bằng đức tin, một đức tin dựa vào thẩm quyền của Thiên Chúa. Vì thế, khi chú giải câu Luca 22,19: ‘Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con’, thánh Cyrillô đã nói: ‘Bạn đừng hồ nghi điều này có thật hay không, nhưng tốt hơn nên đón nhận bằng đức tin các lời của Đấng Cứu Độ, bởi vì Người là chân lý, Người không lừa dối bao giờ’”:
“Con sốt sắng thờ lạy Chúa, ôi Thần tính ẩn mình đang thật sự hiện diện dưới các hình dạng này;
trọn vẹn tâm hồn con suy phục Chúa, bởi vì khi chiêm ngắm Chúa, trọn hồn con biến tan.
Thị giác, vị giác và xúc giác không chạm được đến Chúa, nhưng chỉ tin vững điều đã được nghe dạy;
con tin tất cả những gì
Con Thiên Chúa đã nói, không gì thật hơn lời chân
lý này.” [Back]
Bàn tiệc Vượt Qua
Thánh lễ, một cách không thể tách biệt, vừa là việc tưởng niệm Hy tế thập giá muôn đời tồn tại, vừa là bàn tiệc thánh thiêng để hiệp thông với Mình và Máu Chúa. Nhưng việc cử hành hy tế Thánh Thể hoàn toàn hướng đến sự kết hợp mật thiết của các tín hữu với Đức Kitô qua việc rước lễ. Rước lễ là lãnh nhận chính Đức Kitô, Đấng đã tự hiến vì chúng ta. [Back]
1383
Bàn thờ, quanh đó Hội Thánh được quy tụ để cử hành bí tích Thánh Thể, nói lên hai phương diện của cùng một mầu nhiệm: bàn thờ hy tế và bàn tiệc của Chúa; hơn nữa, bàn thờ Kitô giáo là biểu tượng của chính Đức Kitô đang hiện diện giữa cộng đoàn các tín hữu, vừa như lễ vật được dâng lên để chúng ta được giao hoà, vừa như lương thực trên trời trao ban chính mình cho chúng ta. Thánh Ambrôsiô nói: “Bàn thờ của Đức Kitô là gì, nếu không phải là hình ảnh Thân thể của Đức Kitô?” và trong đoạn văn khác, thánh nhân nói: “Bàn thờ tượng trưng Thân thể của Đức Kitô và Thân thể của Đức Kitô thì ở trên bàn thờ”. Phụng vụ diễn tả tính thống nhất này của hy tế và rước lễ trong nhiều lời nguyện. Giáo Hội Rôma cầu nguyện trong Kinh nguyện Thánh Thể như sau:
Lạy Chúa toàn năng, chúng con nài xin Chúa sai Sứ thần dâng lễ vật này lên bàn thờ cao sang trước tôn nhan uy linh Chúa, để hết thảy khi tham dự bàn tiệc này là rước Mình và Máu cực thánh Con Chúa, chúng con được tràn đầy ân phúc bởi trời. [Back]
1384
Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: Rước lễ
Chúa tha thiết mời chúng ta đón rước Người trong bí tích Thánh Thể: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53). [Back]
1385
Để đáp lại lời mời đó, chúng ta phải dọn mình cho giây phút cực trọng cực thánh này. Thánh Phaolô khuyên ta nên tự vấn lương tâm: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình” (1 Cr 11,27-29). Ai biết mình đang mắc tội trọng, thì phải lãnh nhận bí tích Hòa Giải trước khi đi lên rước lễ. [Back]
1386
Trước sự cao trọng của bí tích này, tín hữu chỉ có thể lặp lại, một cách khiêm tốn và với đức tin sốt sắng, lời viên đại đội trưởng: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh”. Trong phụng vụ thánh của thánh Gioan Kim Khẩu, các tín hữu cầu nguyện cũng trong tinh thần ấy:
Lạy Con Thiên Chúa, hôm nay xin cho con được hiệp thông vào bàn tiệc huyền nhiệm của Chúa. Bởi vì con không tiết lộ cho các kẻ thù điều kín nhiệm của Chúa, cũng không tặng Chúa cái hôn của Giuđa. Nhưng như người trộm lành, con kêu lên cùng Chúa: Lạy Chúa, xin nhớ đến con trong Nước Chúa. [Back]
1387
Để dọn mình đón nhận bí tích này cách xứng đáng, các tín hữu phải giữ chay theo quy định của Hội Thánh. Thái độ bên ngoài (cử chỉ, cách ăn mặc) phải biểu lộ lòng tôn kính, sự trang trọng và niềm vui của giây phút được Chúa là thượng khách của chúng ta. [Back]
1388
Căn cứ vào ý nghĩa của bí tích Thánh Thể, các tín hữu, nếu hội đủ các điều kiện cần thiết, rước lễ khi tham dự Thánh lễ. Việc tham dự Thánh lễ cách hoàn hảo hơn, được nồng nhiệt khuyến khích, đó là sau khi vị chủ tế rước lễ, các tín hữu rước Mình Chúa bởi cùng một hy tế. [Back]
1389
Hội Thánh buộc các tín hữu phải tham dự Thánh lễ vào các ngày Chúa nhật và các lễ buộc và rước lễ mỗi năm ít là một lần, nếu có thể được trong mùa Phục Sinh, sau khi đã chuẩn bị tâm hồn bằng bí tích Hòa Giải. Nhưng Hội Thánh tha thiết khuyến khích các tín hữu rước lễ vào các ngày Chúa Nhật và các lễ khá long trọng, hay thường xuyên hơn nữa, kể cả việc rước lễ hằng ngày. [Back]
1390
Vì Đức Kitô hiện diện cách bí tích dưới mỗi hình dạng, nên việc rước lễ dưới hình bánh mà thôi vẫn nhận được trọn vẹn hiệu quả ân sủng của bí tích Thánh Thể. Vì các lý do mục vụ, cách rước lễ này đã được quy định cách hợp pháp trong nghi lễ La tinh, như là hình thức thông thường nhất. Nhưng dấu chỉ của việc rước lễ được đầy đủ hơn khi được trao ban dưới hai hình dạng. Vì theo cách này, dấu chỉ của bàn tiệc Thánh Thể trở nên rõ nét hơn. Đây là cách rước lễ thông thường trong các nghi lễ Đông phương. [Back]
1391
Hiệu quả của việc rước lễ
Việc rước lễ làm tăng trưởng sự hiệp thông của chúng ta với Đức Kitô. Lãnh nhận bí tích Thánh Thể khi rước lễ mang lại hiệu quả chính yếu là kết hợp thân mật với Đức Kitô Giêsu. Thật vậy, Chúa nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56). Sự sống trong Đức Kitô có nền tảng nơi bàn tiệc Thánh Thể: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57).
Trong các ngày lễ của Chúa, khi lãnh nhận Mình của Chúa Con, các tín hữu công bố cho nhau Tin Mừng: bảo chứng của sự sống đã được trao ban, cũng như xưa kia Thiên thần báo cho bà Maria Mađalêna: Đức Kitô đã phục sinh!’ Giờ đây cũng vậy, sự sống và sự phục sinh cũng được trao ban cho ai lãnh nhận Đức Kitô. [Back]
1392
Những gì lương thực vật chất mang lại cho sự sống thể xác, thì việc rước lễ thực hiện điều này cách kỳ diệu cho đời sống thiêng liêng của chúng ta. Việc hiệp thông với thân mình Đức Kitô phục sinh, một thân mình nhờ Chúa Thánh Thần, đã được sống và có sức ban sự sống, bảo toàn, phát triển và canh tân đời sống ân sủng đã nhận được trong bí tích Rửa Tội. Sự tăng trưởng như vậy của đời sống Kitô hữu cần được nuôi dưỡng bằng việc rước Thánh Thể, là Bánh cho cuộc lữ hành của chúng ta, mãi cho đến giờ chết; lúc đó Bánh sẽ được ban cho chúng ta như Của ăn đàng. [Back]
1393
Việc rước lễ ngăn cách chúng ta khỏi tội lỗi. Mình Đức Kitô chúng ta lãnh nhận khi rước lễ, là thân mình bị nộp vì chúng ta và Máu chúng ta uống, là máu đổ ra cho nhiều người được tha tội. Vì vậy, bí tích Thánh Thể không thể kết hợp chúng ta với Đức Kitô, nếu đồng thời không thanh tẩy chúng ta khỏi các tội đã phạm và gìn giữ chúng ta khỏi các tội trong tương lai:
Mỗi lần chúng ta rước lễ, chúng ta loan truyền Chúa đã chịu chết. Nếu chúng ta loan truyền cái chết của Chúa, thì cũng loan truyền ơn tha tội. Nếu mỗi lần Máu Người đổ ra, là đổ ra để tha tội, thì tôi phải luôn lãnh nhận Máu Người, để Người luôn tha tội cho tôi. Tôi là kẻ luôn phạm tội, nên tôi luôn phải có một phương dược. [Back]
1394
Như lương thực vật chất dùng để phục hồi sức lực bị tiêu hao, thì bí tích Thánh Thể cũng tăng sức mạnh cho đức mến của chúng ta, vốn có xu hướng bị suy yếu trong đời sống hằng ngày; và đức mến sống động này xóa bỏ các tội nhẹ[18]. Khi tự hiến cho chúng ta, Đức Kitô một lần nữa ban sự sống cho tình yêu của chúng ta và ban cho chúng ta khả năng phá huỷ những đam mê vô trật tự của chúng ta đối với các thụ tạo và khả năng gắn bó với Người:
Vì yêu thương, Đức Kitô đã chết cho chúng ta, nên mỗi khi tưởng niệm cuộc tử nạn của Người trong Thánh lễ, chúng ta xin Người ban tình yêu cho chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần ngự đến; chúng ta khiêm tốn khẩn nguyện rằng, nhờ tình yêu mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, và nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta có thể coi thế gian như đã bị đóng đinh, và chúng ta bị đóng đinh cho thế gian; khi đã lãnh nhận hồng ân tình yêu, chúng ta hãy chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa. [Back]
1395
Nhờ tình yêu mà bí tích Thánh Thể đã đốt lên trong chúng ta, bí tích này gìn giữ chúng ta khỏi các tội trọng trong tương lai. Chúng ta càng tham dự vào sự sống của Đức Kitô, và càng tiến thêm trong tình bằng hữu với Người, thì càng khó phạm tội trọng mà cắt đứt sự liên kết với Người. Bí tích Thánh Thể không được thiết lập để tha các tội trọng. Đó là chức năng riêng của bí tích Hòa Giải. Bí tích Thánh Thể có chức năng riêng, là bí tích của những người đang sống trong sự hiệp thông đầy đủ với Hội Thánh. [Back]
1396
Sự hợp nhất của Nhiệm Thể: Bí tích Thánh Thể làm nên Hội Thánh. Những ai đã lãnh nhận Thánh Thể, đều được kết hợp cách chặt chẽ hơn với Đức Kitô. Nhờ đó, Đức Kitô kết hợp mọi tín hữu thành một thân thể duy nhất là Hội Thánh. Việc tháp nhập vào Hội Thánh như vậy, vốn đã được bí tích Rửa Tội thực hiện, nay được việc rước lễ canh tân, củng cố và làm cho thâm sâu hơn. Trong bí tích Rửa Tội, chúng ta đã được kêu gọi để làm thành một thân thể duy nhất[20]. Bí tích Thánh Thể thực hiện lời kêu gọi này: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,16-17):
Nếu anh em là Thân Thể và là các chi thể của Đức Kitô, thì mầu nhiệm của anh em đang được đặt trên Bàn của Chúa: anh em lãnh nhận mầu nhiệm của anh em. Anh em đáp Amen (Vâng, đúng như thế) đối với điều anh em là, và anh em xác nhận bằng câu đáp đó. Anh em nghe: ‘Mình Thánh Chúa Kitô’ và anh em đáp: ‘Amen’. Vậy hãy là chi thể của Thân Thể Đức Kitô, để lời đáp Amen của anh em là chân thật. [Back]
1397
Bí tích Thánh Thể đòi buộc dấn thân cho người nghèo: Để lãnh nhận trong sự thật Mình và Máu Đức Kitô bị nộp vì chúng ta, chúng ta phải nhận ra Đức Kitô trong những kẻ nghèo nhất, là các anh em của Người.
Bạn nếm Máu Thánh Chúa, vậy mà bạn lại không nhận ra người anh em; Bạn làm hổ thẹn Bàn tiệc này, khi người được coi là xứng đáng tham dự Bàn tiệc này, lại bị bạn coi là không xứng đáng được chia phần ăn của bạn. Thiên Chúa đã giải thoát bạn khỏi mọi tội lỗi và cho bạn vào bàn tiệc, vậy mà quả thật bạn đã chẳng nhân hậu hơn chút nào. [Back]
1398
Bí tích Thánh Thể và sự hợp nhất các Kitô hữu. Trước sự cao cả của mầu nhiệm này, thánh Augustinô đã thốt lên: Ôi bí tích tình yêu! Ôi dấu chỉ hợp nhất! Ôi mối dây bác ái! Người ta càng đau lòng vì sự chia rẽ trong Hội Thánh vốn làm cho các Kitô hữu không thể tham dự chung với nhau bàn tiệc của Chúa, thì những lời nguyện dâng lên Chúa càng khẩn thiết hơn, để những ngày hợp nhất trọn vẹn, của mọi kẻ tin vào Người, được trở lại. [Back]
1399
Các Giáo Hội Đông phương, dù không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, vẫn cử hành bí tích Thánh Thể với một tình yêu cao cả. Các Giáo Hội ấy, mặc dù ly khai, vẫn có các bí tích đích thực, chủ yếu là chức tư tế và bí tích Thánh Thể, nhờ sự kế nhiệm các Tông Đồ, nên vẫn liên kết rất chặt chẽ với chúng ta. Vì vậy, một hiệp thông nào đó trong các sự thánh, trong những trường hợp thuận lợi và với sự chấp thuận của giáo quyền, không những là có thể, mà còn được khuyến khích. [Back]
1400
Các Cộng đoàn Giáo hội phát sinh từ cuộc Cải Cách, đã ly khai khỏi Hội Thánh Công Giáo, đặc biệt là vì thiếu bí tích Truyền Chức Thánh, nên không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể. Vì vậy, đối với Hội Thánh Công Giáo, việc rước lễ chung với những Cộng đoàn này là không thể được. Nhưng khi các cộng đoàn này tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong Tiệc Thánh, họ tuyên xưng rằng sự sống chỉ có nghĩa trong sự hiệp thông với Đức Kitô và họ mong đợi ngày trở lại vinh quang của Người. [Back]
1401
Khi có nhu cầu khẩn cấp, theo phán đoán của Đấng Bản Quyền địa phương, các thừa tác viên Công giáo được phép ban các bí tích (Thánh Thể, Hòa Giải, Xức Dầu bệnh nhân) cho các Kitô hữu không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công Giáo, nhưng họ phải tự ý xin lãnh nhận các bí tích đó: lúc đó, họ phải tuyên xưng đức tin công giáo về các bí tích này và có sự chuẩn bị đầy đủ. [Back]
Bí tích Thánh Thể – Bảo chứng cho vinh quang
tương lai
Trong một kinh nguyện cổ xưa, Hội Thánh tung hô mầu nhiệm Thánh Thể như sau: Ôi Tiệc Thánh, trong đó Đức Kitô được rước lấy làm lương thực, việc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Người được nhắc lại, tâm trí được tràn đầy ân sủng, và bảo chứng cho vinh quang mai sau được ban cho chúng ta. Nếu bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa, nếu nhờ việc rước lễ tại bàn thờ mà chúng ta được tràn đầy ân phúc bởi trời, thì bí tích Thánh Thể cũng là sự tham dự trước vào vinh quang thiên quốc. [Back]
1403
Trong bữa Tiệc ly, chính Chúa hướng các môn đệ Người đến sự hoàn tất lễ Vượt Qua trong Nước Thiên Chúa: “Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26,29). Mỗi lần cử hành bí tích Thánh Thể, Hội Thánh nhớ lại lời hứa này và hướng trông “Đấng đang đến” (Kh 1,4). Trong kinh nguyện, Hội Thánh kêu cầu Người ngự đến: “Marana tha” (1 Cr 16,22), “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20), Ước gì ân sủng của Ngài đến và trần gian này qua đi. [Back]
1404
Hội Thánh biết rằng giờ đây Chúa đã đến trong bí tích Thánh Thể của Người, và Người ở đó giữa chúng ta. Tuy nhiên, sự hiện diện này còn bị che phủ. Chính vì vậy, chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con, trong khi chúng ta khẩn nguyện được cùng nhau tận hưởng vinh quang Cha muôn đời, khi Cha lau sạch nước mắt chúng con, vì khi được thấy tường tận Cha là Thiên Chúa chúng con, thì muôn đời chúng con sẽ trở nên giống Cha và sẽ ca ngợi Cha khôn cùng. [Back]
1405
Về niềm hy vọng lớn lao này, niềm hy vọng về trời mới đất mới, nơi công lý lưu ngụ cách chắc chắn, chúng ta không có bảo chứng nào vững chắc hơn và dấu chỉ nào được biểu lộ rõ ràng hơn, là bí tích Thánh Thể. Thật vậy, mỗi khi mầu nhiệm này được cử hành, thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện và chúng ta bẻ cùng một tấm bánh, là phương dược trường sinh bất tử, và của ăn để chúng ta không chết, nhưng đem lại sự sống muôn đời trong Chúa Giêsu Kitô. [Back]
Tóm lược
Chúa Giêsu nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời… Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời… Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,51.54.56). [Back]
1407
Bí tích Thánh Thể
là trung tâm và tột đỉnh của đời sống Hội
Thánh, vì trong bí tích này, Đức Kitô liên kết Hội
Thánh và tất cả các chi thể của Người vào hy tế
chúc tụng và tạ ơn được dâng lên Chúa Cha trên thập giá
một lần cho mãi mãi. Qua hy tế này, Người
tuôn đổ các ân sủng cứu độ trên Thân Thể của
Người là Hội Thánh. [Back]
1408
Việc cử hành Thánh Lễ luôn bao gồm: việc công bố Lời Chúa; việc tạ ơn Thiên Chúa Cha vì mọi ơn lành, nhất là vì Ngài đã ban Con của Ngài cho chúng ta; việc thánh hiến bánh rượu và việc tham dự vào bàn tiệc phụng vụ nhờ lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa. Các yếu tố này kết thành một hành vi phụng tự duy nhất. [Back]
1409
Bí tích Thánh Thể
là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức
Kitô: nghĩa là công trình cứu độ được thực
hiện qua đời sống, cái Chết và sự Phục sinh
của Đức Kitô. Công trình này được hành động phụng
vụ làm cho hiện diện. [Back]
1410
Đức Kitô, vị thượng tế đời đời của Giao Ước Mới, Đấng đang hoạt động nhờ thừa tác vụ của các tư tế, dâng hy tế Thánh Thể. Cũng chính Đức Kitô, Đấng thật sự hiện diện trong hình bánh rượu, là lễ vật của hy tế Thánh Thể. [Back]
1411
Chỉ các tư tế đã được phong chức thánh thành sự mới có quyền chủ tọa thánh lễ và thánh hiến (truyền phép) để bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa. [Back]
1412
Dấu chỉ
chính yếu của bí tích Thánh Thể là bánh mì và rượu
nho. Lời chúc lành của Chúa Thánh Thần được khẩn
cầu xuống trên bánh và rượu này và vị tư tế đọc
lời thánh hiến (truyền phép) được Chúa Giêsu nói trong
bữa Tiệc ly: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp
vì các con... Này là Chén Máu Thầy…” [Back]
1413
Nhờ lời
thánh hiến (truyền phép), đã có sự biến đổi
bản thể bánh và rượu thành Mình và Máu Thánh Chúa.
Trong hình bánh rượu đã được truyền phép, chính
Đức Kitô, hằng sống và vinh hiển, hiện diện
cách đích thực, thật sự và theo bản thể, với
trọn mình, máu, linh hồn và thần tính của Người. [Back]
1414
Với tính cách là một hy tế, bí tích Thánh Thể được dâng lên để đền tội cho người sống cũng như kẻ chết và để đạt được những ơn lành hồn xác từ Thiên Chúa. [Back]
1415
Ai muốn đón nhận Đức Kitô qua việc hiệp lễ, phải ở trong tình trạng ân sủng. Ai biết mình đang mắc tội trọng, không được rước lễ nếu chưa lãnh nhận ơn tha tội trong bí tích Hòa Giải. [Back]
1416
Việc rước Mình và Máu Thánh Đức Kitô gia tăng sự kết hợp của người rước lễ với Chúa, tha thứ cho họ các tội nhẹ và gìn giữ họ khỏi các tội trọng. Vì việc rước lễ củng cố mối liên hệ tình yêu giữa người rước lễ với Đức Kitô, nên việc lãnh nhận bí tích này cũng củng cố sự hiệp nhất của Hội Thánh là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô. [Back]
1417
Hội Thánh tha thiết khuyên tín hữu nên rước lễ mỗi khi tham dự Thánh lễ. Hội Thánh buộc tín hữu rước lễ mỗi năm ít là một lần. [Back]
1418
Vì Đức
Kitô hiện diện thật sự trong bí tích bàn thờ, nên
chúng ta phải tôn vinh Người bằng một phụng tự
tôn thờ. Việc viếng Thánh Thể là một bằng
chứng bày tỏ lòng biết ơn, một dấu chỉ
tình yêu và một bổn phận thờ lạy đối
với Đức Kitô, Chúa chúng ta. [Back]
1419
Trước khi lìa bỏ thế gian mà về cùng Cha, Đức Kitô ban cho chúng ta, trong bí tích Thánh Thể, bảo chứng vinh quang nơi Người: việc tham dự Thánh lễ uốn lòng chúng ta nên giống trái tim Chúa, nâng đỡ sức lực chúng ta trên đường lữ thứ trần gian, làm cho chúng ta khao khát cuộc sống vĩnh cửu và ngay từ bây giờ kết hợp chúng ta với Hội Thánh trên trời, với Đức Trinh Nữ diễm phúc và với tất cả các Thánh. [Back]
Các bí tích chữa lành
Nhờ các bí tích khai tâm Kitô giáo, con người lãnh nhận được sự sống mới trong Đức Kitô. Nhưng chúng ta mang sự sống này “trong những bình sành” (2 Cr 4,7). Sự sống này hiện nay còn “đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3,3). Chúng ta còn sống trong ngôi nhà ở dưới đất của chúng ta, vẫn còn gánh chịu khổ đau, bệnh tật và cái chết. Sự sống mới này của con cái Thiên Chúa có thể bị suy yếu và thậm chí bị mất đi do tội lỗi. [Back]
1421
Chúa Giêsu Kitô, vị thầy thuốc chữa lành linh hồn và thân xác chúng ta, Đấng đã tha tội cho người bại liệt và ban ơn cứu độ cho cả thân xác của người ấy, đã muốn Hội Thánh Người, bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, tiếp tục công cuộc chữa lành và cứu độ của Người, cả cho các chi thể của Người. Đó là mục đích của hai bí tích chữa lành: bí tích Thống Hối và bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. [Back]
1422
Bí tích Thống Hối và Giao Hòa
Những ai đến với bí tích Thống Hối đều nhận được, do lòng khoan dung của Thiên Chúa, sự tha thứ cho việc họ đã xúc phạm đến Ngài và đồng thời, được giao hoà với Hội Thánh, vốn đã bị tội lỗi làm tổn thương, nhưng vẫn nỗ lực lấy tình yêu, gương mẫu và kinh nguyện mà làm cho họ được hối cải. [Back]
1423
Bí tích này được gọi thế nào?
Bí tích này được gọi
là bí tích của sự hối cải: bởi vì nó thực
hiện cách bí tích lời kêu gọi hối cải của
Chúa Giêsu, sự trở về với Chúa Cha, Đấng mà người
ta đã lìa xa khi phạm tội. Bí tích này được gọi
là bí tích Thống Hối, bởi vì nó cống hiến
một tiến trình hối cải, có chiều kích cá
nhân và giáo hội, cho tội nhân Kitô hữu thống hối
và đền tội. [Back]
1424
Bí tích này được gọi là bí tích xưng tội:
bởi vì việc thú nhận, xưng thú các tội lỗi
trước một tư tế là yếu tố căn bản của
bí tích này. Theo một ý nghĩa thâm sâu hơn, bí tích này cũng
là một việc tuyên xưng, nhận biết và ca ngợi sự
thánh thiện của Thiên Chúa và lòng khoan dung của Ngài
đối với con người là tội nhân. Bí tích này được gọi
là bí tích ban ơn tha thứ, vì nhờ lời xá giải bí
tích của vị tư tế, Thiên Chúa ban cho hối nhân ơn tha
thứ và bình an.
Bí tích này được gọi là
bí tích Giao Hoà, vì ban cho tội nhân tình yêu của
Thiên Chúa, Đấng giao hoà: “Anh em hãy làm hòa với
Thiên Chúa” (2 Cr 5,20). Ai sống bởi tình yêu thương xót
của Thiên Chúa, sẽ sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa mời
gọi: “Hãy đi làm hoà với người anh em ấy
đã” (Mt 5,24). [Back]
Tại sao cần bí tích Giao Hòa sSau khi đã
nhận bí tích Rửa Tội?
“Anh em đã được tẩy rửa, được thánh hóa, được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta” (1 Cr 6,11). Phải ý thức sự cao cả của hồng ân Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong các bí tích khai tâm Kitô giáo, thì mới hiểu được rằng tội lỗi là một điều đối nghịch lại với một người đã mặc lấy Đức Kitô. Nhưng thánh Gioan Tông Đồ đã nói: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,8). Chính Chúa cũng đã dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin tha tội cho chúng con” (Lc 11,4), và Người kết hợp việc chúng ta tha thứ cho nhau những xúc phạm lẫn nhau với ơn Thiên Chúa tha thứ các tội lỗi chúng ta. [Back]
1426
Việc hối cải trở về với
Đức Kitô, việc tái sinh trong bí tích Rửa Tội, hồng
ân của Chúa Thánh Thần, Mình và Máu Đức Kitô được
lãnh nhận làm lương thực, làm cho chúng ta trở nên
“tinh tuyền thánh thiện trước thánh nhan Thiên Chúa” (Ep 1,4), cũng
như chính Hội Thánh, là Hiền Thê của Đức Kitô, cũng
“thánh thiện và tinh tuyền” trước mặt Người (Ep 5,27). Tuy nhiên,
sự sống mới được lãnh nhận trong cuộc
khai tâm Kitô giáo không tiêu huỷ sự mỏng giòn và yếu
đuối của bản tính con người, cũng như sự hướng
chiều theo tội lỗi, mà truyền thống gọi là
dục vọng (concupiscentia), vốn tồn tại nơi những
người đã chịu Phép Rửa, để với sự trợ
lực của ân sủng của Đức Kitô, họ vượt
qua được những thử thách trong cuộc chiến đấu
của đời sống Kitô hữu[8]. Đây là cuộc chiến
đấu của sự hối cải nhằm đạt tới
sự thánh thiện và đời sống vĩnh cửu mà Chúa
không ngừng mời gọi chúng ta. [Back]
1427
Sự hối cải của những người đã chịu phép
Rửa
Chúa Giêsu kêu gọi hối cải. Lời kêu gọi này là một phần cốt yếu của việc loan báo Nước Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Trong việc rao giảng của Hội Thánh, lời kêu gọi này trước hết nhằm đến những người chưa biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Như vậy, bí tích Rửa Tội là vị trí đầu tiên và căn bản của việc hối cải. Chính nhờ tin vào Tin Mừng và nhờ bí tích Rửa Tội mà người ta từ bỏ sự dữ và đạt được ơn cứu độ, nghĩa là được ơn tha thứ mọi tội lỗi và được hưởng hồng ân sự sống mới. [Back]
1428
Lời kêu gọi hối cải của Đức
Kitô vẫn tiếp tục vang vọng trong đời sống
các Kitô hữu. Cuộc hối cải thứ hai này là một
nhiệm vụ liên tục của toàn thể Hội Thánh
vì mang trong lòng mình những tội nhân, vừa
thánh thiện vừa luôn cần được thanh luyện, Hội
Thánh phải không ngừng thống hối và canh tân. Nỗ
lực hối cải này không chỉ là công việc của
con người. Việc thống hối là hành động của
một tâm hồn tan nát được ân sủng lôi kéo và thúc đẩy,
để đáp lại tình yêu thương xót của Thiên Chúa, Đấng
đã yêu thương chúng ta trước. [Back]
1429
Có thể lấy cuộc hối cải của thánh Phêrô, sau khi chối Thầy mình ba lần, làm bằng chứng cho điều đó. Cái nhìn của lòng thương xót vô biên của Chúa Giêsu khiến ông khóc lóc thống hối và, sau khi Chúa sống lại, ông đã ba lần khẳng định tình yêu của ông đối với Người. Cuộc hối cải thứ hai cũng mang chiều kích cộng đoàn. Điều này được thấy rõ trong lời kêu gọi của Chúa với toàn thể Hội Thánh: “Hãy hối cải!” (Kh 2,5.16).
Thánh Ambrôsiô nói về hai cuộc hối cải: “Hội Thánh có nước và nước mắt, nước của bí tích Rửa Tội, và nước mắt của bí tích Thống Hối.” [Back]
Thống hối nội tâm
Cũng như các tiên tri thuở trước, lời kêu gọi hối cải và thống hối của Chúa Giêsu không nhằm trước tiên đến những việc bên ngoài, mặc áo vải thô, rắc tro trên đầu, giữ chay và khổ chế, nhưng nhằm đến sự hối cải tâm hồn, sự thống hối nội tâm. Nếu không có sự hối cải nội tâm, các việc thống hối bên ngoài sẽ vô hiệu và dối trá; ngược lại, sự hối cải nội tâm thúc đẩy diễn tả tâm tình ấy bằng những dấu chỉ hữu hình, bằng những cử chỉ và những việc làm thống hối. [Back]
1431
Thống hối nội tâm là định hướng mới cách triệt để cho cả cuộc đời, là trở về, là trở lại cùng Thiên Chúa với cả tâm hồn, đoạn tuyệt với tội lỗi, quay lưng với sự dữ, và ghê tởm những hành động xấu xa chúng ta đã phạm. Đồng thời thống hối nội tâm cũng bao gồm ước muốn và quyết tâm thay đổi đời sống, với niềm hy vọng vào lòng thương xót của Thiên Chúa và lòng tin tưởng vào sự trợ giúp của ân sủng của Ngài. Cuộc hối cải nội tâm này được kèm theo bằng sự đau khổ và buồn phiền hữu ích được các Giáo phụ gọi là nỗi thống khổ của tâm hồn, sự cắn rứt của trái tim. [Back]
1432
Lòng người nặng nề và cứng cỏi. Con người phải được Thiên Chúa ban cho một trái tim mới. Hối cải trước hết là công trình của ân sủng của Thiên Chúa, Đấng làm cho lòng chúng ta trở lại với Ngài: “Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Chúa, để chúng con trở về” (Ac 5,21). Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta bắt đầu lại. Tâm hồn chúng ta, một khi khám phá ra sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa, sẽ bị chấn động vì sự khủng khiếp và nặng nề của tội lỗi và bắt đầu sợ không dám phạm tội xúc phạm Thiên Chúa và sợ bị xa lìa Ngài. Lòng người hối cải, khi nhìn lên Đấng đã bị tội lỗi chúng ta đâm thâu.
Hãy chiêm ngắm Máu Đức Kitô và nhận biết rằng Máu ấy quý giá biết bao đối với Thiên Chúa là Cha Người, Máu ấy, khi đổ ra để cứu độ chúng ta, đã mang lại cho toàn thế giới ơn thống hối. [Back]
1433
Khởi từ cuộc Vượt Qua, Chúa Thánh Thần tố cáo thế gian về tội lỗi, vì thế gian đã không tin vào Đấng Chúa Cha đã sai đến. Nhưng cũng chính Chúa Thánh Thần, Đấng tố cáo tội lỗi, lại là Đấng An Ủi, Đấng ban cho tâm hồn con người ân sủng để họ thống hối và hối cải. [Back]
1434
Nhiều hình thức thống hối trong đời sống
Kitô hữu
Việc thống hối nội tâm của Kitô hữu có thể được biểu lộ bằng nhiều cách rất khác nhau. Kinh Thánh và các Giáo phụ nhấn mạnh nhất ba hình thức: giữ chay, cầu nguyện và bố thí là những cách diễn tả sự hối cải đối với bản thân, đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Bên cạnh sự thanh tẩy triệt để bằng bí tích Rửa Tội hoặc bằng việc tử đạo, các ngài còn nói đến những phương thế để đạt được ơn tha thứ tội lỗi, đó là cố gắng giao hoà với anh em, những giọt lệ thống hối, chăm lo cho ơn cứu độ của tha nhân, khẩn cầu các thánh và thực hành bác ái, “vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi” (1 Pr 4,8). [Back]
1435
Việc hối cải được thực hiện trong đời sống hằng ngày bằng những hành động giao hoà, quan tâm đến người nghèo, thực thi và bảo vệ công lý và lẽ phải, bằng việc thú nhận lỗi lầm với anh em, sửa lỗi cho nhau, kiểm điểm đời sống, tự vấn lương tâm, linh hướng, chấp nhận đau khổ, kiên trì khi bị bách hại vì lẽ công chính. Con đường chắc chắn nhất của sự thống hối là vác thập giá mình hằng ngày mà đi theo Chúa Giêsu. [Back]
1436
Bí tích Thánh Thể và bí tích Thống Hối. Việc hối cải và thống hối hằng ngày gặp được nguồn mạch và lương thực của mình nơi bí tích Thánh Thể, bởi vì nơi Thánh Thể, hy lễ của Đức Kitô hiện diện, hy lễ này giao hoà chúng ta với Thiên Chúa; nhờ bí tích Thánh Thể, những ai sống bởi sức sống của Đức Kitô sẽ được nuôi dưỡng và được bổ sức; bí tích này là “thuốc giải độc, giải thoát chúng ta khỏi các lỗi phạm hằng ngày và gìn giữ chúng ta khỏi các tội trọng. [Back]
1437
Việc đọc Kinh Thánh, đọc các Giờ Kinh phụng vụ và kinh Lạy Cha, bất cứ hành vi chân thành nào trong việc phụng tự và đạo đức, đều khơi dậy nơi chúng ta tinh thần hối cải và thống hối và góp phần đem lại ơn tha tội cho chúng ta. [Back]
1438
Những thời gian và những ngày thống hối trong năm phụng vụ (mùa Chay, mỗi ngày thứ sáu tưởng niệm Chúa chịu chết), là những thời điểm đặc biệt để thực hành việc thống hối trong Hội Thánh. Những thời gian này đặc biệt thích hợp cho các cuộc linh thao, các buổi cử hành phụng vụ thống hối, các cuộc hành hương thống hối, những việc hãm mình tự nguyện như giữ chay và bố thí, chia sẻ huynh đệ (các công tác từ thiện và truyền giáo). [Back]
1439
Chúa Giêsu đã mô tả tiến trình hối cải và thống hối một cách tuyệt vời trong dụ ngôn quen được gọi là dụ ngôn Đứa con hoang đàng mà trọng tâm của nó là Người cha nhân hậu: sự quyến rũ của một thứ tự do sai lạc, việc rời bỏ nhà cha; sự đau khổ cùng cực sau khi phung phí tất cả tài sản; sự nhục nhã sâu xa khi thấy mình phải đi chăn heo, và còn tệ hơn nữa, ước muốn ăn cám heo mà không được; việc suy nghĩ lại về những điều thiện hảo đã bị đánh mất; sự hối hận và quyết định nhận mình có lỗi trước mặt cha; con đường trở về; việc đón nhận bao dung của người cha; niềm vui của người cha: Đó là những nét tiêu biểu của tiến trình hối cải. Áo đẹp, nhẫn và tiệc mừng là những biểu tượng của một đời sống mới, thanh sạch. xứng đáng, tràn ngập niềm vui, đó là đời sống của người trở về cùng Thiên Chúa, giữa lòng gia đình của Ngài, là Hội Thánh. Chỉ trái tim Đức Kitô, Đấng thấu suốt các tầng sâu thẳm của tình yêu của Cha Người, mới có thể mạc khải cho chúng ta tận đáy lòng thương xót của Thiên Chúa một cách đơn sơ và đầy vẻ đẹp như vậy. [Back]
Bí tích thống hối và giao hoà
Trước hết, tội là sự xúc phạm đến Thiên Chúa, là cắt đứt sự hiệp thông với Ngài. Đồng thời tội làm tổn thương cho sự hiệp thông với Hội Thánh. Vì vậy, việc hối cải vừa mang lại ơn tha thứ của Thiên Chúa và đồng thời, vừa mang lại sự giao hoà với Hội Thánh, đó là điều bí tích Thống Hối và Giao hoà diễn tả và thực hiện trong phụng vụ. [Back]
1441
Chỉ một mình Thiên Chúa có quyền tha tội
Chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Bởi vì Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nên Người nói về mình: “Ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội” (Mc 2,10), và Người thực thi quyền thần linh này: “Con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5). Hơn nữa, dựa vào quyền bính thần linh của mình, Đức Kitô còn ban quyền đó cho những con người để họ thực thi quyền tha tội nhân danh Người. [Back]
1442
Đức Kitô đã muốn toàn thể Hội Thánh của Người, trong kinh nguyện, đời sống và các hoạt động của mình, là dấu chỉ và dụng cụ cho ơn tha thứ và giao hoà mà Người đã thủ đắc cho chúng ta, bằng máu châu báu của Người. Tuy nhiên, Người đã ủy thác việc thực thi quyền tha tội cho thừa tác vụ Tông Đồ. Chính thừa tác vụ này đã lãnh nhận “chức vụ giao hoà” (2 Cr 5,18). Vị Tông Đồ được sai đi nhân danh Đức Kitô; và chính Thiên Chúa, qua vị Tông Đồ, khuyên bảo và nài xin: “Hãy làm hoà với Thiên Chúa” (2 Cr 5,20). [Back]
1443
Giao hoà với Hội Thánh
Trong đời sống công khai của Người, Chúa Giêsu không những đã tha tội, mà còn biểu lộ hiệu quả của việc tha tội này: Người đã đưa các tội nhân được tha thứ về lại với cộng đoàn dân Thiên Chúa, cộng đoàn mà tội lỗi đã khiến họ phải xa lìa, hay thậm chí khiến họ bị loại trừ. Một dấu chỉ tỏ tường của việc này là, Chúa Giêsu đã đón nhận các tội nhân vào bàn tiệc của Người, hơn nữa, chính Người ngồi đồng bàn với họ, cử chỉ này, một cách hùng hồn, vừa diễn tả ơn tha thứ của Thiên Chúa và đồng thời, vừa nói lên sự trở về giữa lòng dân Thiên Chúa. [Back]
1444
Khi Chúa ban cho các Tông Đồ được tham dự
vào quyền riêng của Người là quyền tha tội, Người
cũng ban cho họ quyền giao hoà các tội nhân với Hội
Thánh. Chiều kích giáo hội của nhiệm vụ này của
các Tông Đồ được diễn tả cách đặc biệt
trong những lời long trọng Đức Kitô nói với ông
Phêrô: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời:
dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời
cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất,
anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ
tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). Nhiệm vụ cầm buộc và tháo cởi,
đã được ban cho thánh Phêrô, cũng được ban cho tập
thể các Tông Đồ, kết hợp với vị thủ
lãnh của mình. [Back]
1445
Các thuật ngữ cầm buộc và tháo cởi có nghĩa là: ai bị anh em loại ra khỏi sự hiệp thông với anh em, thì người ấy cũng bị loại ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa; ai được anh em đón nhận lại vào sự hiệp thông với anh em, thì Thiên Chúa cũng đón nhận lại người ấy vào sự hiệp thông với Ngài. Việc giao hoà với Hội Thánh không thể tách biệt khỏi sự giao hoà với Thiên Chúa. [Back]
1446
Bí tích của sự tha thứ
Đức Kitô đã thiết lập bí tích Thống Hối này cho tất cả các chi thể của Hội Thánh Người, là những tội nhân, trước hết cho những kẻ, sau bí tích Rửa Tội, lại rơi vào tội trọng, và như thế đánh mất ân sủng Phép Rửa và làm tổn thương cho sự hiệp thông của Hội Thánh. Bí tích Thống Hối cho những người này cơ hội mới để hối cải và tìm lại được ơn công chính hoá. Các Giáo phụ trình bày bí tích này như cái phao (cứu độ) thứ hai sau khi đắm tàu, tức là sau khi đánh mất ân sủng. [Back]
1447
Qua các thế kỷ, hình thức cụ thể, qua đó Hội Thánh thực thi quyền tha tội đã lãnh nhận từ Chúa, đã có nhiều thay đổi. Trong các thế kỷ đầu, việc giao hoà cho các Kitô hữu nào đã phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng sau khi họ đã lãnh Phép Rửa (thí dụ thờ ngẫu tượng, giết người hay ngoại tình), được liên kết với một kỷ luật rất khắt khe; theo kỷ luật này, hối nhân phải làm việc đền tội công khai vì các tội lỗi của họ, thường kéo dài nhiều năm, trước khi họ được lãnh nhận ơn giao hoà. Thật ra cũng rất ít người bị liệt vào “hàng hối nhân” (chỉ liên quan tới một số tội nặng nề) và trong một số miền, hối nhân chỉ được nhận ơn giao hoà một lần trong đời. Vào thế kỷ thứ 7, các nhà truyền giáo người Ailen, dựa theo truyền thống các đan viện Đông phương, đã mang vào lục địa Châu Âu hình thức “thống hối riêng”, không đòi hỏi những việc thống hối công khai và kéo dài trước khi được giao hoà với Hội Thánh. Từ đó, bí tích được thực hiện cách kín đáo giữa hối nhân và tư tế. Cách thực hành mới này dự liệu người ta có thể được giao hoà nhiều lần và như vậy mở đường cho việc năng lãnh nhận bí tích này. Cách thực hành này cũng cho phép gom vào trong cùng một cử hành bí tích, việc tha thứ các tội trọng và các tội nhẹ. Trong những nét chính, Hội Thánh vẫn còn thực hành hình thức thống hối này cho tới ngày nay. [Back]
1448
Mặc dầu có những thay đổi về kỷ luật và việc cử hành qua các thế kỷ, người ta nhận thấy bí tích này vẫn giữ nguyên một cấu trúc căn bản. Bí tích này gồm hai yếu tố cốt yếu như nhau: một đàng, là các hành động của con người hối cải dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần: thống hối, thú tội và đền tội; đàng khác, là hành động của Thiên Chúa qua sự can thiệp của Hội Thánh. Hội Thánh, qua Giám mục và các linh mục của ngài, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, ban ơn tha tội và ấn định việc đền tội, Hội Thánh cũng cầu nguyện cho tội nhân và cùng làm việc thống hối với họ. Như vậy tội nhân được chữa lành và được hiệp thông lại với Hội Thánh. [Back]
1449
Công thức giải tội trong Giáo Hội La tinh diễn tả những yếu tố cốt yếu của bí tích này: Chúa Cha hay thương xót là nguồn mạch của ơn tha thứ. Ngài thực hiện việc giao hoà với các tội nhân nhờ cuộc Vượt Qua của Con Ngài và nhờ hồng ân của Chúa Thánh Thần, qua lời cầu nguyện và thừa tác vụ của Hội Thánh: Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa, mà giao hoà thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội; xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh, mà ban cho anh (chị) ơn tha thứ và bình an. Vậy, tôi tha tội cho anh (chị) nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. [Back]
Các hành vi của hối nhân
Việc thống hối đòi buộc tội nhân tự nguyện chịu đựng mọi sự; ăn năn tội trong trái tim, xưng tội ra ngoài miệng, khiêm tốn trong việc làm và đền tội một cách có hiệu quả. [Back]
1451
Ăn năn tội
Trong các hành vi của hối nhân, đầu tiên là ăn năn tội. Đó là đau đớn trong lòng và chê ghét tội đã phạm, dốc lòng chừa từ nay không phạm tội nữa. [Back]
1452
Khi sự ăn năn tội xuất phát từ lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự, thì được gọi là ăn năn tội cách trọn (ăn năn do đức mến). Cách ăn năn tội này xoá bỏ các tội nhẹ; và cũng đem lại ơn tha thứ các tội trọng, nếu hối nhân quyết tâm đi xưng tội càng sớm càng tốt. [Back]
1453
Ăn năn tội cách chẳng trọn (hoặc hối hận) cũng là một hồng ân của Thiên Chúa, một thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Nó phát sinh khi thấy sự xấu xa của tội lỗi hoặc vì sợ bị luận phạt đời đời và sợ các hình phạt khác mà kẻ tội lỗi phải chịu (ăn năn do sợ hãi). Sự khích động lương tâm như vậy có thể là khởi đầu của một tiến trình nội tâm, tiến trình này sẽ được hoàn tất dưới tác động của ân sủng nhờ ơn xá giải bí tích. Việc ăn năn tội cách chẳng trọn tự nó không đem lại ơn tha thứ các tội trọng, nhưng chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn tha tội trong bí tích Thống Hối. [Back]
1454
Để lãnh nhận bí tích Giao Hoà, hối nhân cần chuẩn bị bằng việc xét mình dưới ánh sáng Lời Chúa. Những bản văn thích hợp nhất cho việc này được tìm thấy trong Mười Điều Răn và trong giáo huấn luân lý của các sách Tin Mừng và các Thư Tông Đồ: trong Bài giảng trên núi, trong những giáo huấn của các Tông Đồ. [Back]
1455
Xưng tội
Việc xưng tội (cáo mình), ngay trên bình diện thuần túy nhân loại, giải thoát chúng ta và làm cho chúng ta giao hoà với người khác cách dễ dàng hơn. Qua việc xưng tội, con người nhìn thẳng vào tội lỗi mình đã phạm, nhận lấy trách nhiệm về các tội đó, và từ đó một lần nữa mở lòng cho Thiên Chúa và cho sự hiệp thông với Hội Thánh để có thể có một tương lai mới. [Back]
1456
Việc xưng tội với một tư tế
là phần cốt yếu của bí tích Thống Hối: Khi
xưng tội, các hối nhân phải kể tất cả các tội
trọng mà họ ý thức được sau khi xét mình
kỹ lưỡng, dù những tội trọng này rất thầm
kín và chỉ phạm đến hai điều cuối của Thập
Giới, vì những tội này làm tổn thương linh hồn
cách trầm trọng hơn, và chúng còn nguy hiểm hơn những
tội phạm cách tỏ tường:
Mỗi khi các Kitô hữu cố
gắng xưng thú tất cả các tội lỗi mà họ nhớ
được, chắc chắn là họ đã trình bày tất
cả cho lòng thương xót Chúa để được tha thứ.
Còn những ai làm khác đi và cố tình giấu một
số tội, thì họ đã chẳng trình bày
điều gì cho lòng nhân hậu Chúa để được
tha thứ qua vị tư tế. Vì nếu bệnh nhân xấu
hổ không cho thầy thuốc coi vết thương, thì thuốc
không chữa được điều mà nó không biết. [Back]
1457
Theo luật Hội Thánh, mọi tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, buộc phải xưng các tội trọng của mình một cách trung thực, một năm ít là một lần. Ai ý thức mình đã phạm tội trọng, thì không được rước lễ, mặc dầu đã hết sức ăn năn, trước khi lãnh nhận ơn xá giải bí tích, trừ khi có lý do hệ trọng để rước lễ và không thể đến với một cha giải tội. Trẻ em phải lãnh nhận bí tích Thống Hối trước khi rước lễ lần đầu. [Back]
1458
Việc xưng các lỗi phạm hằng ngày (các tội nhẹ), tuy không thật sự cần thiết, vẫn được Hội Thánh thiết tha khuyến khích[54]. Quả thật, việc năng xưng các tội nhẹ giúp chúng ta rèn luyện lương tâm, để chiến đấu chống lại các khuynh hướng xấu, để cho Đức Kitô chữa lành chúng ta, và để chúng ta tiến tới trong đời sống theo Chúa Thánh Thần. Năng hưởng nhờ hồng ân của lòng thương xót của Chúa Cha qua bí tích này, chúng ta được thúc đẩy để trở nên hay thương xót như Ngài:
Ai thú nhận và xưng tội mình là đã cộng tác với Thiên Chúa. Thiên Chúa tố cáo các tội của bạn; nếu chính bạn cũng cáo tội mình, thì bạn được kết hợp với Thiên Chúa. Con người và tội nhân là như hai thực tại: khi nói về con người, thì đó là việc Thiên Chúa làm; khi nói về tội nhân, thì đó là chuyện chính con người làm. Bạn hãy phá đi điều bạn đã làm, để Thiên Chúa cứu độ điều Ngài đã làm. Khi bạn bắt đầu ghét điều bạn đã làm, lúc đó những việc tốt đẹp của bạn khởi sự, bởi vì bạn đã cáo mình về các việc xấu của bạn. Xưng thú các việc xấu là bắt đầu các việc tốt. Bạn đang thực hiện sự thật và bạn đang đến cùng Ánh sáng. [Back]
1459
Việc đền tội
Có nhiều tội gây thiệt hại cho tha nhân. Phải làm hết sức có thể, để sửa sai lại (thí dụ, trả lại đồ vật đã lấy cắp, phục hồi danh dự cho người mình đã vu khống, bồi thường các thương tích). Riêng đức công bằng đã đòi hỏi điều đó. Nhưng hơn nữa, tội lỗi gây thương tổn và làm suy yếu chính tội nhân, và cả mối liên hệ giữa họ với Thiên Chúa và với tha nhân. Việc xá giải xoá bỏ tội lỗi, nhưng không mang lại phương dược cho mọi xáo trộn do tội lỗi gây nên. Được giải thoát khỏi tội lỗi, tội nhân còn phải hồi phục đầy đủ sức khoẻ thiêng liêng. Vì vậy, họ còn phải làm một việc gì đó để sửa lại tội lỗi của họ: phải “đền bù” cách thích hợp hoặc đền tạ về các tội lỗi của mình. Việc đền tội này cũng được gọi là “thống hối”. [Back]
1460
Việc đền tội, mà vị giải tội ấn định, phải chú ý đến tình trạng riêng của hối nhân và mưu cầu điều thiện hảo thiêng liêng cho họ. Bao nhiêu có thể, việc đền tội phải tương xứng với sự trầm trọng và bản chất của các tội đã phạm. Có thể đền tội bằng cách cầu nguyện, dâng cúng, bằng những việc từ thiện, phục vụ tha nhân, bằng các việc hãm mình, hy sinh, và nhất là kiên trì đón nhận thánh giá chúng ta phải vác. Những việc đền tội như thế giúp chúng ta nên giống Đức Kitô, Đấng duy nhất, đã đền bù tội lỗi chúng ta[58] một lần cho mãi mãi. Chúng sẽ làm cho chúng ta trở nên đồng thừa tự với Đức Kitô phục sinh, bởi vì “chúng ta cùng chịu đau khổ với Người” (Rm 8,17):
Chúng ta không thể làm việc đền tội để đền vì tội lỗi chúng ta, nếu không nhờ Chúa Giêsu Kitô: tự sức mình chúng ta không thể làm được gì, nhưng cùng với Người là Đấng ban sức mạnh cho chúng ta, chúng ta làm được mọi việc. Con người không có gì để tự phụ, nhưng tất cả vinh quang của chúng ta là ở nơi Đức Kitô, trong Người, chúng ta đền tội, bằng cách ‘làm ra những hoa quả xứng đáng của lòng thống hối, do Người, những hoa quả ấy có sức mạnh; bởi Người, chúng được dâng lên Chúa Cha; và nhờ Người, chúng được Chúa Cha chấp nhận. [Back]
Thừa tác viên của bí tích Thống Hối
Bởi vì Đức Kitô đã trao cho các Tông Đồ của Người thừa tác vụ giao hoà, nên các giám mục, những người kế nhiệm các ngài, và các linh mục, là những cộng sự viên của các giám mục, tiếp tục thi hành thừa tác vụ này. Thật vậy, các giám mục và các linh mục, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, có quyền tha tất cả tội lỗi nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. [Back]
1462
Việc xá giải tội lỗi giao hoà chúng ta với Thiên Chúa và cũng giao hoà với Hội Thánh. Vì vậy, Giám mục, vị thủ lãnh hữu hình của Giáo Hội địa phương, từ rất xa xưa, vẫn được coi là người có quyền và có thừa tác vụ giao hoà một cách chính yếu: ngài là người điều phối kỷ luật thống hối. Các linh mục, là cộng sự viên của ngài, thi hành thừa tác vụ này trong phạm vi năng quyền mà họ lãnh nhận hoặc do giám mục của mình (hay do bề trên dòng tu) hoặc do Đức Giáo Hoàng, theo luật Hội Thánh. [Back]
1463
Có một số tội nặng đặc biệt, ai phạm sẽ bị vạ tuyệt thông, là hình phạt nặng nhất theo giáo luật, cấm không cho nhận lãnh các bí tích và không được thi hành một số tác vụ trong Hội Thánh, và việc xá giải hình phạt này chỉ có thể được ban, theo giáo luật, do Đức Giáo Hoàng, do Giám mục giáo phận hay do các linh mục được các vị trên ủy quyền. Trong trường hợp nguy tử, bất cứ linh mục nào, dù không có năng quyền giải tội, vẫn có thể tha hết mọi tội và mọi vạ tuyệt thông. [Back]
1464
Các tư tế phải khuyến khích các tín hữu đến với bí tích Thống Hối, và phải tỏ ra luôn sẵn sàng cử hành bí tích này mỗi khi các Kitô hữu yêu cầu một cách hợp lý. [Back]
1465
Khi cử hành bí tích Thống Hối, tư tế chu toàn thừa tác vụ của vị Mục tử nhân lành đi tìm chiên lạc, của người Samaritanô nhân hậu băng bó các vết thương, của người Cha chờ đợi đứa con hoang đàng và đón nhận nó khi nó trở về, của vị thẩm phán công chính không thiên vị ai, và xét xử vừa công bằng vừa hay thương xót. Tắt một lời, tư tế là dấu chỉ và là dụng cụ của tình yêu thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân. [Back]
1466
Vị giải tội không phải là chủ nhân, nhưng là thừa tác viên của ơn tha thứ của Thiên Chúa. Thừa tác viên của bí tích này phải gắn bó mình với ý hướng và tình yêu của Đức Kitô. Ngài phải có một sự hiểu biết đã được kiểm chứng về luân lý Kitô giáo, có kinh nghiệm về các vấn đề nhân bản, biết tôn trọng và dịu dàng đối với người sa ngã; ngài phải yêu mến sự thật, trung thành với Huấn Quyền của Hội Thánh và kiên trì giúp hối nhân được chữa lành và trưởng thành đầy đủ. Ngài phải cầu nguyện và đền tội cho hối nhân, trong khi phó thác họ cho lòng thương xót của Chúa. [Back]
1467
Vì sự thánh thiêng và cao cả rất hiển nhiên của thừa tác vụ này và vì sự tôn trọng phải có đối với con người, Hội Thánh tuyên bố rằng mọi tư tế nghe xưng tội, bắt buộc phải giữ bí mật tuyệt đối về các tội mà hối nhân đã xưng với họ, nếu lỗi phạm sẽ bị những hình phạt nghiêm khắc nhất. Các linh mục cũng không được sử dụng những hiểu biết do việc xưng tội cung cấp cho họ về đời sống của các hối nhân. Bí mật này, không chấp nhận các luật trừ, được gọi là ấn tín bí tích, bởi vì tất cả những gì hối nhân đã bày tỏ với linh mục, đều được niêm ấn bởi bí tích. [Back]
Các hiệu quả của bí tích Thống Hối
Tất cả hiệu quả của bí tích Thống Hối là đưa chúng ta về lại trong ân sủng của Thiên Chúa và kết hợp chúng ta với Ngài bằng tình thân nghĩa thắm thiết. Vì vậy, mục đích và hiệu quả của bí tích này là sự giao hoà với Thiên Chúa. Nơi những người lãnh nhận bí tích Thống Hối với lòng ăn năn và sự chuẩn bị đạo đức, bí tích này sẽ mang lại sự bình an và thư thái trong lương tâm, kèm theo là niềm an ủi dào dạt trong tâm hồn. Thật vậy, bí tích Giao Hoà với Thiên Chúa mang lại một cuộc phục sinh thiêng liêng thật sự, hoàn trả lại phẩm giá và những điều thiện hảo cho đời sống làm con Thiên Chúa, mà cao qúi nhất là tình thân nghĩa với Thiên Chúa. [Back]
1469
Bí tích này giao hoà chúng ta với Hội Thánh. Tội lỗi làm suy yếu hay cắt đứt sự hiệp thông huynh đệ. Bí tích Thống Hối canh tân hoặc tái tạo sự hiệp thông đó. Theo nghĩa này, bí tích không những chữa lành hối nhân, làm cho họ được hiệp thông lại với Hội Thánh, mà còn có một hiệu quả mang lại sức sống cho đời sống Hội Thánh, vốn đã phải chịu đựng tội lỗi của một trong các chi thể của mình. Tội nhân, một khi đã được phục hồi hay được củng cố trong mầu nhiệm các thánh thông công, thì được tăng cường nhờ sự hiệp thông các gia sản thiêng liêng giữa mọi chi thể sống động của Thân Thể Đức Kitô, hoặc còn đang trên đường lữ hành, hoặc đã ở nơi quê hương thiên quốc:
Nhưng phải thêm rằng việc giao hoà này với Thiên Chúa như còn dẫn tới những sự giao hoà khác, để hàn gắn nhiều đổ vỡ khác do tội gây ra: khi được tha thứ, hối nhân giao hoà với chính mình nơi phần thâm sâu nhất của hữu thể mình, nơi người đó tìm lại được sự thật nội tại của mình; hối nhân được giao hoà với anh em mà một cách nào đó họ đã xúc phạm và gây thương tổn; hối nhân được giao hoà với Hội Thánh; hối nhân được giao hoà với tất cả các thụ tạo. [Back]
1470
Trong bí tích này, khi phó mình cho sự phán xét đầy thương xót của Thiên Chúa, một cách nào đó, tội nhân tham dự trước vào sự phán xét mà họ phải chịu khi cuộc đời ở trần gian của họ kết thúc. Vì bây giờ, trong cuộc đời này, chúng ta còn được chọn lựa giữa cõi sống và cõi chết: nếu không nhờ con đường hối cải, chúng ta không thể vào được Nước Thiên Chúa, nơi mà vì tội trọng chúng ta bị loại trừ ra khỏi đó. Khi ăn năn trở lại với Đức Kitô nhờ Thống Hối và đức tin, tội nhân sẽ từ cõi chết bước vào cõi sống và “khỏi bị xét xử" (Ga 5,24). [Back]
Các ân xá
Giáo lý và việc
thực hành về các ân xá trong Hội Thánh liên hệ mật
thiết với các hiệu quả của bí tích Thống Hối.
Ân xá là gì?
Ân xá là việc tha
thứ trước mặt Thiên Chúa khỏi những hình
phạt tạm đáng chịu vì những tội lỗi
đã phạm, dù những tội đó đã được tha thứ.
Để hưởng nhờ ân xá, Kitô hữu phải hội đủ
những điều kiện được thẩm quyền của Hội
Thánh quy định, vì với tư cách là thừa tác viên của
Ơn cứu chuộc, Hội Thánh có thẩm quyền phân phát
và chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các Thánh.
Ân xá có thể là từng phần hay toàn phần, tuỳ theo
mức độ giải thoát từng phần hay trọn vẹn
các hình phạt tạm đáng phải chịu vì tội.
Tín hữu nào cũng có thể hưởng các ân xá cho chính
mình, hay cho những người đã qua đời. [Back]
1472
Những hình phạt do tội
Để hiểu giáo lý và việc thực hành này của Hội Thánh, chúng ta phải biết tội lỗi có hậu quả kép. Tội trọng làm cho chúng ta không được hiệp thông với Thiên Chúa, và do đó làm cho chúng ta không còn khả năng hưởng sự sống muôn đời; sự mất mát này được gọi là “hình phạt đời đời” do tội lỗi. Mặt khác, bất cứ tội nào, dù là tội nhẹ, đều kéo theo nó một sự quyến luyến lệch lạc với các thụ tạo, nên cần được thanh tẩy, hoặc ngay ở đời này, hoặc sau khi chết, trong tình trạng được gọi là luyện ngục. Sự thanh tẩy này giải thoát khỏi điều được gọi là hình phạt tạm do tội. Hai hình phạt này không được coi như một cách báo thù nào đó do Thiên Chúa giáng xuống từ bên ngoài, nhưng đúng hơn phải coi như là xuất phát từ chính bản chất của tội. Việc hối cải do đức mến nồng nàn có thể đưa đến một sự thanh tẩy trọn vẹn cho tội nhân, đến độ không còn hình phạt nào tồn tại nữa. [Back]
1473
Sự tha thứ tội lỗi và tái lập hiệp thông với Thiên Chúa khiến chúng ta được tha các hình phạt đời đời do tội. Nhưng những hình phạt tạm do tội vẫn còn. Kitô hữu, trong khi nhẫn nại chịu đựng những đau khổ và thử thách đủ loại, và trong việc đón nhận cái chết với tâm hồn thanh thản khi ngày đó đến, phải cố gắng đón nhận những hình phạt tạm do tội như là một ân sủng; họ phải cố gắng cởi bỏ hoàn toàn “con người cũ” và mặc lấy con người mới, nhờ những công việc đầy tình thương xót và bác ái, cũng như nhờ cầu nguyện và nhiều việc thống hối khác nhau. [Back]
1474
Trong mầu nhiệm các thánh thông công
Kitô hữu không đơn độc khi cố gắng thanh tẩy mình khỏi tội lỗi và thánh hóa bản thân với sự trợ giúp của ơn Chúa. Đời sống của mỗi con cái Thiên Chúa được kết hợp một cách lạ lùng, trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, với đời sống của tất cả các anh em Kitô hữu trong sự hợp nhất siêu nhiên của Nhiệm Thể Đức Kitô, như trong một con người huyền nhiệm. [Back]
1475
Trong mầu nhiệm các thánh thông công, giữa các tín hữu, cả những vị đã đạt tới quê hương thiên quốc, cả những người còn đền tội nơi luyện ngục, cả những người đang lữ hành trên trần gian, có một dây liên kết vững bền trong tình yêu và một sự trao đổi dồi dào tất cả các điều thiện hảo. Trong sự trao đổi kỳ diệu này, sự thánh thiện của một người sinh lợi cho những người khác, vượt xa sự thiệt hại mà tội lỗi của một người có thể gây ra cho những người khác. Như vậy, sự trở về với mầu nhiệm các thánh thông công cho phép tội nhân thống hối được thanh tẩy khỏi các hình phạt do tội một cách nhanh chóng và hữu hiệu hơn. [Back]
1476
Chúng ta gọi những điều thiện hảo thiêng liêng của mầu nhiệm các Thánh thông công là kho tàng của Hội Thánh, thật ra đây không phải là như tổng số các điều thiện hảo giống như tổng số của cải vật chất được tích lũy qua bao thế kỷ, nhưng là giá trị vô cùng vô tận trước nhan Thiên Chúa của những việc đền tội và những công phúc của Chúa Kitô, tất cả được dâng lên để toàn thể nhân loại được giải thoát khỏi tội lỗi và được hiệp thông với Chúa Cha; chính Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc, trong Người có, và có một cách dư dật, những việc đền tội và những công phúc do Ơn cứu chuộc của Người. [Back]
1477
Ngoài ra, kho tàng này còn bao gồm giá trị vô lượng vô biên và luôn luôn mới trước nhan Thiên Chúa của những lời cầu nguyện và những việc lành của Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc và của tất cả các Thánh. Là những người bước theo chân Chúa Kitô nhờ ân sủng của Người, các ngài đã thánh hoá bản thân, và chu toàn công việc được Chúa Cha chấp nhận; đến độ, khi hành động để chính mình được cứu độ, các ngài cũng góp phần làm cho các anh em mình được cứu độ trong sự hợp nhất của nhiệm thể. [Back]
1478
Nhận được ân xá của Thiên Chúa nhờ Hội Thánh
Người ta nhận được ân xá nhờ Hội Thánh; Hội Thánh, nhờ quyền cầm buộc và tháo cởi do Chúa Giêsu Kitô ban, can thiệp vì lợi ích của một Kitô hữu nào đó và mở cho họ kho tàng công phúc của Đức Kitô và của các thánh, để họ nhận được nơi Chúa Cha giàu lòng thương xót ơn tha thứ những hình phạt tạm họ đáng phải chịu do tội. Như vậy, Hội Thánh không những muốn giúp đỡ tín hữu đó, mà còn thúc đẩy họ làm những việc đạo đức, thống hối và bác ái. [Back]
1479
Bởi vì các tín hữu đã qua đời đang chịu thanh luyện cũng là những thành viên trong mầu nhiệm các thánh thông công, nên chúng ta có thể giúp họ, ngoài các cách khác, bằng cách lãnh nhận các ân xá (để nhường) cho họ, nhờ đó, họ được tha các hình phạt tạm họ đang phải chịu do tội lỗi của họ. [Back]
Cử hành bí tích Thống Hối
Cũng như tất cả các bí tích, bí tích Thống Hối là một hành động phụng vụ. Đây là những yếu tố thông thường của việc cử hành: Lời chào hỏi và chúc lành của tư tế, việc đọc Lời Chúa để soi sáng lương tâm và khơi dậy lòng ăn năn, và việc khuyên nhủ thống hối; việc xưng tội gồm nhìn nhận tội lỗi và xưng ra với tư tế; tư tế ấn định và hối nhân chấp nhận việc đền tội; lời xá giải của tư tế; hối nhân ca ngợi tạ ơn và ra về với phép lành của tư tế. [Back]
1481
Phụng vụ Byzantin có nhiều công thức xá giải, mang hình thức cầu khẩn, diễn tả cách tuyệt vời mầu nhiệm tha thứ: Thiên Chúa đã dùng tiên tri Nathan mà tha thứ cho Đavid khi ông xưng thú tội mình. Ngài đã tha thứ cho ông Phêrô khi ông khóc lóc đau đớn, đã tha thứ cho người kỹ nữ khi cô nhỏ lệ trên chân Chúa, đã tha thứ cho người thu thuế và cho đứa con hoang đàng. Xin chính Thiên Chúa tha thứ cho bạn, qua tôi, là kẻ tội lỗi, ở đời này và đời sau, và không kết án bạn, khi đòi bạn phải ra trước toà phán xét khủng khiếp của Ngài, Ngài là Đấng được chúc tụng muôn đời. Amen. [Back]
1482
Bí tích Thống Hối cũng có thể diễn ra trong khung cảnh một cử hành cộng đoàn, trong đó các hối nhân cùng nhau chuẩn bị xưng tội và cùng nhau cảm tạ sau khi được ơn tha thứ. Ở đây, việc xưng tội cá nhân và việc xá giải từng người được chen vào trong một cử hành phụng vụ Lời Chúa, với các bài đọc và bài giảng, xét mình chung, cùng nhau xin ơn tha thứ, đọc kinh Lạy Cha và cùng nhau tạ ơn. Việc cử hành cộng đoàn này diễn tả rõ nét hơn chiều kích Hội Thánh của việc thống hối. Tuy nhiên, dầu cử hành cách nào, bí tích Thống Hối, tự bản chất của nó, vẫn luôn luôn là một hành động phụng vụ, vì vậy luôn có chiều kích Hội Thánh và có tính công khai. [Back]
1483
Trong những trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng, có thể cử hành bí tích Giao Hoà tập thể tức là xưng tội chung và xá giải chung. Trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng như vậy có thể xảy ra, là khi trong cơn nguy tử mà một hay nhiều tư tế không đủ thời giờ nghe từng hối nhân xưng tội. Trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng cũng có thể là, khi có đông hối nhân mà không có đủ cha giải tội để nghe từng người xưng tội đúng cách trong một thời gian thích hợp, đến nỗi các hối nhân không được lãnh ơn của bí tích hoặc không được rước lễ trong thời gian lâu dài mà không do lỗi của họ. Trong trường hợp này, để việc xá giải được thành sự, các tín hữu phải quyết tâm là sẽ đi xưng tội riêng những tội trọng của mình vào thời gian thích hợp. Giám mục giáo phận có quyền thẩm định những điều kiện cần thiết để giải tội tập thể. Số lượng đông đảo các tín hữu trong những dịp lễ lớn hay các cuộc hành hương, không được coi là trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng. [Back]
1484
Việc xưng tội riêng và xưng tội đầy đủ cùng với việc xá giải tạo thành phương cách thông thường duy nhất, nhờ đó các tín hữu được giao hoà với Thiên Chúa và với Hội Thánh; chỉ có sự bất lực thể lý hay luân lý mới miễn chuẩn việc xưng tội như trên. Điều này có những lý do sâu xa. Đức Kitô hành động trong mỗi bí tích. Người đích thân nói với từng tội nhân: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5); Người là thầy thuốc cúi mình trên từng bệnh nhân đang cần Người chữa lành; Người nâng họ dậy và dẫn họ về hiệp thông lại với anh em. Vì vậy, việc xưng tội riêng là hình thức có ý nghĩa nhất trong việc giao hoà với Thiên Chúa và với Hội Thánh. [Back]
Tóm lược
Chiều ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23). [Back]
1486
Việc tha thứ tội lỗi đã phạm sau bí tích Rửa Tội được trao ban nhờ một bí tích riêng được gọi là bí tích Hối cải, bí tích Giải tội, bí tích Thống Hối, hoặc bí tích Giao hoà. [Back]
1487
Ai phạm tội, đều xúc phạm đến danh dự và tình yêu của Thiên Chúa, xúc phạm đến phẩm giá riêng của mình, là người được mời gọi làm con Thiên Chúa và xúc phạm đến giá trị linh thiêng của Hội Thánh mà mỗi Kitô hữu phải là viên đá sống động. [Back]
1488
Trong ánh sáng đức tin, không có gì xấu hơn là tội lỗi; không có hậu quả nào thảm hại hơn cho chính tội nhân, cho Hội Thánh và cho cả thế giới. [Back]
1489
Việc trở về hiệp thông với Thiên Chúa, sự hiệp thông đã bị đánh mất do tội, xuất phát từ ân sủng của Thiên Chúa, Đấng đầy lòng nhân từ luôn quan tâm cứu độ con người. Phải van xin hồng ân quý giá này cho bản thân cũng như cho mọi kẻ khác. [Back]
1490
Động thái trở về với Thiên Chúa được gọi là hối cải và thống hối, gồm sự đau buồn và ghê tởm các tội đã phạm và quyết tâm không phạm tội nữa. Vì vậy, sự hối cải bao trùm cả quá khứ lẫn tương lai, được nuôi dưỡng bằng sự trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa. [Back]
1491
Bí tích Thống Hối bao gồm ba hành vi của hối nhân và sự xá giải của tư tế. Ba hành vi của hối nhân là: thống hối; xưng tội với tư tế; quyết tâm làm việc đền tội và các việc đền bù. [Back]
1492
Thống hối (hay ăn năn tội) phải do động lực đức tin thúc đẩy. Nếu thống hối phát xuất từ lòng yêu mến Chúa, thì đó là ăn năn tội cách trọn; nếu phát xuất từ những động lực khác, thì đó là ăn năn tội cách chẳng trọn. [Back]
1493
Ai muốn được giao hoà với Thiên Chúa và với Hội Thánh, phải xưng thú cùng tư tế tất cả những tội trọng chưa xưng và nhớ được sau khi đã xét mình kỹ lưỡng. Hội Thánh tha thiết khuyên xưng các tội nhẹ, mặc dù điều này không bắt buộc. [Back]
1494
Vị giải tội chỉ định cho hối nhân thi hành một số việc “đền tội” hoặc “thống hối” nào đó, để đền bù những thiệt hại do tội gây ra, và để tái lập những tập quán riêng của người môn đệ Đức Kitô. [Back]
1495
Chỉ các tư tế được Hội Thánh ban năng quyền giải tội, mới có thể tha tội nhân danh Đức Kitô.
1496
Những hiệu quả thiêng liêng của bí tích Thống Hối là:
– được giao hoà với Thiên Chúa, và như vậy, hối nhân được nhận lại ân sủng;
– được giao hoà với Hội Thánh;
– được tha thứ hình phạt đời đời đáng phải chịu vì các tội trọng đã phạm;
– được tha thứ, ít nhất một phần, các hình phạt tạm là hậu quả của tội;
– được bình an thư thái trong lương tâm và được an ủi thiêng liêng;
– được gia tăng sức mạnh thiêng liêng để chiến đấu trong cuộc đời Kitô hữu. [Back]
1497
Việc xưng thú
cá nhân và xưng thú tất cả các tội trọng, tiếp
theo là việc xá giải, là phương thức thông thường duy
nhất để lãnh nhận ơn giao hoà với Thiên Chúa và
với Hội Thánh. [Back]
1498
Nhờ các ân xá, các tín hữu có thể đạt được
cho chính mình và cả cho các linh hồn trong luyện ngục,
ơn tha thứ các hình phạt tạm, là hậu quả của
tội. [Back]
Bí Tích Xức Dầu
bệnh nhân
Qua việc xức dầu bệnh nhân và lời cầu nguyện
của các linh mục, toàn thể Hội Thánh phó thác các bệnh
nhân cho Chúa chịu nạn và vinh hiển để Người nâng
đỡ và cứu chữa họ; hơn nữa, Hội Thánh
còn khuyên bảo họ tự nguyện kết hợp
với cuộc khổ nạn và sự chết của Đức
Kitô, để mưu ích cho dân Thiên Chúa. [Back]
1500
Nền tảng của bí tích Xức Dầu bệnh nhân
trong nhiệm cục Cứu Độ
Bệnh tật trong đời sống con người
Bệnh tật và đau khổ luôn luôn là những vấn đề nghiêm trọng nhất ảnh hưởng trên đời sống con người. Trong cơn bệnh, con người cảm nghiệm sự bất lực, các giới hạn và sự hữu hạn của mình. Mọi bệnh tật đều có thể khiến chúng ta nhìn xa đến cái chết. [Back]
1501
Bệnh tật có thể đưa đến sự lo lắng, tự khép kín, đôi khi tuyệt vọng và nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Nhưng nó cũng có thể làm cho con người chín chắn hơn, giúp họ phân định điều gì không phải là chính yếu trong đời họ, để quay về với điều chính yếu. Bệnh tật rất thường gợi lên sự tìm hiểu về Thiên Chúa, gợi lên sự trở lại với Ngài. [Back]
1502
Bệnh nhân trước mặt Thiên Chúa
Con người thời Cựu Ước sống trong bệnh tật trước tôn nhan Thiên Chúa. Họ than thở với Thiên Chúa về bệnh tật của mình và xin Ngài, là Chúa sự sống và sự chết, chữa lành. Bệnh tật trở thành con đường hối cải, và ơn tha thứ của Thiên Chúa là khởi đầu việc chữa lành. Dân Israel cảm nghiệm rằng, bệnh tật có liên hệ cách bí nhiệm với tội lỗi và sự dữ, và sự trung thành với Thiên Chúa, theo Lề Luật của Ngài, sẽ trả lại sự sống: “vì Ta là Chúa, Đấng chữa lành ngươi” (Xh 15,26). Có Tiên tri đã thoáng nhận ra rằng đau khổ có thể có giá trị cứu chuộc đối với tội lỗi của những người khác. Sau cùng, tiên tri Isaia loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đem đến cho Sion một thời đại, lúc đó Ngài sẽ tha thứ mọi tội lỗi và chữa lành mọi bệnh tật. [Back]
1503
Đức Kitô – thầy thuốc
Lòng thương cảm của Đức Kitô đối với các bệnh nhân và nhiều việc chữa lành mọi thứ bệnh tật Người đã thực hiện là một dấu chỉ hiển nhiên cho thấy rằng Thiên Chúa đã viếng thăm Dân Ngài và Nước Thiên Chúa đã gần kề. Chúa Giêsu không những có quyền chữa lành mà còn có quyền tha tội: Người đến để chữa lành con người toàn diện, cả xác cả hồn; Người là thầy thuốc mà các bệnh nhân cần đến. Lòng thương cảm của Người đối với tất cả những người chịu đau khổ, đã đi đến chỗ Người tự nên một với họ: “Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng” (Mt 25,36). Tình yêu đặc biệt của Người đối với những người đau yếu, trải qua các thế kỷ, đã không ngừng khơi dậy sự quan tâm đặc biệt của các Kitô hữu đối với tất cả những ai chịu đau khổ phần xác hay phần hồn. Tình yêu này làm phát sinh những cố gắng không mệt mỏi để nâng đỡ những người đau khổ đó. [Back]
1504
Chúa Giêsu thường đòi buộc các bệnh nhân phải tin. Người dùng những dấu chỉ để chữa lành: nước miếng và việc đặt tay, bùn đất và việc rửa sạch. Các bệnh nhân tìm cách chạm đến Người “vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người” (Lc 6,19). Vì vậy, trong các bí tích, Đức Kitô tiếp tục chạm đến chúng ta để chữa lành chúng ta. [Back]
1505
Xúc động trước quá nhiều đau khổ, Đức Kitô không những cho phép các bệnh nhân chạm đến Người, mà còn lấy những đau khổ của chúng ta làm của Người: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17). Tuy nhiên, Người đã không chữa lành tất cả các bệnh nhân. Những việc chữa lành của Người là những dấu chỉ rằng Nước Thiên Chúa đang đến. Chúng loan báo một sự chữa lành triệt để hơn: đó là sự chiến thắng tội lỗi và sự chết, nhờ cuộc Vượt Qua của Người. Trên thập giá, Đức Kitô đã mang vào thân thể Người tất cả gánh nặng của sự dữ và Người đã xoá “tội trần gian” (Ga 1,29), mà bệnh tật của trần gian chỉ là một hậu quả. Bằng cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá của Người, Đức Kitô đem lại cho đau khổ một ý nghĩa mới: từ nay đau khổ có thể làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Người và kết hợp chúng ta vào cuộc khổ nạn sinh ơn cứu chuộc của Người. [Back]
1506
Hãy chữa lành các bệnh nhân
Đức Kitô mời gọi các môn đệ vác thánh giá của mình mà theo Người. Khi theo Người, các môn đệ có được một tầm nhìn mới về các bệnh tật và các bệnh nhân. Chúa Giêsu đã cho họ dự phần vào đời sống nghèo khó và phục vụ của Người. Người cho họ tham dự vào thừa tác vụ cảm thương và chữa lành của Người: “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh” (Mc 6,12-13). [Back]
1507
Chúa phục sinh đã lặp lại sứ
vụ này (“Nhân danh Thầy... họ đặt tay trên những
người bệnh, thì những người này sẽ được
mạnh khỏe”: Mc
16,17-18) và xác nhận sứ vụ đó qua các dấu chỉ
Hội Thánh thực hiện trong khi kêu cầu Danh Người[19].
Các dấu chỉ này biểu lộ cách đặc biệt Chúa
Giêsu thật sự là “Thiên Chúa cứu độ. [Back]
1508
Chúa Thánh Thần ban cách đặc biệt cho một số người đoàn sủng chữa lành để biểu lộ sức mạnh của ân sủng của Đấng phục sinh. Tuy nhiên những lời cầu nguyện sốt sắng nhất cũng không luôn luôn chữa lành tất cả mọi bệnh tật. Thánh Phaolô phải học nơi Chúa điều này: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9); và những đau khổ phải chịu có thể có ý nghĩa này: “Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho Thân Thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24). [Back]
1509
“Hãy
chữa lành người đau yếu!” (Mt 10,8). Hội Thánh đã nhận
nơi Chúa mệnh lệnh này và cố gắng thi hành mệnh lệnh
đó qua việc chăm sóc các bệnh nhân và việc nguyện cầu
để đồng hành với họ. Hội Thánh tin vào sự
hiện diện sống động của Đức Kitô, vị
thầy thuốc của cả phần hồn phần xác.
Sự hiện diện này đặc biệt tác động trong
các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, là bánh ban sự sống
đời đời và liên hệ của bánh này với sự chữa
lành phần xác đã được thánh Phaolô nói đến. [Back]
1510
Hội Thánh từ thời các Tông Đồ đã biết đến một nghi thức riêng dành cho các bệnh nhân. Thánh Giacôbê đã làm chứng về điều này: “Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,14-15). Truyền thống đã nhìn nhận nghi thức này là một trong bảy bí tích của Hội Thánh.
1511
Bí tích của các bệnh nhân
Hội Thánh tin và tuyên xưng, trong bảy bí tích, có một bí tích đặc biệt dành để củng cố những người bị thử thách vì bệnh tật: đó là bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân: Việc xức dầu thánh cho các bệnh nhân đã được Đức Kitô Chúa chúng ta thiết lập một cách thật sự và đúng nghĩa như là một bí tích của Giao Ước Mới, được thánh Marcô nhắc đến, và được giới thiệu và công bố cho các tín hữu nhờ thánh Giacôbê, vị Tông Đồ và là người anh em của Chúa. [Back]
1512
Trong truyền thống phụng vụ của
Đông cũng như Tây phương, từ xa xưa, đã có những bằng
chứng về bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân với dầu
đã được làm phép. Qua các thế kỷ, bí tích Xức Dầu
Bệnh Nhân, càng ngày càng ít được sử dụng, chỉ được
ban cho những người sắp chết. Vì vậy bí
tích này có tên gọi là việc Xức dầu cuối cùng. Mặc
dù có sự chuyển biến này, phụng vụ không bao giờ
bỏ qua việc cầu xin Chúa cho bệnh nhân được hồi
phục sức khoẻ, nếu điều này phù hợp với
ơn cứu độ của họ. [Back]
1513
ông Hiến Sacram unctionem infirmorum (Việc Xức Dầu Thánh cho bệnh nhân) ban hành ngày 30.11.1972, theo đường hướng Công đồng Vaticanô II, xác định từ nay, trong nghi lễ Rôma, phải thực hành như sau:
Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân được ban cho những ai bệnh tật nguy kịch, bằng việc xức trên trán và trên hai bàn tay với dầu ô liu hoặc, tuỳ nghi, dầu thực vật khác, đã được làm phép đúng luật, và chỉ đọc một lần: Nhờ việc xức dầu thánh này và nhờ lòng từ bi nhân hậu của Chúa, xin Chúa dùng ơn Chúa Thánh Thần mà giúp đỡ con, để Ngài giải thoát con khỏi mọi tội lỗi, cứu chữa con và thương làm cho con thuyên giảm. [Back]
Ai lãnh nhận và ai ban bí tích Xức Dầu
bệnh nhân
Trong trường hợp bệnh nặng
Xức Dầu bệnh nhân không phải là bí tích chỉ
dành cho những người hấp hối. Do đó, thời gian
thích hợp để lãnh nhận bí tích này là khi tín hữu
bắt đầu lâm cơn nguy tử vì bệnh tật hay
già yếu. [Back]
1515
Nếu bệnh nhân đã lãnh bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân và được hồi phục, rồi sau đó trở bệnh nặng, thì có thể lãnh bí tích này lần nữa. Trong cùng một cơn bệnh kéo dài, bí tích này có thể được tái ban nếu cơn bệnh trở nên trầm trọng hơn. Trước khi chịu một cuộc giải phẫu quan trọng, tín hữu nên lãnh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Cũng vậy, người lớn tuổi cũng nên lãnh nhận khi sức lực họ suy yếu dần. [Back]
1516
Hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến
Chỉ có các tư tế (giám mục và linh mục) là thừa tác viên bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Các mục tử có trách nhiệm phải dạy cho các tín hữu về những ơn ích của bí tích này. Các tín hữu phải động viên bệnh nhân để mời tư tế đến ban bí tích. Các bệnh nhân phải chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận bí tích này, với sự trợ giúp của mục tử và toàn thể giáo xứ, những người được mời đến hỗ trợ bệnh nhân, một cách đặc biệt, bằng lời cầu nguyện và sự quan tâm huynh đệ. [Back]
1517
Bí tích này được cử hành thế nào?
Cũng như mọi bí tích khác, bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân là một cử hành phụng vụ có tính cộng đoàn, dù cử hành ở gia đình, ở bệnh viện hay ở nhà thờ, cho một hay một nhóm bệnh nhân. Rất nên cử hành bí tích này trong thánh lễ, là cuộc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa. Nếu hoàn cảnh cho phép, có thể cử hành bí tích Thống Hối trước khi ban bí tích Xức Dầu, và tiếp đó là bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể, là bí tích của cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, luôn luôn phải là bí tích cuối cùng của cuộc lữ hành trần thế, là “Của ăn đàng” cho việc bước qua đời sống vĩnh cửu. [Back]
1518
Lời [Chúa] và bí tích làm nên một thể thống nhất bất khả phân ly. Sau nghi thức thống hối, phần phụng vụ Lời Chúa khai mở việc cử hành bí tích. Những lời của Đức Kitô, chứng từ của các Tông Đồ khơi dậy đức tin cho bệnh nhân và cho cộng đoàn, để cầu xin Chúa ban sức mạnh Thần Khí của Người. [Back]
1519
Việc cử hành bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân chủ yếu gồm có các phần như sau: Các kỳ mục của Hội Thánh thinh lặng đặt tay trên bệnh nhân; các ngài cầu nguyện cho bệnh nhân trong đức tin của Hội Thánh, đó là kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) đặc thù của bí tích này; rồi các ngài xức dầu cho bệnh nhân bằng dầu đã được làm phép, nếu có thể được, bởi Giám mục. Các hành động phụng vụ này cho thấy bí tích này mang lại biết bao ân sủng cho các bệnh nhân. [Back]
Hiệu quả của bí tích Xức Dầu bệnh nhân
Hồng ân đặc biệt của Chúa
Thánh Thần. Ân sủng đầu tiên của bí tích này là ơn an ủi,
bình an và can đảm cho tâm hồn để thắng vượt
những khó khăn do tình trạng của cơn bệnh trầm
trọng hay của tuổi già sức yếu. Ân sủng này
là hồng ân của Chúa Thánh Thần, để canh tân sự
phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa, và ban sức mạnh để
chống lại các cám dỗ của Thần dữ, cám dỗ
làm cho tâm hồn thất vọng và lo âu trước cái chết.
Sự trợ giúp này của Chúa nhờ sức mạnh của
Thần Khí Người nhằm chữa lành linh hồn bệnh
nhân, nhưng cũng chữa lành cả thân xác, nếu đó là thánh
ý Thiên Chúa. Ngoài ra, “nếu người ấy đã phạm
tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,15)
1521
Kết hợp với cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Nhờ ân sủng của bí tích này, bệnh nhân lãnh nhận sức mạnh và hồng ân để kết hợp chặt chẽ hơn với cuộc khổ nạn của Đức Kitô: một cách nào đó họ được thánh hiến để mang lại hoa trái nhờ đồng hình đồng dạng với cuộc khổ nạn sinh ơn cứu chuộc của Đấng cứu độ. Đau khổ, vốn là hậu quả của tội nguyên tổ, nay mang một ý nghĩa mới: đó là dự phần vào công trình cứu độ của Chúa Giêsu.
1522
Ân sủng có chiều kích Hội Thánh. Các tín hữu lãnh nhận bí tích này, nhờ sẵn sàng kết hợp với sự đau khổ và cái chết của Đức Kitô, góp phần mưu ích cho dân Thiên Chúa. Khi cử hành bí tích này trong mầu nhiệm các Thánh thông công, Hội Thánh cầu nguyện cho bệnh nhân; bệnh nhân, đến lượt mình, nhờ ân sủng của bí tích này, góp phần vào sự thánh hóa Hội Thánh và mưu ích cho mọi người, vì tất cả những người đó mà Hội Thánh chịu đau khổ và tự hiến cho Chúa Cha nhờ Đức Kitô. [Back]
1523
Chuẩn bị cho cuộc vượt qua cuối
cùng. Nếu bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân được ban cho
những người đang chịu bệnh tật và đau yếu nặng,
thì càng thích hợp hơn cho những người sắp
lìa đời, nên nó cũng được gọi là “bí tích của
những người ra đi” (sacramentum exeuntium). Bí tích Xức Dầu
Bệnh Nhân hoàn tất việc làm cho chúng ta nên đồng
hình đồng dạng với cái Chết và sự Sống
lại của Đức Kitô, cũng như bí tích Rửa Tội đã
khởi sự điều đó. Bí tích này hoàn tất các lần xức
dầu thánh ghi dấu suốt cuộc đời Kitô hữu;
việc xức dầu của bí tích Rửa Tội đã
đóng ấn cuộc sống mới trong chúng ta; việc xức
dầu của bí tích Thêm Sức tăng sức mạnh cho chúng
ta để chiến đấu trong cuộc sống này. Việc xức
dầu lần cuối này gìn giữ lúc kết thúc cuộc
đời chúng ta bằng sự che chở vững vàng trong những
trận chiến cuối cùng trước khi tiến vào Nhà Cha. [Back]
1524
Của Ăn Đàng, bí tích cuối cùng của Kitô
hữu
Đối với những người sắp lìa đời, ngoài bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, Hội Thánh còn ban bí tích Thánh Thể làm Của ăn đàng. Việc lãnh nhận Mình và Máu Đức Kitô, vào lúc sắp về với Chúa Cha, có một ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Đây là hạt giống của đời sống vĩnh cửu và là sức mạnh của sự phục sinh, theo lời Chúa nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Bí tích Thánh Thể, là bí tích của Đức Kitô đã chết và đã sống lại, giờ đây là bí tích của việc chuyển từ cõi chết đi vào cõi sống, từ trần gian này về với Chúa Cha. [Back]
1525
Cũng như các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể hợp thành một thể thống nhất được gọi là các bí tích khai tâm Kitô giáo, người ta có thể nói các bí tích Thống Hối, Xức Dầu Bệnh Nhân và Thánh Thể như Của ăn đàng, vào lúc cuối đời Kitô hữu, hợp thành “các bí tích chuẩn bị về Quê trời” hay là các bí tích hoàn tất cuộc lữ hành trần thế. [Back]
Tóm lược
“Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy
hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến,
họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức
dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ
cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy,
và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ
được Chúa thứ tha" (Gc 5,14-15). [Back]
1527
Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân có mục đích ban ân sủng đặc biệt cho tín hữu đang bị thử thách vì những khó khăn do tình trạng bệnh nặng hay tuổi già sức yếu. [Back]
1528
Thời gian thích hợp để lãnh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân là khi tín hữu bắt đầu lâm cơn nguy tử vì bệnh tật hay già yếu. [Back]
1529
Mỗi khi lâm trọng bệnh, Kitô hữu có thể lãnh nhận bí tích Xức Dầu, và khi bệnh tình trở nên nguy kịch, có thể nhận lại bí tích này. [Back]
1530
Chỉ các tư tế (linh mục và Giám mục) mới có thể ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Để trao ban, các ngài sử dụng dầu do Giám mục làm phép, hay trong trường hợp khẩn cấp, do chính linh mục đang cử hành làm phép. [Back]
1531
Nghi thức chính yếu của bí tích này gồm việc xức dầu trên trán và hai tay của bệnh nhân (theo nghi lễ Rôma) hoặc trên các phần thân thể khác (theo nghi lễ Đông phương), việc xức dầu có kèm theo lời cầu nguyện phụng vụ của tư tế cử hành, cầu xin ân sủng đặc biệt của bí tích này. [Back]
1532
Ân sủng đặc biệt của bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân có những hiệu quả như sau:
– giúp bệnh nhân được kết hợp với cuộc khổ nạn của Đức Kitô, để mưu ích cho bản thân và cho toàn thể Hội Thánh;
– mang lại cho bệnh nhân sự an ủi, bình an và lòng can đảm, để chịu đựng theo tinh thần Kitô giáo những đau khổ do bệnh tật hay tuổi già;
– ban ơn tha tội, nếu bệnh nhân không thể xưng tội được;
– đem lại sự hồi phục sức khoẻ, nếu điều đó hữu ích cho ơn cứu độ thiêng liêng;
– chuẩn bị để bước vào đời sống vĩnh cửu. [Back]
Các bí tích phục vụ hiệp thông
Các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể là những bí tích khai tâm Kitô giáo. Ba bí tích này đặt nền tảng cho ơn gọi chung của tất cả các môn đệ Đức Kitô, ơn gọi đến sự thánh thiện và đến sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho trần gian. Ba bí tích này mang lại những ân sủng cần thiết cho đời sống theo Chúa Thánh Thần trong cuộc lữ hành đời này tiến về quê hương vĩnh cửu. [Back]
1534
Hai bí tích khác, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối, hướng về ơn cứu độ của tha nhân. Chúng cũng mang lại ơn cứu độ cho bản thân, nhưng chúng thực hiện điều đó qua việc phục vụ tha nhân. Hai bí tích này trao ban một sứ vụ đặc biệt trong Hội Thánh, và phục vụ cho việc xây dựng dân Thiên Chúa. [Back]
1535
Trong các bí tích này, những ai đã được
thánh hiến bởi các bí tích Rửa Tội và Thêm Sức để
lãnh nhận chức tư tế cộng đồng của tất
cả các tín hữu, đều có thể lãnh nhận các
việc thánh hiến đặc biệt. Những người
lãnh nhận bí tích Truyền Chức Thánh được thánh
hiến để dẫn dắt Hội Thánh bằng Lời và
ân sủng của Thiên Chúa nhân
danh Đức Kitô. Về phần mình, các đôi phối ngẫu
Kitô hữu, thì được ban sức mạnh và như được
thánh hiến bằng một bí tích đặc biệt để chu
toàn các chức vụ và phẩm giá của bậc sống của
mình. [Back]
1536
Bí Tích Truyền
Chức Thánh
Truyền Chức Thánh là bí tích qua đó, sứ vụ Đức
Kitô đã ủy thác cho các Tông Đồ của Người được
tiếp tục thực thi trong Hội Thánh cho đến tận
thế: vì vậy, đây là bí tích của thừa tác vụ
Tông Đồ. Bí tích này gồm ba cấp bậc: chức Giám mục,
chức linh mục và chức phó tế.
(Về việc Đức Kitô thiết lập và trao ban thừa tác vụ Tông Đồ, xem các số 874-896. Ở đây, chỉ bàn về đời sống bí tích qua đó, thừa tác vụ này được lưu truyền). [Back]
1537
Tại sao gọi là bí tích Truyền Chức Thánh?
Vào thời cổ Rôma, người ta dùng từ Ordo để chỉ những tập thể dân sự, nhất là tập thể của những người lãnh đạo. Ordinatio chỉ việc đón nhận vào một tập thể (ordo) nào đó. Trong Hội Thánh có những tập thể như vậy mà truyền thống, dựa trên cơ sở Thánh Kinh, ngay từ xưa gọi là taxeis (tiếng Hy lạp) hay ordines (tiếng La tinh, nghĩa là hàng, bậc). Chẳng hạn, Phụng vụ nói đến hàng Giám mục (ordo episcoporum), hàng linh mục (ordo presbyterorum), hàng phó tế (ordo diaconorum). Nhiều nhóm khác cũng được gọi là ordo: các dự tòng, các trinh nữ, các đôi phối ngẫu, các bà goá. [Back]
1538
Việc đón nhận vào một trong những tập thể đó của Hội Thánh thường được diễn ra bằng một nghi thức, gọi là ordinatio, qua một hành vi tôn giáo và phụng vụ: đó có thể là một sự thánh hiến, một sự chúc lành hay một bí tích. Ngày nay, từ ordinatio (truyền chức) dành riêng cho việc cử hành bí tích để đón nhận một người vào hàng Giám mục, linh mục và phó tế; việc truyền chức này hơn hẳn việc đơn thuần bầu cử, chỉ định, ủy nhiệm hay thiết lập bởi cộng đoàn, bởi vì việc truyền chức ban hồng ân Chúa Thánh Thần, cho phép thực thi một quyền thánh chức, quyền này chỉ có thể xuất phát từ chính Đức Kitô, qua Hội Thánh của Người. Việc truyền chức (ordinatio) cũng được gọi là sự thánh hiến (consecratio), bởi vì đây là một sự tách riêng ra và giao nhiệm vụ bởi chính Đức Kitô để phục vụ Hội Thánh Người. Việc đặt tay của Giám mục cùng với lời nguyện thánh hiến, làm thành dấu chỉ hữu hình của sự thánh hiến này. [Back]
Bí tích Truyền Chức Thánh trong nhiệm cục
Cứu Độ
Chức tư tế của Giao Ước Cũ
Dân Chúa chọn được Thiên Chúa thiết lập như một “vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,6). Nhưng giữa dân Israel, Thiên Chúa lại chọn một trong mười hai chi tộc, đó là chi tộc Lêvi, được đặt riêng ra để lo công tác phụng vụ; chính Thiên Chúa là phần gia nghiệp của chi tộc này. Một nghi thức riêng biệt đã thánh hiến các tư tế đầu tiên của Giao Ước Cũ. Họ được đặt lên vì loài người trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. [Back]
1540
Chức tư tế này được thiết lập để rao giảng lời Thiên Chúa và tái lập sự hiệp thông với Thiên Chúa bằng các hy lễ và lời cầu nguyện, nhưng nó vẫn không có khả năng thực hiện ơn cứu độ, nên tuy lặp lại không ngừng việc dâng các hy lễ, nó vẫn không đạt được sự thánh hoá vĩnh viễn; điều mà chỉ có hy tế của Đức Kitô mới thực hiện được. [Back]
1541
Tuy nhiên, phụng vụ của Hội Thánh vẫn nhận ra trong chức tư tế của ông Aaron và việc phục vụ của các thầy Lêvi, cũng như việc thiết lập nhóm bảy mươi Kỳ mục, những hình ảnh báo trước cho thừa tác vụ có chức thánh của Giao Ước Mới. Trong nghi lễ La tinh, Hội Thánh cầu xin trong lời nguyện thánh hiến để truyền chức Giám mục như sau:
Lạy Cha là Thiên Chúa và là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, Cha đã dùng lời ân sủng mà ban bố các quy tắc trong Hội Thánh. Từ nguyên thủy, Cha đã tiền định cho dòng dõi những người công chính phát xuất từ tổ phụ Abraham. Cha đã thiết lập những vị thủ lãnh và tư tế, và không để thánh điện Cha thiếu người phục vụ. [Back]
1542
Khi truyền chức linh mục, Hội Thánh cầu nguyện:
Lạy Chúa là Cha chí thánh, ngay ở thời Cựu Ước xa xưa đã phát sinh những chức vụ được thiết lập qua các nhiệm tích: vì khi Cha đặt ông Môisen và ông Aaron cai trị và thánh hoá dân chúng, Cha đã chọn những người có phẩm hàm và địa vị thấp hơn để giúp đỡ tập thể và công việc của các ông. Vì vậy, trong hoang địa, Cha đã phân phát thần trí của ông Môisen cho bảy mươi người có trí thông minh. Cũng vậy, Cha đã thông ban sự sung mãn của ông Aaron cho con cháu ông. [Back]
1543
Và trong lời nguyện thánh hiến để truyền chức Phó Tế, Hội Thánh tuyên xưng:
Lạy Cha là Thiên Chúa toàn năng, … Cha ban cho Thân Thể ấy (là Hội Thánh của Cha) tăng trưởng và triển nở thành Đền Thờ mới mẻ rộng lớn. Bằng các nhiệm vụ thánh, Cha thiết lập ba cấp thừa tác viên phục vụ Danh Cha, như Cha đã chọn con cháu ông Lêvi từ thuở đầu, để chu toàn thừa tác vụ nơi đền thánh cũ. [Back]
1544
Chức tư tế duy nhất của Đức Kitô
Tất cả hình ảnh của Giao Ước Cũ báo trước về chức tư tế đã được hoàn tất nơi Đức Kitô Giêsu, “Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (1 Tm 2,5). Ông Melchisedech, “tư tế của Thiên Chúa tối cao” (St 14,18), được truyền thống Kitô giáo xem như hình ảnh báo trước chức tư tế của Đức Kitô, Đấng duy nhất là “Thượng tế theo phẩm trật Melchisedech” (Dt 5,10; 6,20), “thánh thiện, vẹn toàn, vô tội” (Dt 7,26), “Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hoá được nên hoàn hảo” (Dt 10,14), nghĩa là Người chỉ dâng một hy lễ thập giá. [Back]
1545
Hy lễ cứu chuộc của Đức Kitô là
duy nhất, được thực hiện một lần cho
mãi mãi. Tuy nhiên, hy lễ này hiện diện trong
hy lễ Thánh Thể của Hội Thánh. Cũng có thể
nói y như vậy về chức tư tế duy nhất của Đức
Kitô: chức tư tế của Người hiện diện nhờ
chức tư tế thừa tác mà tính duy nhất của chức
tư tế của Đức Kitô không bị suy giảm: Thật
vậy, Đức Kitô là vị Tư tế đích thực duy nhất,
còn những người khác chỉ là thừa tác viên của
Người. [Back]
1546
Hai cách tham dự vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô
Đức Kitô, là thượng tế và trung gian duy nhất, đã làm cho Hội Thánh thành vương quốc tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người. Như vậy, toàn thể cộng đoàn các tín hữu là tư tế. Các tín hữu thực thi chức tư tế do Phép Rửa qua việc họ tham dự, mỗi người theo ơn gọi riêng của mình, vào sứ vụ của Đức Kitô là Tư tế, Tiên tri và Vương đế. Nhờ các bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, các tín hữu “được thánh hiến để trở nên một hàng tư tế thánh. [Back]
1547
Chức tư tế thừa tác hay phẩm trật của các Giám mục và linh mục và chức tư tế cộng đồng của tất cả các tín hữu, mỗi chức theo cách của mình, tham dự vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô; tuy khác nhau về bản chất, nhưng cả hai tuỳ thuộc lẫn nhau. Theo nghĩa nào? Chức tư tế cộng đồng của các tín hữu được thực hiện qua việc làm tăng trưởng ân sủng Phép Rửa, đời sống tin cậy mến, đời sống theo Chúa Thánh Thần; còn chức tư tế thừa tác là để phục vụ chức tư tế cộng đồng, giúp làm tăng trưởng ân sủng Phép Rửa của mọi Kitô hữu. Đó là một trong những phương tiện Đức Kitô không ngừng sử dụng để xây dựng và dẫn dắt Hội Thánh Người. Vì vậy mà chức tư tế thừa tác được trao ban qua một bí tích riêng, là bí tích Truyền Chức Thánh. [Back]
1548
Trong cương vị Đức Kitô là Đầu
Chính Đức Kitô hiện diện với Hội Thánh Người trong việc phục vụ của các thừa tác viên có chức thánh; Người hiện diện với tư cách là Đầu của thân thể Người, là Mục Tử của đoàn chiên của Người, là Thượng Tế của hy lễ cứu chuộc, là Thầy dạy chân lý. Đó là điều Hội Thánh muốn diễn tả khi xác quyết rằng vị tư tế, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, hành động trong cương vị Đức Kitô là Đầu (in persona Christi Capitis):
Cùng một vị Tư Tế là chính Đức
Kitô Giêsu, còn thừa tác viên của Người thật ra
đảm nhận cương vị thánh thiêng của Người. Bởi
vì vị này, nhờ sự thánh hiến linh mục mà
ông đã lãnh nhận, ông được đồng hoá với Vị
Thượng Tế, và ông được quyền hành động với
quyền năng và cương vị của chính Đức Kitô (virtute ac
persona ipsius Christi). Đức Kitô là nguồn mạch mọi chức
tư tế: vì vị tư tế của luật cũ là
hình bóng của Người; còn vị tư tế của
luật mới hành động trong cương vị của Đức
Kitô. [Back]
1549
Nhờ thừa tác vụ thánh chức, nhất
là của các Giám mục và linh mục, sự hiện diện
của Đức Kitô với tư cách là Đầu Hội Thánh, trở
nên hữu hình giữa cộng đoàn tín hữu. Theo kiểu
nói rất hay của thánh Ignatiô Antiôchia, Giám mục là typos
tou Patros, như là hình ảnh sống động của Chúa
Cha. [Back]
1550
Sự hiện diện như vậy của Đức Kitô trong thừa tác viên không được hiểu là vị này đã được gìn giữ khỏi mọi yếu đuối của con người, khỏi tinh thần thống trị, khỏi sai lầm và khỏi cả tội lỗi. Sức mạnh của Chúa Thánh Thần không bảo đảm cho tất cả các hành vi của thừa tác viên bằng cùng một cách thức. Khi thừa tác viên cử hành các bí tích, thì điều bảo đảm này được trao ban, nên thậm chí tội lỗi của thừa tác viên cũng không thể ngăn cản hiệu quả của ân sủng; còn trong nhiều hành vi khác, dấu ấn con người của thừa tác viên để lại những vết tích, không phải luôn luôn là dấu chỉ của sự trung thành với Tin Mừng và vì vậy những hành vi đó có thể làm phương hại đến sự sinh hoa kết quả trong việc tông đồ của Hội Thánh. [Back]
1551
Chức tư tế này là chức tư tế thừa
tác. Nhiệm vụ đó, được Chúa trao phó cho các mục tử
của dân Người, thật sự là một việc phục
vụ. Nó hoàn toàn hướng tới Đức Kitô và hướng tới
con người. Chức tư tế thừa tác hoàn toàn lệ thuộc
vào Đức Kitô và vào chức tư tế duy nhất của Người,
và được thiết lập vì con người và cộng
đoàn Hội Thánh. Bí tích Truyền Chức Thánh thông ban “quyền
thánh chức”, không là gì khác hơn là quyền năng thánh thiêng
của Đức Kitô. Vì vậy, việc thực thi quyền
này phải rập theo mẫu gương của Đức Kitô, Đấng
vì yêu thương đã trở nên người rốt hết và
là tôi tớ của mọi người. Chúa đã tuyên bố
rõ ràng rằng việc chăm sóc đoàn chiên là bằng chứng
tình yêu đối với Người. [Back]
1552
Nhân danh toàn thể Hội Thánh
Chức tư tế thừa tác không những có nhiệm vụ đại diện cho Đức Kitô, Đấng là Đầu Hội Thánh, trước cộng đoàn tín hữu, mà còn hành động nhân danh toàn thể Hội Thánh, khi dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện của Hội Thánh, và nhất là khi dâng Hy lễ Thánh Thể. [Back]
1553
Nhân danh toàn thể Hội Thánh không có nghĩa là các tư tế là những đại biểu của cộng đoàn. Lời cầu nguyện và lễ vật của Hội Thánh không thể tách rời khỏi lời cầu nguyện và lễ vật của Đức Kitô, Đấng là Đầu Hội Thánh. Đây luôn luôn là việc phụng tự của Đức Kitô trong và nhờ Hội Thánh Người. Toàn thể Hội Thánh, là Thân Thể Đức Kitô, cầu nguyện và dâng mình cho Chúa Cha, “chính nhờ Người, với Người và trong Người”, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần. Toàn thân thể, gồm Đầu và các chi thể, cầu nguyện và dâng mình; vì vậy, những ai ở trong thân thể đó, đặc biệt là các thừa tác viên của thân thể đó, được gọi là thừa tác viên không những của Đức Kitô mà còn của Hội Thánh nữa. Bởi vì chức tư tế thừa tác đại diện cho Đức Kitô, nên nó có thể đại diện cho Hội Thánh. [Back]
Ba cấp bậc của bí tích Truyền Chức Thánh
Thừa tác vụ trong Hội Thánh, do Chúa thiết lập, được thực thi trong những cấp bậc khác nhau do những người, mà từ thời xa xưa, đã được gọi là Giám mục, linh mục và phó tế. Giáo lý Công giáo, được diễn tả trong phụng vụ, trong Huấn Quyền và trong cách thực hành không thay đổi của Hội Thánh, thừa nhận có hai cấp bậc tham dự theo thừa tác vụ vào chức tư tế của Đức Kitô: đó là hàng Giám mục và hàng linh mục. Hàng phó tế có nhiệm vụ giúp đỡ và phục vụ các vị trên. Vì thế từ tư tế (sacerdos), theo cách sử dụng hiện nay, dùng để chỉ các Giám mục và các linh mục, nhưng không chỉ các phó tế. Tuy nhiên, giáo lý Công giáo dạy rằng những cấp bậc tham dự vào chức tư tế (Giám mục và linh mục) và cấp bậc phục vụ (phó tế), cả ba đều được trao ban qua một hành vi bí tích được gọi là “ordinatio”, nghĩa là qua bí tích Truyền Chức Thánh:
Chớ gì mọi người tôn trọng các phó tế như Chúa Giêsu Kitô, tôn trọng Giám mục như hình ảnh của Chúa Cha và tôn trọng các linh mục như nghị viên của Thiên Chúa và như công hội các Tông Đồ: không có những vị này, không thể nói về Hội Thánh. [Back]
1555
Truyền Chức Giám Mục – Sự viên mãn của bí tích Truyền Chức Thánh
Trong số các thừa
tác vụ khác nhau được thực thi trong Hội Thánh từ
buổi sơ khai, thì theo chứng từ của Truyền
Thống, vị trí chủ yếu thuộc về phận vụ
của những người, được thiết đặt trong hàng Giám Mục, qua sự kế nhiệm
liên tục từ ban đầu, là những người có những
mầm mống hạt giống Tông Đồ. [Back]
1556
Để hoàn thành sứ vụ cao cả của
mình, các Tông Đồ được Đức Kitô đổ tràn đầy
Chúa Thánh Thần cách đặc biệt, và chính các Tông Đồ
trao ban hồng ân thiêng liêng cho các cộng sự viên của
mình qua việc đặt tay, điều đó được lưu truyền
cho đến chúng ta trong việc thánh hiến Giám Mục. [Back]
1557
Công đồng Vaticanô II dạy: Việc thánh hiến
Giám mục mang lại sự viên mãn của bí tích Truyền
Chức Thánh, mà tập tục phụng vụ của Hội
Thánh và các Thánh Giáo phụ gọi là chức tư tế tối
cao, là tột đỉnh của thừa tác vụ thánh. [Back]
1558
Việc thánh hiến Giám mục, cùng với
nhiệm vụ thánh hoá, cũng trao ban nhiệm vụ giảng
dạy và cai quản.
Rõ ràng là nhờ việc đặt tay và nhờ các lời
thánh hiến, ân sủng của Chúa Thánh Thần được truyền
thông và ấn tín thánh thiêng được in ấn, đến độ
các Giám mục, một cách trổi vượt và có thể thấy
được, đảm nhận các vai trò của chính Đức
Kitô là Thầy, Mục tử và Thượng tế, và hành động
trong cương vị của Người (in Eius persona agant). Nhờ
Chúa Thánh Thần, Đấng được ban cho các Giám mục, các
ngài trở thành những Thầy dạy đức tin, Thượng
tế, và Mục tử thật sự và đích thực. [Back]
1559
Một vị nào đó được thiết đặt làm thành viên của Giám mục đoàn, nhờ việc thánh hiến của bí tích và nhờ sự hiệp thông phẩm trật với vị thủ lãnh và các thành viên của Giám mục đoàn. Đặc tính và bản chất cộng đoàn của hàng Giám mục được biểu lộ bằng nhiều cách, trong đó có một thực hành từ xa xưa của Hội Thánh, là muốn có nhiều Giám mục tham dự việc thánh hiến một tân Giám mục. Để truyền chức hợp pháp một Giám mục, ngày nay phải có sự can thiệp đặc biệt của Giám mục Rôma, vì ngài là dây liên kết hữu hình tối cao của sự hiệp thông các Giáo Hội địa phương trong một Hội Thánh duy nhất, và là người bảo đảm cho sự tự do của các Giáo Hội đó. [Back]
1560
Mỗi Giám mục, với tư cách là vị đại
diện của Đức Kitô, có trách nhiệm mục vụ
trong Giáo Hội địa phương đã được trao phó cho ngài,
nhưng đồng thời, một cách tập đoàn với mọi
anh em của ngài trong hàng Giám mục, ngài quan tâm đến tất
cả các Giáo Hội: “Dù mỗi Giám mục là mục tử
thánh thiêng của phần đoàn chiên được trao phó cho ngài,
nhưng vì là người kế nhiệm hợp pháp của
các Tông Đồ do Chúa thiết lập và truyền lệnh, nên
ngài phải là người bảo đảm cho nhiệm vụ
tông đồ của Hội Thánh cùng với các Giám mục
khác. [Back]
1561
Những điều trên đây giải thích tại
sao bí tích Thánh Thể do một Giám mục cử hành lại
có một ý nghĩa hết sức đặc biệt, xét
như sự diễn tả một Hội Thánh quy tụ quanh
bàn thờ, dưới sự chủ tọa của vị đại
diện hữu hình của Đức Kitô, là Mục tử
nhân lành và là Đầu của Hội Thánh Người. [Back]
1562
Truyền chức linh mục - cộng sự viên của Giám mục
Đức Kitô, Đấng Chúa Cha đã thánh hoá và sai vào trần gian, qua các Tông Đồ của Người, đã làm cho các vị kế nhiệm các ngài, nghĩa là các Giám mục, được tham dự vào việc thánh hiến và vào sứ vụ của Người. Các Giám mục lại giao trách nhiệm thừa tác vụ của mình một cách hợp pháp cho nhiều người dưới quyền trong Hội Thánh, theo cấp bậc khác nhau. Trách nhiệm thừa tác vụ của các Giám mục được trao cho các linh mục, ở cấp bậc phụ thuộc, để một khi đã được thiết đặt vào hàng linh mục, các vị này là những cộng tác viên của hàng Giám mục hầu chu toàn cách thích đáng sứ vụ tông đồ đã được Đức Kitô trao phó. [Back]
1563
Chức vụ của các linh mục, vì
được liên kết với hàng Giám mục, nên được tham dự
vào quyền bính mà chính Đức Kitô đã dùng để xây dựng,
thánh hóa và cai quản Thân Thể Người. Vì vậy, chức
tư tế của các linh mục, tuy đòi phải có các bí
tích khai tâm Kitô giáo, nhưng còn được trao ban bằng một
bí tích riêng, nhờ đó các linh mục được ghi dấu bằng
một ấn tín đặc biệt, qua việc xức dầu
bằng Chúa Thánh Thần, và như vậy các vị này nên đồng
hình đồng dạng với Đức Kitô Tư Tế, đến
nỗi có thể hành động trong cương vị của Đức
Kitô là Đầu. [Back]
1564
Tuy không có quyền cao nhất của chức
thượng tế và tùy thuộc các Giám mục trong khi thực
thi năng quyền của mình, các linh mục vẫn được
liên kết với các Giám mục trong danh dự tư tế, và
nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, các linh mục được
thánh hiến theo hình ảnh Đức Kitô, vị Thượng
Tế vĩnh cửu, để rao giảng Tin Mừng, hướng
dẫn các tín hữu, và cử hành việc phụng tự
thần linh với tư cách là những tư tế đích thực của
Giao Ước Mới. [Back]
1565
Nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, các tư tế
tham dự vào tính phổ quát của sứ vụ được Đức
Kitô trao phó cho các Tông Đồ. Hồng ân thiêng liêng các ngài nhận
lãnh trong việc truyền chức, chuẩn bị các
ngài, không phải cho một sứ vụ giới hạn và
thu hẹp, nhưng cho sứ vụ cứu độ rất rộng
lớn có tính phổ quát, “cho đến tận cùng trái đất”
(Cv 1,8), đến
độ các ngài “sẵn sàng đi rao giảng Tin Mừng ở bất
cứ nơi nào. [Back]
1566
Các ngài thực thi nhiệm vụ thánh thiêng của
mình cách tuyệt hảo nhất trong phụng tự
Thánh Thể, qua đó, khi hành động trong cương vị Đức
Kitô và công bố mầu nhiệm của Người, các ngài kết
hợp lễ dâng của các tín hữu với hy lễ của
Đấng là Đầu của họ, và trong Hy tế Thánh lễ,
cho tới khi Chúa đến, các ngài hiện tại hóa và áp dụng
hy lễ duy nhất của Giao Ước Mới, là hy lễ của
Đức Kitô, Đấng đã tự hiến làm lễ vật
tinh tuyền dâng lên Chúa Cha một lần cho mãi
mãi. Toàn bộ thừa tác vụ tư tế của các
ngài múc được sức mạnh từ hy lễ duy nhất
này. [Back]
1567
Là cộng sự viên biết lo xa, là phụ tá và là dụng cụ của hàng Giám mục, được kêu gọi để phục vụ dân Thiên Chúa, các linh mục cùng với Giám mục của mình tạo thành linh mục đoàn (presbyterium) duy nhất, tuy đảm nhận những chức vụ khác nhau. Trong mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương, một cách nào đó các linh mục là hiện thân của Giám mục, mà các ngài hằng liên kết với lòng tin tưởng và quảng đại, các ngài lãnh nhận một phần các nhiệm vụ và sự quan tâm của Giám mục, và thực thi phần việc ấy bằng sự chăm sóc hằng ngày. Các linh mục không thể thực thi nhiệm vụ của mình nếu không tùy thuộc vào Giám mục và hiệp thông với ngài. Lời hứa vâng phục Giám mục khi chịu chức và cái hôn bình an của Giám mục vào cuối phụng vụ truyền chức, cho thấy Giám mục nhận các linh mục như cộng sự viên, như con cái, như anh em, như bạn hữu của mình, và phần các linh mục, phải yêu mến và vâng phục Giám mục. [Back]
1568
Tất cả các linh mục, được thiết đặt vào hàng linh mục nhờ việc truyền chức, liên kết mật thiết với nhau bằng tình huynh đệ do bí tích; nhưng cách đặc biệt trong một giáo phận, nơi các ngài được chỉ định phục vụ dưới quyền một Giám mục riêng, các ngài hợp thành một linh mục đoàn duy nhất. Tính duy nhất của linh mục đoàn được biểu lộ qua một tập tục phụng vụ, đó là trong nghi thức truyền chức linh mục, sau Giám mục, chính các linh mục cũng đặt tay [lên đầu vị tiến chức]. [Back]
1569
Truyền chức Phó tế – để phục vụ
Ở bậc thấp hơn của phẩm trật, có các phó tế, những người được đặt tay, không phải để lãnh nhận chức tư tế, nhưng là để phục vụ. Khi truyền chức phó tế, chỉ một mình Giám mục đặt tay; điều này cho thấy phó tế được liên kết đặc biệt với Giám mục trong các trách nhiệm phục vụ của ngài. [Back]
1570
Các phó tế
tham dự vào sứ vụ và ân sủng của Đức Kitô
một cách đặc biệt. Bí tích Truyền Chức Thánh ghi
cho họ một ấn tín không thể tẩy xóa, và làm cho họ
nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Đấng
trở thành người phục vụ, nghĩa là tôi tớ của
mọi người. Ngoài các nhiệm vụ khác, phần việc
của các phó tế là phụ giúp Giám mục và các linh mục
trong việc cử hành các mầu nhiệm thần linh, nhất
là mầu nhiệm Thánh Thể, trao Mình Thánh Chúa, chứng
kiến và chúc lành cho bí tích Hôn Phối, công bố và giảng
Tin Mừng, chủ sự lễ nghi an táng và dấn thân vào
các việc phục vụ bác ái. [Back]
1571
Sau Công đồng Vaticanô II, Giáo Hội La tinh tái
lập chức phó tế xét như một bậc riêng và vĩnh
viễn của phẩm trật, trong khi các Giáo Hội Đông
phương vẫn duy trì chức vụ này từ xưa. Chức
phó tế vĩnh viễn này, có thể được ban cho những
người nam đã lập gia đình, làm phong phú cho Hội
Thánh trong vấn đề sứ vụ. Quả vậy, thật
là thích hợp và hữu ích, khi có những người chu toàn thừa
tác vụ phó tế trong Hội Thánh cả trong đời sống
phụng vụ và mục vụ cả trong các công tác
xã hội và bác ái, nhờ việc đặt tay đã được
các Tông Đồ truyền lại, họ được nên vững mạnh
và được kết hợp mật thiết hơn với bàn
thánh, để chu toàn thừa tác vụ của mình một
cách hữu hiệu hơn nhờ ân sủng bí tích của chức
phó tế. [Back]
Việc cử hành
bí tích Truyền Chức Thánh
Việc cử hành truyền chức cho Giám mục, linh mục hay phó tế, vì tầm quan trọng của việc đó đối với đời sống Giáo Hội địa phương, nên có các tín hữu tham dự đông đảo bao nhiêu có thể. Tốt nhất là cử hành vào ngày Chúa Nhật và tại nhà thờ Chánh Toà với sự long trọng tuỳ theo hoàn cảnh. Cả ba lễ truyền chức, Giám mục, linh mục và phó tế, đều theo cùng một diễn tiến. Việc truyền chức được cử hành trong Thánh lễ. [Back]
1573
Nghi thức chính yếu của bí tích Truyền
Chức Thánh, cho cả ba bậc, gồm việc Giám mục
đặt tay trên đầu vị thụ phong, cùng với lời
nguyện thánh hiến, khẩn cầu Thiên Chúa tuôn đổ
Chúa Thánh Thần và những hồng ân của Ngài, phù hợp
với thừa tác vụ mà ứng viên được truyền chức. [Back]
1574
Cũng như trong các bí tích khác, nghi thức truyền chức có kèm theo một số nghi thức phụ. Tuy rất khác biệt trong những truyền thống phụng vụ khác nhau, nhưng cách chung, các nghi thức phụ này đều diễn tả nhiều khía cạnh của ân sủng bí tích. Trong nghi lễ La tinh, có những nghi thức khởi đầu gồm: việc giới thiệu và tuyển chọn tiến chức, huấn dụ của Giám mục, khảo hạch tiến chức, kinh cầu các Thánh; những nghi thức này xác nhận ứng viên được tuyển chọn đúng theo cách làm của Hội Thánh, và chuẩn bị cho hành vi long trọng là việc thánh hiến. Sau nghi thức truyền chức, còn có những nghi thức kèm theo để diễn tả và thực hiện cách biểu tượng mầu nhiệm vừa cử hành: đối với tân Giám mục và tân linh mục có việc xức dầu thánh, là dấu chỉ của việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần cách đặc biệt làm cho thừa tác vụ của các ngài được sinh hoa kết quả; việc trao cho tân Giám mục sách Tin Mừng, nhẫn, mũ và gậy như dấu chỉ cho sứ vụ tông đồ của ngài là rao giảng Lời Chúa, sự trung thành của ngài đối với Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô, và nhiệm vụ của ngài là mục tử của đoàn chiên của Chúa; việc trao cho tân linh mục dĩa và chén thánh, là dấu chỉ của lễ vật của dân thánh mà tân linh mục được kêu gọi để dâng lên Thiên Chúa; việc trao sách Tin Mừng cho tân phó tế là người đã lãnh nhận sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô. [Back]
1575
Ai có thể ban bí tích này?
Đức Kitô đã tuyển chọn các Tông Đồ và cho họ tham dự vào sứ vụ và quyền bính của Người. Khi lên ngự bên hữu Chúa Cha, Người không bỏ rơi đoàn chiên của Người, nhưng nhờ các Tông Đồ, Người gìn giữ đoàn chiên dưới sự bảo vệ không ngừng của Người, và vẫn đang hướng dẫn đoàn chiên đó nhờ các mục tử, những người ngày nay đang tiếp nối công trình của Người. Vì vậy, Đức Kitô “ban cho” người này làm Tông Đồ, người khác làm mục tử. Chính Người tiếp tục hành động qua các Giám mục. [Back]
1576
Bởi vì bí tích Truyền Chức Thánh là
bí tích của thừa tác vụ Tông Đồ, nên việc truyền
thông “hồng ân thiêng liêng và hạt giống Tông Đồ thuộc
về các Giám mục, với tư cách là những vị kế
nhiệm các Tông Đồ. Các Giám mục đã được truyền
chức cách thành sự, nghĩa là những vị ở
trong chuỗi kế nhiệm Tông Đồ, trao ban cách thành sự
cả ba cấp bậc của bí tích Truyền Chức
Thánh. [Back]
1577
Ai có thể lãnh nhận bí tích này?
Chỉ người nam (vir) đã được Rửa Tội mới lãnh nhận bí tích Truyền Chức Thánh cách thành sự. Chúa Giêsu đã tuyển chọn những người nam (viri) để thành lập nhóm Mười Hai Tông Đồ, và các Tông Đồ cũng làm như vậy khi tuyển chọn các cộng sự viên, những người kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ của các ngài. Giám mục đoàn, cùng với các linh mục được liên kết với các ngài trong chức tư tế, làm cho Nhóm Mười Hai hiện diện và tác động trong hiện tại, cho tới khi Chúa lại đến. Hội Thánh biết mình bị ràng buộc với sự chọn lựa này của Chúa. Do đó, không thể có việc truyền chức cho các người nữ. [Back]
1578
Không ai có quyền đòi hỏi để lãnh nhận bí tích Truyền Chức Thánh. Thật vậy, không ai được tự nhận lấy cho mình nhiệm vụ này. Phải được Thiên Chúa kêu gọi lãnh nhiệm vụ đó. Ai nghĩ mình nhận ra những dấu chỉ ơn gọi của Thiên Chúa để lãnh nhận thừa tác vụ thánh, phải khiêm tốn trình bày nguyện vọng của mình lên thẩm quyền của Hội Thánh. Hội Thánh có trách nhiệm và có quyền gọi một người nào đó lãnh nhận các chức thánh. Cũng như mọi ân sủng, bí tích này chỉ được lãnh nhận với tính cách là một hồng ân nhưng không. [Back]
1579
Tất cả các thừa tác viên được truyền
chức của Giáo hội La tinh, trừ các phó tế vĩnh
viễn, thường được tuyển chọn từ những
nam tín hữu, những người đang sống độc thân và muốn
giữ mình độc thân “vì Nước Trời” (Mt 19,12). Được
kêu gọi tận hiến cho Chúa một cách không chia sẻ,
để lo các việc của Ngài, họ dấn thân trọn vẹn
cho Thiên Chúa và cho con người. Sự độc thân là dấu chỉ
của đời sống mới mà thừa tác viên của Hội
Thánh được thánh hiến để phục vụ. Được chấp
nhận với tâm hồn vui tươi, sự độc thân loan báo
Nước Thiên Chúa một cách rạng rỡ. [Back]
1580
Trong các Giáo Hội Đông phương, đã từ nhiều thế kỷ, có một tập tục khác: các Giám mục chỉ được tuyển chọn trong số những người độc thân, còn những người đã lập gia đình có thể được truyền chức linh mục và phó tế. Thực hành này, đã từ lâu, vẫn được coi là hợp pháp; các linh mục này thực thi thừa tác vụ hữu hiệu trong các cộng đoàn của họ. Tuy nhiên, sự độc thân của các linh mục rất được trân trọng trong các Giáo Hội Đông phương và nhiều linh mục đã tự nguyện sống độc thân vì Nước Thiên Chúa. Ở Đông phương cũng như Tây phương, ai đã lãnh nhận bí tích Truyền Chức Thánh, không còn được phép kết hôn. [Back]
Những hiệu quả của bí tích Truyền Chức
Thánh
Ấn tín không thể tẩy xóa
Bí tích này làm cho người thụ phong nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô nhờ ân sủng đặc biệt của Chúa Thánh Thần, để họ trở thành dụng cụ của Đức Kitô hầu phục vụ Hội Thánh Người. Nhờ việc truyền chức, họ nhận được khả năng hành động với tư cách là người đại diện của Đức Kitô, Đấng là Đầu Hội Thánh, trong ba nhiệm vụ của Người là Tư tế, Tiên tri và Vương đế. [Back]
1582
Cũng như trường hợp bí tích Rửa Tội
và Thêm Sức, việc tham dự này vào nhiệm vụ của
Đức Kitô được trao ban chỉ một lần cho mãi
mãi. Chính bí tích Truyền Chức Thánh cũng in một ấn
tín thiêng liêng không thể tẩy xóa nên không thể ban bí tích
lại, cũng như không thể ban để thi hành trong một
khoảng thời gian giới hạn. [Back]
1853
Người đã lãnh nhận chức thánh cách thành sự, vì những lý do nghiêm trọng, có thể được bãi miễn khỏi những bổn phận và nhiệm vụ gắn liền với việc truyền chức, hay có thể bị cấm thi hành các điều đó, nhưng không thể trở về bậc giáo dân theo nghĩa hẹp, bởi vì ấn tín được ghi do việc truyền chức vẫn còn mãi. Ơn gọi và sứ vụ đã lãnh nhận trong ngày người đó chịu chức thánh ghi dấu trên người đó một cách trường tồn. [Back]
1584
Bởi vì xét
cho cùng, chính Đức Kitô là Đấng hành động và thực hiện
ơn cứu độ qua thừa tác viên có chức thánh, nên sự
bất xứng của vị này không ngăn cản được Đức
Kitô hành động. Thánh Augustinô đã nói cách mạnh mẽ:
Quả thật, thừa
tác viên nào kiêu căng, thì bị liệt vào hàng ma quỷ;
nhưng họ không làm ô nhiễm được hồng ân của Đức
Kitô, hồng ân đó chảy qua họ vẫn tinh tuyền, hồng
ân đó đi qua họ vẫn trong suốt và đi tới đất đai
phì nhiêu. Sức mạnh thiêng liêng của bí tích giống
như ánh sáng: những ai cần được soi sáng sẽ nhận
được ánh sáng tinh tuyền, và nếu ánh sáng có đi ngang qua những
gì dơ bẩn, thì ánh sáng cũng không bị dơ bẩn. [Back]
1585
Ân sủng của Chúa Thánh Thần
Ân sủng của Chúa Thánh Thần do bí tích này trao ban là ơn được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là Tư Tế, là Thầy và là Mục Tử, mà người thụ phong được thiết đặt làm thừa tác viên của Người. [Back]
1586
Giám mục lãnh nhận trước tiên là ơn can đảm (Thánh Thần Thủ Lãnh hoặc Thánh Thần, Đấng thiết đặt các thủ lãnh: lời nguyện tấn phong Giám mục trong nghi lễ La tinh): ơn này giúp ngài hướng dẫn và bảo vệ Hội Thánh của ngài một cách can đảm hơn và khôn ngoan hơn, như một người cha và một mục tử, với một tình yêu vô vị lợi đối với tất cả mọi người và một tình yêu ưu tiên đối với những người nghèo khổ, bệnh tật, và thiếu thốn. Ơn này thúc đẩy ngài loan báo Tin Mừng cho mọi người, trở nên mẫu mực cho đoàn chiên của mình, đi tiên phong trên đường thánh thiện khi kết hợp nên một với Đức Kitô, là Tư Tế và là Lễ Vật, trong bí tích Thánh Thể, và không sợ hiến mạng sống vì đoàn chiên của mình:
Lạy Cha, Đấng hằng thấu suốt các tâm hồn, xin ban ơn cho tôi tớ Cha đây, mà Cha đã chọn vào hàng Giám mục, để ngài hướng dẫn đoàn chiên thánh của Cha, và trình lên Cha chức tư tế cao cả một cách không có gì đáng trách, ngày đêm phục vụ Cha, không ngừng làm nguôi lòng Cha, và hiến dâng những lễ vật của Hội Thánh Cha; nhờ chức tư tế cao cả, xin cho ngài có quyền tha thứ tội lỗi theo lệnh truyền của Cha, phân phối các chức vụ theo mệnh lệnh Cha và tháo cởi mọi ràng buộc theo quyền Cha ban cho các Tông Đồ; xin ban cho ngài làm thoả lòng Cha bằng sự dịu dàng và tấm lòng trong sạch, dâng lên Cha hương thơm dịu ngọt, nhờ Chúa Giêsu Kitô, Con Cha. [Back]
1587
Hồng ân thiêng liêng, được trao ban qua việc truyền chức linh mục, được diễn tả bằng kinh nguyện sau đây của nghi lễ Byzantin. Khi đặt tay, vị Giám mục cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban tràn đầy hồng ân của Thánh Thần Chúa cho người được Chúa thương nâng lên hàng linh mục, để họ xứng đáng đứng trước bàn thờ Chúa một cách không có gì đáng trách, để họ loan báo Tin Mừng của Nước Chúa, công bố Lời chân lý của Chúa, dâng lên Chúa lễ vật và tế phẩm thiêng liêng, và canh tân dân Chúa nhờ sự tẩy rửa tái sinh; để khi gặp Chúa Giêsu Kitô Con Một Chúa, là Thiên Chúa cao cả và là Đấng cứu độ chúng con khi Người ngự đến lần thứ hai, họ được lãnh nhận phần thưởng vì đã chu toàn các công việc do thánh chức của mình, nhờ lòng nhân hậu vô cùng của Chúa. [Back]
1588
Các phó tế được mạnh sức bởi
ân sủng bí tích, phục vụ dân Thiên Chúa trong các việc
phục vụ phụng vụ, lời Chúa và bác ái, trong sự
hiệp thông với Giám mục và hàng linh mục của
ngài. [Back]
1589
Trước sự cao cả của ân sủng và của nhiệm vụ tư tế, các Thánh Tiến sĩ đã cảm nghiệm tiếng gọi khẩn thiết phải hối cải để, trọn cả đời mình, đáp trả lại Đấng dùng bí tích thiết đặt các ngài làm thừa tác viên. Thánh Grêgôriô Nazianzênô, khi còn là một linh mục trẻ, đã phát biểu như sau: Trước tiên phải thanh luyện mình rồi mới thanh luyện kẻ khác; phải học sự khôn ngoan, rồi mới dạy dỗ sự khôn ngoan cho người khác; phải trở nên ánh sáng, rồi mới chiếu soi người khác; phải đến gần Chúa rồi mới dẫn người khác đến gần Ngài; phải được thánh hoá, rồi mới thánh hoá (người khác); cầm tay dẫn dắt và khuyên bảo cách khôn ngoan. Tôi biết, chúng ta là thừa tác viên của Đấng nào, chúng ta ở đâu, và chúng ta hướng về đâu. Tôi biết, Thiên Chúa cao cả như thế nào, sự yếu đuối của con người như thế nào và nó lại được ban quyền năng ra sao. [Vậy linh mục là ai ? Là] người bảo vệ chân lý, người sẽ đứng với các Thiên thần, sẽ tôn vinh với các Tổng lãnh Thiên thần, sẽ mang hy lễ lên bàn thờ thiên quốc, sẽ chia sẻ chức tư tế với Đức Kitô, sẽ tái tạo vạn vật, sẽ phục hồi hình ảnh Thiên Chúa nơi thụ tạo, sẽ là công nhân cho thế giới thiên quốc; và, cho tôi nói điều cao cả hơn nữa, linh mục sẽ là một vị thần và làm cho những người khác nên những vị thần.
Cha sở thánh xứ Ars nói: “Linh mục tiếp nối công trình cứu chuộc ở trần gian này”. “Nếu ai hiểu rõ linh mục trên trần gian này, người ấy sẽ chết không phải vì sợ hãi, mà vì yêu mến”…. “Chức linh mục là tình yêu của trái tim Chúa Giêsu. [Back]
Tóm lược
Thánh Phaolô nói với môn đệ Timôthêô của mình: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh” (2 Tm 1,6) và "Ai mong được làm giám quản, người ấy ước muốn một nhiệm vụ cao đẹp" (1 Tm 3,1). Ngài nói với ông Titô: "Tôi đã để anh ở lại đảo Kêta, chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức, và đặt những kỳ mục trong mỗi thành như tôi đã truyền cho anh" (Tt 1,5). [Back]
1591
Toàn thể Hội Thánh là một dân tư tế. Nhờ bí tích Rửa Tội, mọi tín hữu tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô. Sự tham dự này được gọi là chức tư tế cộng đồng của các tín hữu. Trên nền tảng của chức tư tế này và để phục vụ cho chức tư tế này, còn có sự tham dự khác vào sứ vụ của Đức Kitô, đó là chức tư tế thừa tác được trao ban qua bí tích Truyền Chức Thánh; nhiệm vụ của chức tư tế này là phục vụ cộng đoàn, nhân danh và trong cương vị của Đức Kitô là Đầu. [Back]
1592
Tự bản chất, chức tư tế thừa tác khác với chức tư tế cộng đồng, vì ban một quyền thánh chức để phục vụ các tín hữu. Các thừa tác viên có chức thánh thực thi sự phục vụ của mình đối với dân Thiên Chúa qua việc giảng dạy (munus docendi), cử hành phụng vụ (munus liturgicum) và hướng dẫn mục vụ (munus regendi). [Back]
1593
Từ ban đầu,
thừa tác vụ có chức thánh được trao ban và thể hiện
theo ba cấp bậc: Giám mục, linh mục và phó tế.
Các thừa tác vụ được trao ban qua bí tích Truyền Chức
Thánh là không thể thay thế trong cấu trúc hữu cơ của
Hội Thánh: không thể nói về Hội Thánh nếu không
có Giám mục, linh mục và phó tế. [Back]
1594
Giám mục lãnh nhận cách viên mãn bí tích Truyền Chức Thánh: bí tích này đưa ngài vào Giám mục đoàn và trở thành thủ lãnh hữu hình của Giáo Hội địa phương được uỷ thác cho ngài. Với tư cách là người kế nhiệm các Tông Đồ và là thành viên của Giám mục đoàn, các Giám mục tham dự vào trách nhiệm tông đồ và sứ vụ của toàn thể Hội Thánh dưới quyền Đức Giáo Hoàng, Đấng kế nhiệm thánh Phêrô. [Back]
1595
Các linh mục liên kết với các Giám mục trong phẩm chức tư tế và tùy thuộc các ngài trong công tác mục vụ. Các linh mục được mời gọi để trở thành cộng sự viên khôn ngoan của các Giám mục, họp thành linh mục đoàn (presbyterium) quanh Giám mục của mình, cùng chia sẻ trách nhiệm với ngài về Giáo Hội địa phương. Các linh mục được Giám mục trao trách nhiệm chăm sóc một cộng đoàn giáo xứ, hay chỉ định một công việc phục vụ Hội Thánh. [Back]
1596
Các phó tế là những thừa tác viên được phong chức để đảm nhận những trách nhiệm phục vụ Hội Thánh. Các phó tế không lãnh nhận chức tư tế thừa tác, nhưng việc phong chức trao cho họ những nhiệm vụ quan trọng trong thừa tác vụ rao giảng Lời Chúa, lo việc phụng tự, chăm sóc cộng đoàn và thực thi bác ái. Đó là những nhiệm vụ các vị ấy phải chu toàn dưới quyền mục vụ của Giám mục. [Back]
1597
Bí tích Truyền Chức Thánh được trao ban qua việc đặt tay của Giám mục tiếp theo là lời nguyện thánh hiến (truyền chức) trọng thể, cầu xin Chúa ban cho tiến chức những ân sủng của Chúa Thánh Thần, cần thiết cho thừa tác vụ. Bí tích Truyền Chức Thánh ghi dấu ấn tín không thể tẩy xóa. [Back]
1598
Hội Thánh chỉ truyền chức cho người nam đã được Rửa Tội, sau khi kiểm tra chắc chắn họ có khả năng thi hành chức vụ được giao. Chỉ có thẩm quyền của Hội Thánh có trách nhiệm và có quyền gọi một người nào đó lãnh nhận chức thánh. [Back]
1599
Trong Giáo Hội La tinh, thường chỉ truyền chức linh mục cho các ứng viên tự nguyện sống độc thân và công khai biểu lộ ý muốn này vì yêu mến Nước Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. [Back]
1600
Quyền trao ban ba cấp bậc của bí tích Truyền Chức Thánh thuộc về các Giám mục. [Back]
Bí Tích Hôn Phối
Do giao ước hôn nhân, một người nam và một người
nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả
cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy
hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến
việc sinh sản và giáo dục con cái; Chúa Kitô đã nâng
giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa
Tội lên hàng bí tích. [Back]
1602
Hôn nhân trong kế hoạch của Thiên Chúa
Kinh Thánh mở đầu
bằng việc tạo dựng người nam và người nữ
theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa và kết thúc bằng
viễn ảnh về “tiệc cưới Con Chiên” (Kh 19,9). Từ đầu
đến cuối, Kinh Thánh nói về hôn nhân và mầu nhiệm
hôn nhân, về việc thiết lập và ý nghĩa mà
Thiên Chúa đã ban cho hôn nhân, về nguồn gốc và mục
đích của hôn nhân, về những việc thực hiện
khác nhau của hôn nhân qua dòng lịch sử cứu độ,
về những khó khăn của hôn nhân phát sinh do tội lỗi,
và việc canh tân hôn nhân “trong Chúa” (1 Cr 7,39), trong Giao Ước Mới của
Đức Kitô và của Hội Thánh. [Back]
1603
Hôn nhân trong trật tự của công trình tạo dựng
Cộng đồng thân mật của đời sống và tình yêu hôn nhân, đã được Đấng Tạo Hoá thiết lập và quy định những luật lệ cho nó. Chính Thiên Chúa là tác giả của hôn nhân. Ơn gọi hôn nhân đã được khắc ghi trong chính bản tính của người nam và người nữ, như chính họ phát xuất từ bàn tay Đấng Tạo Hoá. Hôn nhân không phải chỉ là một định chế của phàm nhân, mặc dù đã có không ít những biến đổi mà hôn nhân đã trải qua suốt các thế kỷ, trong các nền văn hoá, cơ cấu xã hội và thái độ tinh thần khác nhau. Những sự khác biệt này không được làm quên đi những nét chung và trường tồn. Dù phẩm giá của định chế này không phải ở đâu cũng sáng tỏ như nhau, nhưng trong tất cả các nền văn hoá, vẫn có một ý thức nào đó về sự cao cả của việc kết hợp trong hôn nhân. “Ơn cứu độ của cá nhân và của xã hội nhân loại và xã hội Kitô giáo, liên kết chặt chẽ với tình trạng lành mạnh của cộng đồng hôn nhân và gia đình. [Back]
1604
Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng con
người vì tình yêu, cũng đã kêu gọi họ
đến tình yêu, đó là ơn gọi nền tảng và bẩm
sinh của mọi nhân vị. Thật vậy, con người
được tạo dựng theo hình ảnh và giống như
Thiên Chúa, Đấng chính “là Tình Yêu” (1 Ga 4,8.16). Vì Thiên Chúa đã
dựng họ có nam có nữ, nên tình yêu hỗ tương của
họ là một hình ảnh của tình yêu tuyệt
đối và bất diệt Thiên Chúa dành để yêu con người.
Dưới mắt Đấng Tạo Hóa, tình yêu này là tốt,
là rất tốt. Và tình yêu này, được Thiên Chúa chúc
phúc, được nhắm đến việc sinh sôi nảy nở và
trong công trình chung, nhắm đến việc bảo tồn
công trình tạo dựng: Thiên Chúa ban phúc lành cho họ,
và Thiên Chúa phán với họ: Hãy sinh sôi nảy nở
thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị
mặt đất. [Back]
1605
Kinh Thánh đã khẳng định rằng, người nam và người nữ được tạo dựng cho nhau: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Người nữ là “thịt bởi thịt” của người nam, nghĩa là bình đẳng với người nam, rất gần gũi với người nam, mà Thiên Chúa đã ban cho người nam với tư cách là một trợ tá, như vậy là người thay mặt Thiên Chúa để trợ giúp chúng ta. “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Chính Chúa cho thấy câu này nói lên sự hợp nhất cuộc đời hai người cách bất diệt, khi Người nhắc lại ý định “lúc khởi đầu” của Đấng Tạo Hoá: “Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt 19,6). [Back]
1606
Hôn nhân dưới sự kiểm soát của tội lỗi
Mọi người đều có kinh nghiệm về sự dữ chung quanh mình và nơi chính mình. Kinh nghiệm này cũng được cảm nghiệm trong các mối tương quan giữa người nam và người nữ. Sự hợp nhất của họ lúc nào cũng bị đe dọa bởi sự bất hoà, óc thống trị, sự bất trung, lòng ghen tương và sự xung đột, những điều đó có thể đưa đến hận thù và đoạn tuyệt. Sự xáo trộn này có thể được biểu lộ một cách nhiều hay ít gay gắt, và có thể được khắc phục nhiều hay ít tùy theo các nền văn hoá, các thời đại và các cá nhân, nhưng hình như sự xáo trộn đó có tính phổ quát. [Back]
1607
Theo đức tin, sự xáo trộn này, mà chúng ta
cảm nghiệm một cách đau lòng, không xuất phát từ
bản tính của người nam và người nữ, cũng
không do bản chất của các mối tương quan giữa họ,
nhưng do tội lỗi. Nguyên tội, một sự chia
lìa khỏi Thiên Chúa, đưa đến hậu quả đầu
tiên là chia lìa sự hiệp thông nguyên thủy giữa
người nam và người nữ. Tương quan của họ bị
xáo trộn do việc đổ lỗi cho nhau; sự hấp dẫn
lẫn nhau, là hồng ân riêng của Đấng Tạo Hoá, bị
đổi thành những tương quan thống trị và ham muốn;
ơn gọi đẹp đẽ của người nam và người nữ
là sinh sôi nảy nở để tăng số và thống trị
mặt đất đã trở nên nặng nề vì những
hình phạt [là đau đớn] khi sinh con và [cực nhọc]
khi lao động làm ra cơm bánh. [Back]
1608
Dù vậy, trật tự của công trình tạo dựng vẫn tồn tại, tuy bị xáo trộn nặng nề. Để chữa lành những vết thương do tội lỗi, người nam và người nữ cần đến sự trợ giúp của ân sủng mà Thiên Chúa, vì lòng thương xót vô biên của Ngài, không bao giờ từ chối ban cho họ. Không có sự trợ giúp này, người nam và người nữ không thể thực hiện được sự kết hợp cả cuộc đời của họ, điều mà lúc khởi đầu Thiên Chúa đã nhắm đến khi Ngài tạo dựng nên họ. [Back]
1609
Hôn nhân dưới giáo huấn của lề Luật
Vì lòng thương xót của Ngài, Thiên Chúa không bỏ rơi con người tội lỗi. Những hình phạt theo sau tội lỗi, như đau đớn khi sinh con, lao động “đổ mồ hôi trán” (St 3,19) cũng là những phương thuốc ngăn bớt những tác hại của tội. Sau khi con người sa ngã, hôn nhân giúp vượt thắng tình trạng co cụm vào bản thân, “chủ nghĩa ích kỷ”, chỉ yêu mình, tìm khoái lạc riêng, và giúp con người mở ra cho tha nhân, trợ giúp lẫn nhau, và ban tặng chính mình. [Back]
1610
Ý thức luân lý về sự duy nhất
và sự bất khả phân ly của hôn nhân được phát triển
dần dưới giáo huấn của Luật cũ. Tục đa
thê của các tổ phụ và các vua chưa bị đẩy lui
cách rõ ràng. Nhưng Luật được ban cho ông Môisen đã
nhắm đến việc bảo vệ người nữ chống
lại sự độc đoán thống trị của người
nam, mặc dù luật này cũng kèm theo, như lời Chúa nói, những
dấu vết của sự cứng lòng của người
nam, do đó ông Môisen đã cho phép rẫy vợ. [Back]
1611
Nhìn giao ước của Thiên Chúa với dân Israel dưới hình ảnh của một tình yêu hôn nhân duy nhất và chung thủy, các Tiên tri đã chuẩn bị ý thức của Dân Chúa chọn để họ hiểu biết sâu xa hơn về tính duy nhất và tính bất khả phân ly của hôn nhân. Các sách Rút và Tôbia đã nêu lên những chứng từ cảm động về ý nghĩa cao quý của hôn nhân, của lòng chung thủy và sự âu yếm phu phụ. Truyền thống luôn nhận thấy trong sách Diễm Ca sự diễn tả độc đáo về tình yêu của con người, như là tiếng vọng của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu “mãnh liệt như tử thần” và “nước lũ không dập tắt nổi” (Dc 8,6-7). [Back]
1612
Hôn nhân trong Chúa
Giao ước hôn nhân giữa Thiên Chúa và dân Israel của Ngài đã chuẩn bị cho Giao ước mới và vĩnh cửu. Trong giao ước mới này, Con Thiên Chúa, Đấng nhập thể và hiến dâng mạng sống, một cách nào đó đã liên kết Người với toàn thể nhân loại được Người cứu độ, như vậy Người chuẩn bị cho tiệc cưới của Con Chiên. [Back]
1613
Khởi đầu đời sống công khai, Chúa Giêsu đã thực hiện dấu lạ đầu tiên của Người - theo lời yêu cầu của Mẹ Người - trong một tiệc cưới. Hội Thánh coi việc Chúa Giêsu hiện diện trong tiệc cưới Cana có một tầm quan trọng đặc biệt. Hội Thánh coi đó là sự xác nhận tính thiện hảo của hôn nhân và là lời loan báo rằng hôn nhân từ đây về sau là dấu chỉ hữu hiệu về sự hiện diện của Đức Kitô. [Back]
1614
rong khi Người rao giảng, Chúa Giêsu đã dạy một cách rõ ràng về ý nghĩa nguyên thủy của sự kết hợp giữa người nam và người nữ, đúng như Đấng Tạo Hoá đã muốn ngay từ lúc khởi đầu. Việc ông Môisen cho phép rẫy vợ là một nhượng bộ trước lòng chai dạ đá. Sự kết hợp hôn nhân giữa người nam và người nữ là bất khả phân ly: chính Thiên Chúa đã thực hiện sự kết hợp đó: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6). [Back]
1615
Lời nhấn mạnh rõ ràng về tính bất khả phân ly của dây hôn nhân làm cho nhiều người ngỡ ngàng và coi đó là một đòi hỏi không thể thực hiện được. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã không đặt cho các đôi phối ngẫu một gánh không thể mang nổi và quá nặng nề, nặng nề hơn luật Môisen. Khi đến để tái lập trật tự ban đầu của công trình tạo dựng, đã bị xáo trộn vì tội lỗi, chính Người ban sức mạnh và ân sủng để con người sống đời hôn nhân theo chiều kích mới của Nước Thiên Chúa. Khi bước theo Đức Kitô bằng cách từ bỏ mình và vác thập giá mình, các đôi phối ngẫu có thể hiểu được ý nghĩa nguyên thủy của hôn nhân và sống với ý nghĩa đó nhờ sự trợ giúp của Đức Kitô. Ân sủng này của hôn nhân Kitô giáo là hoa trái của Thập Giá Đức Kitô, nguồn mạch của toàn bộ đời sống Kitô hữu. [Back]
1616
Tông Đồ Phaolô làm sáng tỏ điều đó khi nói: “Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh” (Ep 5,25-26). Thánh nhân còn nói thêm: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5,31-32). [Back]
1617
Toàn bộ đời sống Kitô hữu mang dấu
chỉ của tình yêu phu thê giữa Đức Kitô và Hội
Thánh. Bí tích Rửa Tội, cửa dẫn vào dân Thiên Chúa,
đã là một mầu nhiệm hôn ước; bí tích đó có thể
nói được là như một thanh tẩy chuẩn bị hôn lễ
diễn ra trước bữa tiệc cưới, là bí tích Thánh Thể.
Hôn nhân Kitô giáo, đến lượt mình, trở thành dấu
chỉ hữu hiệu, trở thành bí tích của giao ước
giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Bởi vì nó nói lên và
truyền thông ân sủng của giao ước đó, nên hôn nhân giữa
hai người đã được Rửa Tội là một bí tích
thật sự của Giao Ước Mới. [Back]
1618
Trinh khiết vì Nước Trời
1618. Đức Kitô là trọng tâm của toàn bộ đời sống Kitô giáo. Dây liên kết với Người chiếm vị trí hàng đầu so với mọi dây liên kết khác về gia đình hay xã hội. Ngay thuở ban đầu của Hội Thánh, đã có những người nam và người nữ từ bỏ lợi ích lớn lao của hôn nhân để theo Con Chiên đi bất cứ nơi nào Người đi, để chuyên lo việc của Chúa, để tìm cách làm đẹp lòng Người, và để đi đón Tân Lang đang đến. Chính Đức Kitô đã mời gọi một số người đi theo Người trong cách sống này, cách sống mà Người luôn là mẫu mực:
“Có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12). [Back]
1619
Trinh khiết vì Nước Trời là sự
triển khai ân sủng bí tích Rửa Tội, là dấu chỉ
nổi bật cho sự ưu tiên tuyệt đối của mối
liên kết với Đức Kitô và cho sự sốt sắng
mong chờ Người lại đến, và cũng là một dấu
chỉ nhắc nhớ rằng hôn nhân là một thực tại
của thế giới hiện tại đang qua đi. [Back]
1620
Cả hai, bí tích Hôn nhân và đời
sống trinh khiết vì Nước Thiên Chúa, đều phát xuất
từ chính Chúa. Chính Ngài ban cho cả hai, ý nghĩa và ân
sủng cần thiết để sống theo thánh ý Ngài.
Việc đánh giá sự trinh khiết vì Nước Trời
và ý nghĩa Kitô giáo của Hôn nhân là không thể tách rời
nhau và hỗ trợ cho nhau:
Ai hạ giá hôn nhân, thì
người đó cũng hạ giá sự vinh quang của đức
trinh khiết; ai ca ngợi hôn nhân, thì người đó càng
khâm phục đức trinh khiết. Bởi vì điều
gì còn phải so sánh với một điều xấu
hơn mới thấy là tốt, thì đó chưa phải là hoàn
toàn tốt; còn điều gì tốt hơn những cái mọi
người cho là tốt, thì đó mới là điều tốt
tuyệt hảo. [Back]
Cử hành bí tích hôn phối
Trong nghi lễ La tinh, bí tích Hôn Phối giữa hai tín hữu công giáo thường được cử hành trong thánh lễ, vì tất cả các bí tích đều liên kết với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Trong thánh lễ, việc tưởng niệm Giao Ước Mới được thực hiện, trong đó Đức Kitô đã kết hợp Người cách vĩnh viễn với Hiền Thê yêu dấu của Người là Hội Thánh, vì Hội Thánh đó mà Người đã nộp mình. Vì vậy, đôi phối ngẫu phải đóng ấn sự ưng thuận trao tặng chính mình cho nhau bằng lễ dâng cuộc đời họ, khi họ kết hợp sự ưng thuận đó với lễ dâng hiện tại của Đức Kitô vì Hội Thánh Người, được hiện thực trong Hy lễ Thánh Thể, và khi họ rước lễ, để nhờ hiệp thông với chính Mình và Máu Đức Kitô, họ làm nên một thân thể trong Đức Kitô. [Back]
1622
Nghi lễ hôn phối là một hành vi bí tích để thánh hóa, nên phải được cử hành một cách thành sự, xứng đáng và sinh hiệu quả. Vì vậy, để dọn mình cử hành bí tích Hôn Phối, hai người phải lãnh nhận bí tích Giao Hoà. [Back]
1623
Theo truyền thống La tinh, chính đôi tân hôn, với
tư cách là các thừa tác viên của ân sủng của Đức
Kitô, tự trao ban bí tích Hôn Phối cho nhau, khi bày tỏ sự
ưng thuận kết hôn trước mặt Hội Thánh. Trong truyền
thống các Giáo Hội Đông phương, các tư tế, Giám mục hay
linh mục, là những nhân chứng cho sự ưng thuận hỗ
tương được trao đổi giữa các người phối ngẫu,
nhưng lời chúc lành của các ngài cũng cần thiết để
bí tích nên thành sự. [Back]
1624
Các nền phụng vụ khác nhau có nhiều lời nguyện chúc lành và lời nguyện khẩn cầu Chúa Thánh Thần, xin Thiên Chúa ban tràn đầy ân sủng và phúc lành của Ngài cho đôi tân hôn, đặc biệt cho người vợ. Trong lời nguyện khẩn cầu Chúa Thánh Thần của bí tích này, đôi tân hôn lãnh nhận Chúa Thánh Thần xét như sự hiệp thông tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Chính Chúa Thánh Thần là dấu ấn hôn ước của họ, Ngài luôn luôn là nguồn mạch cho tình yêu dâng hiến của họ, và là sức mạnh giúp họ chung thủy với nhau. [Back]
Sự ưng thuận kết hôn
Hôn ước được ký kết giữa người nam và người nữ, cả hai đã được rửa tội và tự do để kết hôn, và họ tự nguyện bày tỏ sự ưng thuận của mình. Tự do nghĩa là:
- không bị ép buộc;
- không bị ngăn trở theo luật tự nhiên hay giáo luật. [Back]
1626
Hội Thánh coi việc trao đổi sự ưng thuận giữa hai người phối ngẫu như là yếu tố cần thiết “làm nên hôn nhân. Nếu thiếu sự ưng thuận, thì không có hôn nhân. [Back]
1627
Sự ưng thuận là một “hành vi nhân linh,
qua đó hai người phối ngẫu trao thân cho nhau và đón nhận
nhau: “Anh nhận em làm vợ anh…”; “Em nhận anh làm chồng
em…”. Sự ưng thuận này kết hợp hai người phối
ngẫu với nhau, đạt đến sự hoàn hợp
(consummationem) khi hai người “trở nên một xác thịt. [Back]
1628
Sự ưng thuận phải là một hành vi ý chí của mỗi người phối ngẫu, tự do không bị tác động vì bạo lực hay vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài. Không có thế lực nhân loại nào có thể thay thế sự ưng thuận đó. Nếu thiếu sự tự do này, thì hôn nhân không thành sự. [Back]
1629
Vì lý do này (hay vì những
lý do khác làm cho hôn nhân trở nên vô hiệu và tiêu hôn) Hội
Thánh, sau khi xét duyệt các điều kiện qua toà án hôn phối
có thẩm quyền, có thể tuyên bố “sự vô hiệu
của hôn nhân”, nghĩa là hôn nhân đó đã không hề thành sự.
Trong trường hợp này, hai người được tự do kết
hôn, nhưng họ vẫn phải giữ những nghĩa vụ
tự nhiên do sự kết hợp trước. [Back]
1630
Tư tế (hay phó tế), chứng kiến việc cử hành Hôn Phối, nhân danh Hội Thánh nhận lời ưng thuận của đôi tân hôn và ban cho họ lời chúc lành của Hội Thánh. Sự hiện diện của thừa tác viên Hội Thánh (và của cả những nhân chứng) diễn tả cách rõ ràng rằng, hôn nhân là một thực tại có chiều kích Hội Thánh. [Back]
1631
Vì lý do này, Hội Thánh thường
đòi buộc các tín hữu của mình phải kết
hôn theo thể thức của Hội Thánh. Có nhiều
lý do để giải thích quy định này:
- Hôn nhân mang tính bí tích là một hành vi phụng vụ. Bởi vậy nên được cử hành trong phụng vụ công khai của Hội Thánh;
- Hôn nhân đưa người ta vào một bậc sống trong Hội Thánh, mang lại những quyền lợi và nghĩa vụ trong Hội Thánh giữa đôi phối ngẫu và đối với con cái;
- Bởi vì hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh, nên cần thiết phải có sự chắc chắn về hôn nhân (vì vậy bắt buộc phải có các nhân chứng);
- Tính chất công khai của sự ưng thuận bảo vệ sự ưng thuận đó sau khi nó đã được thực hiện, và trợ giúp người ta chung thuỷ với lời ưng thuận đó. [Back]
1632
Để sự ưng thuận của hai người phối ngẫu là một hành vi tự do và có trách nhiệm, và để cho hôn ước có được những nền tảng nhân bản và Kitô giáo một cách vững chắc và lâu bền, việc chuẩn bị hôn nhân là hết sức quan trọng:
- Gương sáng và sự giáo dục do cha mẹ và gia đình luôn là con đường đặc biệt cho việc chuẩn bị này.
- Nhiệm vụ của các mục tử
và của cộng đoàn Kitô hữu, như là của gia đình
Thiên Chúa, là cần thiết để trao ban những giá trị
nhân bản và Kitô giáo về hôn nhân và gia đình, nhất là
trong thời đại chúng ta, nhiều bạn trẻ đã
cảm nghiệm những cảnh gia đình tan vỡ, các
gia đình này không còn mang lại đầy đủ được
sự khai tâm như vậy:
Những người trẻ phải được giáo dục cách thích hợp và đúng lúc, tốt nhất là trong khung cảnh gia đình mình, về phẩm giá, nhiệm vụ và công việc của tình yêu phu phụ, để sau khi đã được dạy dỗ bảo toàn đức khiết tịnh, lúc đến tuổi thích hợp, họ có thể từ thời kỳ đính hôn trong trắng bước vào đời sống hôn nhân. [Back]
1633
Hôn nhân hỗn hợp và khác đạo
Trong nhiều miền, rất thường có những hôn nhân hỗn hợp (giữa người công giáo và người được rửa tội ngoài công giáo). Tình trạng này đòi hỏi phải có sự lưu tâm đặc biệt của những người phối ngẫu cũng như của các mục tử. Trường hợp hôn nhân khác đạo (giữa người công giáo và người không được rửa tội) lại càng phải cẩn thận quan tâm hơn nữa. [Back]
1634
Việc những người phối ngẫu thuộc những Giáo Hội Kitô khác nhau không tạo nên một ngăn trở không thể vượt qua đối với hôn nhân, khi hai người đóng góp cho nhau những gì mỗi người đã lãnh nhận nơi cộng đoàn của mình, và học hỏi lẫn nhau cách sống trung thành với Đức Kitô. Nhưng không được coi thường những khó khăn trong các cuộc hôn nhân hỗn hợp. Những khó khăn này xuất phát từ sự chia rẽ giữa các Kitô hữu, đến nay vẫn chưa được giải quyết. Đôi phối ngẫu có nguy cơ phải cảm nghiệm cách bi thảm sự chia rẽ của các Kitô hữu ngay trong gia đình của mình. Việc khác đạo càng có thể khiến cho các khó khăn nói trên trở nên trầm trọng hơn. Những khác biệt về đức tin, chính quan niệm về hôn nhân, và cả những não trạng tôn giáo khác nhau, có thể tạo thành cội nguồn cho những căng thẳng trong hôn nhân, nhất là đối với vấn đề giáo dục con cái. Từ đó có thể đưa đến một nguy cơ là sự dửng dưng về tôn giáo. [Back]
1635
Theo luật hiện hành của Giáo Hội La
tinh, hôn nhân hỗn hợp chỉ hợp pháp khi có phép minh
nhiên của giáo quyền. Còn trường hợp khác đạo,
thì phải có phép chuẩn minh nhiên để miễn chuẩn
khỏi ngăn trở, thì hôn nhân khác đạo mới thành sự.
Muốn được phép hay được chuẩn, phải giả thiết
rằng cả hai đương sự biết rõ và không loại
trừ những mục đích và đặc tính chính yếu của
hôn nhân; riêng bên công giáo cam kết thi hành những đòi buộc,
là giữ đức tin của mình, và bảo đảm cho
con cái được rửa tội và giáo dục trong Hội Thánh
Công giáo, và phải thông báo cho bên không công giáo biết rõ
những điều ấy. [Back]
1636
Trong nhiều miền, nhờ cuộc đối thoại đại kết, một số cộng đoàn Kitô hữu đã tổ chức sinh hoạt mục vụ chung cho các đôi hôn nhân hỗn hợp. Nhiệm vụ của sinh hoạt này là giúp cho các đôi phối ngẫu biết sống hoàn cảnh đặc biệt của họ dưới ánh sáng đức tin. Sinh hoạt đó cũng phải giúp họ vượt thắng những căng thẳng giữa các bổn phận của họ đối với nhau và đối với các cộng đoàn Giáo Hội của họ. Sinh hoạt mục vụ chung phải khuyến khích làm tăng trưởng những gì đối với họ là chung trong đức tin, và tôn trọng những gì còn làm họ chia rẽ. [Back]
1637
Trong các hôn nhân khác đạo, người phối ngẫu công giáo có một nhiệm vụ đặc biệt: “Chồng ngoại đạo được thánh hoá nhờ vợ và vợ ngoại đạo được thánh hoá nhờ người chồng có đạo” (1 Cr 7,14). Thật là một niềm vui lớn cho người phối ngẫu Kitô hữu và cho Hội Thánh nếu việc thánh hoá này đưa người phối ngẫu kia tự nguyện trở lại với đức tin Kitô giáo. Tình yêu phu phụ chân thành, việc thực hành cách khiêm tốn và nhẫn nại những đức tính thuộc gia đình và việc kiên trì cầu nguyện có thể chuẩn bị cho người phối ngẫu không có đức tin đón nhận được ơn hối cải. [Back]
Những hiệu quả của bí tích Hôn Phối
Từ cuộc hôn nhân thành sự giữa những người phối ngẫu nảy sinh một mối dây liên kết vĩnh viễn và độc hữu tự bản chất; ngoài ra, trong hôn nhân Kitô giáo, những người phối ngẫu được củng cố và như được thánh hiến do một bí tích đặc biệt để chu toàn nghĩa vụ và nâng cao phẩm giá bậc sống của mình. [Back]
1639
Dây Hôn Phối
Sự ưng thuận, qua đó hai người phối ngẫu tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, được chính Thiên Chúa đóng ấn. Từ hôn ước của họ “phát sinh một định chế vững chắc theo ý định của Thiên Chúa và có giá trị trước mặt xã hội. Hôn ước của đôi phối ngẫu được lồng vào trong giao ước giữa Thiên Chúa với nhân loại: “Tình yêu phu phụ đích thực được đón nhận vào trong tình yêu Thiên Chúa. [Back]
1640
Dây hôn phối được chính Thiên Chúa thiết đặt,
đến độ hôn nhân thành nhận và hoàn hợp (ratum et
consummatum) giữa hai người đã được rửa tội,
không bao giờ có thể được tháo gỡ. Dây liên kết
này, là do một hành vi nhân linh tự do của đôi phối ngẫu
và do sự hoàn hợp hôn phối, là một thực tại
từ nay không thể rút lại, và là nguồn gốc của
một giao ước đã được bảo đảm bởi sự
trung tín của Thiên Chúa. Hội Thánh không có quyền tuyên bố
trái ngược với sự an bài khôn ngoan này của Thiên
Chúa. [Back]
1641
Ân sủng của bí tích Hôn Phối
Các đôi phối ngẫu Kitô hữu có hồng ân riêng cho bậc sống của mình trong dân Thiên Chúa. Ân sủng riêng biệt này của bí tích Hôn Phối là để kiện toàn tình yêu phu phụ, củng cố sự hợp nhất bất khả phân ly của họ. Nhờ ân sủng này, họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân và trong việc đón nhận và giáo dục con cái. [Back]
1642
Đức Kitô là nguồn mạch của ân sủng này. Cũng như xưa kia, Thiên Chúa đến gặp dân Ngài bằng một giao ước tình yêu và trung thành, thì ngày nay, Đấng Cứu Độ loài người và là Phu Quân của Hội Thánh, cũng đến gặp các đôi phối ngẫu Kitô hữu qua bí tích Hôn Phối. Người ở lại với họ, ban sức mạnh cho họ để họ nhận lấy thập giá của mình mà bước theo Người, để họ chỗi dậy sau khi sa ngã, để họ tha thứ cho nhau, để họ vác lấy gánh nặng của nhau, để họ “tùng phục lẫn nhau vì lòng kính sợ Đức Kitô” (Ep 5,21), và yêu thương nhau bằng một tình yêu siêu nhiên, tế nhị và sinh sôi nảy nở. Thiên Chúa ban cho họ, ngay từ đời này, trong những niềm vui của tình yêu và của đời sống gia đình họ, được nếm trước tiệc cưới Con Chiên:
Làm sao chúng ta có thể mô tả được niềm hạnh phúc của cuộc hôn nhân được Hội Thánh nối kết, được hy lễ củng cố, được lời chúc lành đóng ấn, được các Thiên thần công bố và được Cha trên trời chuẩn nhận? Có đôi bạn nào bằng đôi bạn tín hữu, được kết hợp do cùng một niềm hy vọng, cùng một ước nguyện, cùng một kỷ luật, cùng một công việc phục vụ. Cả hai là anh em (con một Cha), là đồng phục vụ (cho một Chủ); không bị phân rẽ trong tinh thần và trong xác thịt, thật sự là hai trong một xác thịt. Ở đâu xác thịt nên một, thì tinh thần cũng nên một. [Back]
Những điều thiện hảo và những đòi hỏi của
tình yêu phu phụ
Tình yêu phu phụ là một tổng thể bao gồm mọi yếu tố của con người: những đòi hỏi của thân xác và bản năng, những sức mạnh của giác quan và tình cảm, những khát khao của tinh thần và ý chí; tình yêu đó nhắm đến sự hợp nhất bản thân sâu xa, một sự hợp nhất rõ ràng là vượt quá việc chỉ nên một về thể xác, để trở thành một trái tim và một tâm hồn; tình yêu ấy thật sự đòi hỏi sự bất khả phân ly và lòng chung thủy khi trao hiến cho nhau một cách dứt khoát, và mở ngỏ cho việc sinh sản. Nói tóm lại, đây là những đặc điểm thông thường của bất cứ tình yêu phu phụ tự nhiên nào, nhưng mang một ý nghĩa mới mẻ, một ý nghĩa không những thanh luyện và củng cố những đặc điểm đó, mà còn nâng cao chúng lên đến độ chúng được coi là biểu hiện của những điều thiện hảo riêng biệt của Kitô giáo. [Back]
1644
Tính duy nhất và tính bất khả phân ly của hôn nhân
Tự bản chất của nó, tình yêu phu phụ đòi hỏi sự duy nhất và sự bất khả phân ly của cộng đồng nhân vị của họ trong suốt cuộc đời họ: “Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6). Họ được mời gọi không ngừng lớn lên trong tình hiệp thông với nhau qua việc trung thành mỗi ngày với lời cam kết hôn nhân là trao hiến trọn vẹn cho nhau. Sự hiệp thông phàm nhân này được củng cố, thanh luyện và hoàn thiện nhờ sự hiệp thông trong Đức Kitô, được ban tặng nhờ bí tích Hôn Phối. Sự hiệp thông đó càng thâm sâu hơn nhờ cùng sống đức tin chung với nhau và cùng lãnh nhận bí tích Thánh Thể chung với nhau. [Back]
1645
Tính duy nhất của hôn nhân mà Chúa đã xác
nhận, được biểu lộ cách rõ ràng qua việc
phẩm giá cá nhân bình đẳng giữa người nam và người
nữ được nhìn nhận trong sự yêu thương lẫn
nhau cách trọn vẹn. Tục đa thê là trái ngược với
phẩm giá bình đẳng này và với tình yêu phu phụ,
vì tình yêu này là duy nhất và độc chiếm. [Back]
1646
Sự chung thủy trong tình yêu phu phụ
Tự bản chất
của nó, tình yêu phu phụ đòi hỏi đôi phối
ngẫu phải chung thủy một cách bất khả xâm
phạm. Đây là hệ quả của việc chính đôi phối
ngẫu đã tự hiến cho nhau. Tình yêu phải
là vĩnh viễn; tình yêu không thể có tính cách cho tới
khi có một quyết định mới. Sự nên một thân
mật, nghĩa là việc hai người trao hiến cho nhau, cũng
như lợi ích của con cái, đòi hỏi đôi phối ngẫu
phải hoàn toàn chung thuỷ và đòi buộc nơi họ sự
duy nhất bất khả phân ly. [Back]
1647
Động lực sâu xa nhất của sự chung thủy căn cứ trên sự trung tín của Thiên Chúa với giao ước của Ngài, sự trung tín của Đức Kitô với Hội Thánh. Nhờ bí tích Hôn Phối, đôi phối ngẫu được ban ơn để thể hiện và làm chứng cho sự chung thuỷ đó. Do bí tích, tính bất khả phân ly của hôn nhân đón nhận một ý nghĩa mới mẻ và sâu xa hơn. [Back]
1648
Ràng buộc suốt đời mình với một
người khác có thể được coi là rất khó, thậm chí
là điều không thể thực hiện được. Do đó, điều
hết sức quan trọng là phải loan báo Tin Mừng này:
Thiên Chúa yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vĩnh
viễn và không rút lại, đôi phối ngẫu được dự
phần vào tình yêu đó của Thiên Chúa, một tình
yêu hướng dẫn và nâng đỡ họ, và nhờ sự
chung thủy với nhau, họ có thể là chứng nhân cho
tình yêu trung tín của Thiên Chúa. Những đôi phối ngẫu
nào, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, làm chứng được
như vậy, thường là trong những hoàn cảnh hết sức
khó khăn, đáng được cộng đoàn Hội Thánh biết ơn và hỗ
trợ. [Back]
1649
Tuy nhiên, có những hoàn cảnh thực tế
đôi phối ngẫu không thể tiếp tục sống chung
được, vì rất nhiều lý do khác nhau. Trong những
trường hợp này, Hội Thánh chấp nhận sự ly
thân và chấm dứt việc sống chung của đôi phối
ngẫu. Họ vẫn là chồng, là vợ của nhau trước
mặt Thiên Chúa; họ không được tự do để ký
kết một hôn ước mới. Trong hoàn cảnh khó khăn như
vậy, giải pháp tốt nhất, nếu có thể, là
hòa giải với nhau. Cộng đoàn Kitô hữu được
mời gọi trợ giúp những người đó sống đời
Kitô hữu trong hoàn cảnh của họ, luôn chung thuỷ
với dây hôn phối vẫn bất khả phân ly của họ. [Back]
1650
Nhiều người Công giáo, ở một số nơi, đã ly dị và tái hôn theo luật đời. Hội Thánh, vì trung thành với lời của Chúa Giêsu Kitô (“Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình”: Mc 10,11-12), nên không thể công nhận việc tái hôn như vậy là thành sự, nếu hôn nhân lần đầu đã thành sự. Nếu những người đã ly dị lại tái hôn theo luật đời, thì họ ở trong tình trạng vi phạm luật Thiên Chúa một cách khách quan. Kể từ lúc đó, họ không được rước lễ, bao lâu còn sống trong tình trạng này. Cũng vì vậy, họ không thể đảm nhận một số trách nhiệm trong Hội Thánh. Sự giao hoà qua bí tích Thống Hối chỉ có thể được ban cho những ai thống hối vì mình đã vi phạm dấu chỉ của giao ước và của sự trung thành với Đức Kitô, và tự buộc mình sống tiết dục trọn vẹn. [Back]
1651
Đối với những Kitô hữu đang sống trong tình trạng như vậy mà vẫn giữ đức tin và ao ước giáo dục con cái họ theo Kitô giáo, các tư tế và toàn thể cộng đoàn phải tỏ ra ân cần quan tâm, để họ đừng tự coi như bị tách lìa khỏi Hội Thánh: họ có thể và phải tham gia vào đời sống của Hội Thánh với tư cách là những người đã được rửa tội:
Họ được khuyến khích nghe Lời Chúa, tham dự Hy tế Thánh lễ, kiên trì cầu nguyện, góp phần vào các việc bác ái và các việc phục vụ đức công bằng của cộng đoàn, giáo dục con cái trong đức tin Kitô giáo, sống tinh thần thống hối và làm các việc đền tội, để như vậy, hằng ngày họ nài xin Thiên Chúa ban ân sủng. [Back]
1652
Sẵn sàng đón nhận con cái
Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu phu phụ hướng tới việc truyền sinh và giáo dục con cái và qua những việc đó, chúng như đạt tới tột đỉnh vinh quang của mình.
“Con cái là hồng ân
cao quý nhất của hôn nhân và mang lại tối đa niềm
hạnh phúc cho chính các cha mẹ. Chính Thiên Chúa đã phán:
‘Con người ở một mình thì không tốt’ (St 2,18); Ngài là Đấng
‘thuở ban đầu… đã làm ra con người có nam có nữ’
(Mt 19,4); chính
Ngài muốn ban cho con người được tham gia đặc biệt
vào công trình tạo dựng của Ngài, nên Ngài đã
chúc lành cho người nam và người nữ và phán: ‘Hãy sinh
sôi nảy nở’ (St
1,28). Từ đó, vinh dự đích thực của tình
yêu phu phụ và toàn bộ kế hoạch của đời sống
gia đình phát sinh từ tình yêu đó, tuy không hạ giá
những mục đích khác của hôn nhân, đều hướng đến
việc đôi phối ngẫu phải can đảm sẵn sàng cộng
tác với tình yêu của Đấng Tạo Hoá và Cứu Độ,
Đấng nhờ họ làm cho gia đình của Ngài ngày càng
phát triển và phong phú. [Back]
1653
Sự phong phú của tình yêu phu phụ
còn trải rộng đến các kết quả của đời
sống luân lý, tinh thần và siêu nhiên, được cha mẹ
truyền cho con cái họ qua việc giáo dục. Cha mẹ
là những nhà giáo dục đầu tiên và quan trọng nhất
của con cái họ. Theo nghĩa này, nhiệm vụ căn bản
của hôn nhân và gia đình là phục vụ cho sự sống.
[Back]
1654
Những đôi phối ngẫu không được Thiên Chúa ban cho có con cái, vẫn có thể có đời sống hôn nhân đầy ý nghĩa trên bình diện nhân bản, cũng như bình diện Kitô giáo. Hôn nhân của họ có thể toả sáng bằng sự sinh sôi nảy nở lòng bác ái, sự đón nhận và hy sinh. [Back]
Hội Thánh tại gia
Đức Kitô đã muốn được sinh ra và lớn lên trong gia đình thánh của thánh Giuse và Mẹ Maria. Hội Thánh không là gì khác hơn là gia đình của Thiên Chúa. Ngay từ những buổi đầu, hạt nhân của Hội Thánh thường gồm những người trở thành tín hữu “cùng với cả nhà. Khi trở lại, họ ao ước cho cả nhà mình cũng được cứu độ. Những gia đình trở thành tín hữu này, là những tiểu đảo của đời sống Kitô giáo giữa một thế giới ngoại giáo. [Back]
1656
Ngày nay, giữa một thế giới thường
xa lạ và thậm chí thù nghịch với đức tin, gia
đình các tín hữu là hết sức quan trọng, với
tính cách là những lò lửa đức tin sống động
và chiếu sáng. Vì vậy, Công đồng Vaticanô II dùng một
thuật ngữ cổ xưa, gọi gia đình là Hội
Thánh tại gia (Ecclesia domestica). Trong tổ ấm gia
đình, cha mẹ phải là những người đầu tiên
truyền dạy đức tin cho con cái mình, bằng lời
nói và gương sáng, cũng như cổ võ ơn gọi riêng của
từng đứa con, đặc biệt quan tâm đến ơn gọi
thánh thiêng. [Back]
1657
Nơi đây, một cách đặc biệt, người cha, người mẹ, con cái, mọi phần tử trong gia đình, thực thi chức tư tế do Phép Rửa “trong việc lãnh nhận các bí tích, trong kinh nguyện và tạ ơn, qua chứng từ của một đời sống thánh thiện, qua sự từ bỏ, và qua lòng bác ái sống động. Bằng cách đó, gia đình là trường học đầu tiên về đời sống Kitô hữu và là một trường học làm người cách phong phú hơn. Ở đó, người ta học được sự kiên nhẫn và niềm vui của lao động, tình yêu thương huynh đệ, sự tha thứ quảng đại, thậm chí tha thứ nhiều lần, và nhất là việc phụng thờ Thiên Chúa qua kinh nguyện và qua sự hiến dâng cuộc đời mình. [Back]
1658
Cũng phải nhắc đến một số người, phải sống trong những hoàn cảnh cụ thể – và thường là ngoài ý muốn – đặc biệt gần gũi với trái tim Chúa Giêsu, họ đáng được Hội Thánh, nhất là các mục tử, yêu thương và quan tâm chăm sóc: đó là đông đảo những người sống độc thân. Nhiều người trong số này không lập gia đình được, thường vì điều kiện nghèo khổ. Trong hoàn cảnh của mình, có những người sống theo tinh thần các mối phúc, phục vụ Thiên Chúa và tha nhân một cách gương mẫu. Phải mở ra cho tất cả những người này, cánh cửa của các gia đình là “Hội Thánh tại gia” và cánh cửa của gia đình lớn là Hội Thánh. “Trên đời này, không ai phải thiếu gia đình: vì Hội Thánh là nhà và là gia đình cho tất cả mọi người, nhất là cho những ai ‘đang vất vả mang gánh nặng nề’ (Mt 11,28) [Back]
Tóm lược
Thánh Phaolô nói:
“Người làm chồng hãy yêu thương vợ như chính Đức
Kitô yêu thương Hội Thánh… Mầu nhiệm này thật cao cả,
Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep
5,25.32). [Back]
1660
Hôn ước mà nhờ
đó người nam và người nữ tạo nên một cộng đồng
sống chung và yêu nhau thân mật, đã được Đấng Tạo
Hoá thiết lập và sắp xếp theo những quy luật
riêng. Tự bản chất, hôn nhân hướng tới thiện
ích của đôi phối ngẫu, cũng như việc sinh sản
và giáo dục con cái. Hôn nhân giữa những người
đã chịu Phép Rửa được Đức Kitô nâng lên hàng bí
tích. [Back]
1661
Bí tích Hôn Phối
biểu thị sự kết hợp giữa Đức Kitô và
Hội Thánh. Bí tích này ban ơn giúp các đôi phối ngẫu yêu
thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh. Ân sủng
của bí tích kiện toàn tình yêu tự nhiên của các
đôi phối ngẫu, củng cố sự hợp nhất bất
khả phân ly của họ và thánh hóa họ trên đường tiến
về đời sống vĩnh cửu. [Back]
1662
Hôn nhân đặt
nền tảng trên sự ưng thuận của cả hai bên
ký kết hôn ước, nghĩa là trên ý muốn vĩnh
viễn hiến thân cho nhau để sống giao ước
tình yêu chung thủy và sinh sôi nảy nở.. [Back]
1663
Hôn nhân làm cho các người phối ngẫu sống một bậc sống công khai trong Hội Thánh, nên phải cử hành hôn nhân cách công khai trong khung cảnh một cử hành phụng vụ, trước sự chứng kiến của vị tư tế (hay của người chứng hôn được Hội Thánh cho phép), các nhân chứng và cộng đoàn tín hữu. [Back]
1664
Các đặc tính
chính yếu của hôn nhân là duy nhất, bất khả phân
ly và đón nhận con cái. Tục đa thê đi ngược lại tính
duy nhất của hôn nhân. Ly dị phân ly điều Thiên Chúa
đã phối hợp. Từ chối sinh sản, đời sống
hôn nhân mất đi hồng ân cao quý nhất là con cái. [Back]
1665
Việc tái hôn của những người đã ly dị khi người phối ngẫu còn sống, nghịch lại ý định và lề luật của Thiên Chúa mà Đức Kitô đã dạy. Những người này không bị tách ra khỏi Hội Thánh, nhưng không được rước lễ; họ vẫn sống đời Kitô hữu, nhất là giáo dục con cái trong đức tin. [Back]
1666
Gia đình Kitô giáo là nơi con cái tiếp nhận lời rao giảng đầu tiên về đức tin. Vì vậy, thật là hợp lý khi gọi gia đình là Hội Thánh tại gia, cộng đồng ân sủng và cầu nguyện, trường dạy các nhân đức nhân bản và đức mến Kitô giáo. [Back]
Những cử hành phụng vụ khác
Các á bí tích
Mẹ Hội Thánh
đã thiết lập các á bí tích. Đó là những dấu chỉ
thánh thiêng, nhờ đó, phần nào phỏng theo các bí tích, những
hiệu quả, đặc biệt là những hiệu quả
thiêng liêng, được biểu thị và được thông ban nhờ
lời khẩn cầu của Hội Thánh. Nhờ các á bí
tích, con người được chuẩn bị lãnh nhận hiệu
quả chính yếu của các bí tích và những hoàn cảnh
khác nhau của cuộc đời được thánh hoá. [Back]
1668
Những nét đặc trưng của các á bí tích
Hội Thánh thiết lập các á bí tích để thánh hoá một số thừa tác vụ của Hội Thánh, một số bậc sống, những hoàn cảnh rất đa dạng của đời sống Kitô hữu, và cả việc sử dụng những sự vật hữu ích cho con người. Theo những quyết định mục vụ của các Giám mục, các á bí tích có thể đáp ứng những nhu cầu riêng biệt về văn hóa và lịch sử của dân Kitô giáo trong một miền hay trong một thời đại. Các á bí tích luôn gồm một lời cầu nguyện, thường kèm theo một dấu chỉ cụ thể, như đặt tay, dấu thánh giá, rẩy nước thánh (để nhớ đến bí tích Rửa Tội). [Back]
1669
Các á bí tích bắt nguồn từ chức tư tế
do Phép Rửa: Mọi người đã chịu Phép Rửa đều
được mời gọi để trở nên một lời chúc
lành và để chúc lành. Vì vậy, người giáo dân có thể
chủ sự một số việc chúc lành; còn việc
chúc lành nào càng liên quan đến đời sống Hội Thánh và
bí tích, thì càng dành riêng cho các thừa tác viên có chức
thánh (Giám mục, linh mục và phó tế) chủ sự. [Back]
1670
Các á bí tích không ban ân sủng của Chúa Thánh
Thần theo kiểu các bí tích, nhưng nhờ lời cầu
nguyện của Hội Thánh, chúng chuẩn bị cho việc
đón nhận ân sủng và tạo điều kiện cho việc
cộng tác với ân sủng. “Đối với các tín hữu
đã được chuẩn bị chu đáo, hầu như mọi biến
cố trong cuộc đời đều được thánh hóa bằng
ân sủng của Thiên Chúa, tuôn trào từ mầu nhiệm Vượt
Qua, là cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại
của Đức Kitô, chính Người ban sức mạnh cho tất
cả các bí tích và á bí tích; và hầu như không có việc sử
dụng chính đáng các của cải vật chất nào, lại
không thể đưa tới mục đích thánh hóa con người và ca ngợi
Thiên Chúa. [Back]
1671
Những hình thức khác nhau của các á bí tích
Trong số các á bí tích, trước hết phải kể đến các phép lành (cho người, cho bàn ăn, cho các sự vật, cho các nơi chốn). Mọi phép lành đều là lời ca ngợi Thiên Chúa và lời cầu nguyện để đạt được các hồng ân của Ngài. Trong Đức Kitô, các Kitô hữu được Chúa Cha chúc lành bằng “muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” (Ep 1,3). Vì vậy, Hội Thánh ban phép lành bằng việc kêu cầu danh Chúa Giêsu và thường làm dấu thánh giá của Đức Kitô. [Back]
1672
Một số phép lành (benedictiones) có giá trị lâu dài: để thánh hiến cho Thiên Chúa những con người, hoặc những sự vật và nơi chốn dành riêng để sử dụng trong phụng vụ. Trong số các phép lành cho con người – không được lẫn lộn các phép lành này với bí tích Truyền Chức Thánh – có phép lành cho Viện phụ hoặc Viện mẫu các đan viện, việc thánh hiến các trinh nữ và góa phụ, nghi thức khấn hứa sống bậc tu trì, và phép lành cho một số thừa tác viên của Hội Thánh (những người đọc sách, giúp lễ, giáo lý viên, v.v…). Vài thí dụ về việc làm phép các sự vật, có thể kể việc cung hiến hoặc làm phép nhà thờ hay bàn thờ, làm phép dầu thánh, các bình và các phẩm phục thánh, làm phép chuông, v.v… [Back]
1673
Khi Hội Thánh, một cách công khai và với thẩm quyền, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, cầu xin để một người hay một đồ vật được Thiên Chúa bảo vệ khỏi ảnh hưởng của Ác thần và giải thoát khỏi ách thống trị của nó, thì người ta gọi đó là Trừ tà (exorcismus). Chúa Giêsu đã thực hiện điều đó, và chính bởi Người, Hội Thánh có quyền và có nhiệm vụ trừ tà. Với hình thức đơn giản, việc trừ tà đã có trong nghi thức cử hành bí tích Rửa Tội. Còn việc trừ tà long trọng, gọi là trừ tà đại thể, chỉ được thực hiện bởi một linh mục, với sự cho phép của Giám mục. Trong việc này, phải tiến hành cách khôn ngoan, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Hội Thánh. Việc trừ tà nhằm trục xuất ma quỷ hoặc giải thoát khỏi ảnh hưởng của nó, nhờ quyền bính thiêng liêng Chúa Giêsu đã ủy thác cho Hội Thánh của Người. Trường hợp bệnh tật, nhất là các bệnh tâm thần, thì khác hẳn, việc chữa trị các bệnh này là công việc của y khoa. Vì vậy, điều hết sức quan trọng là, trước khi cử hành nghi thức trừ tà, phải rất chắc chắn rằng đây là trường hợp quỷ ám chứ không phải là một bệnh tật nào đó. [Back]
1674
Lòng đạo đức bình dân
Ngoài phụng vụ bí tích và các á bí tích, việc dạy giáo lý còn phải kể đến những hình thức đạo đức của các tín hữu và những hình thức của lòng đạo đức bình dân. Cảm thức tôn giáo của dân Kitô giáo luôn luôn được diễn đạt bằng những hình thức đa dạng của lòng đạo đức, kèm theo đời sống bí tích của Hội Thánh, như việc tôn kính các di tích thánh, kính viếng các đền thánh, những cuộc hành hương, những cuộc rước kiệu, chặng đàng thánh giá, các vũ điệu tôn giáo, kinh Mân Côi, đeo ảnh thánh, v.v… [Back]
1675
Những hình thức đạo đức này tiếp nối chứ không thay thế đời sống phụng vụ của Hội Thánh: Quả vậy, phải sắp xếp việc thực hành những hình thức đạo đức đó theo các mùa phụng vụ, sao cho chúng hoà nhịp với phụng vụ thánh, một cách nào đó phát xuất từ phụng vụ, dẫn đưa dân tới phụng vụ, vì tự bản chất của nó, phụng vụ ưu việt hơn hẳn những hình thức đạo đức đó. [Back]
1676
Các mục tử cần phải phân định để nâng đỡ và ủng hộ lòng đạo đức bình dân, và nếu cần, để thanh luyện và điều chỉnh cảm thức tôn giáo tiềm ẩn dưới những việc sùng kính này, để liệu sao cho người ta tiến triển trong việc nhận biết mầu nhiệm của Đức Kitô. Việc thực hành những hình thức đạo đức này là theo sự chăm sóc và xét đoán của các Giám mục, và theo những quy định chung của Hội Thánh.
Lòng đạo đức bình dân, trong cốt lõi của nó, là một tập hợp những giá trị mà, với sự khôn ngoan Kitô giáo, đáp trả lại những vấn nạn lớn của cuộc sống. Sự khôn ngoan công giáo bình dân có khả năng tổng hợp sống động; như vậy, một cách đầy sáng tạo, họ có thể nói đến cùng một trật những gì thuộc về Thiên Chúa và những gì thuộc về phàm nhân; Đức Kitô và Mẹ Maria, tinh thần và thể xác; hiệp thông và định chế; cá nhân và cộng đoàn; đức tin và quê hương, lý trí và tình cảm. Sự khôn ngoan này là một thuyết nhân bản Kitô giáo, khẳng định cách triệt để phẩm giá của mọi nhân vị với tư cách là con Thiên Chúa, xây dựng tình huynh đệ căn bản, dạy chúng ta gặp gỡ thiên nhiên và hiểu biết lao động, đem lại cho ta những lý do để sống vui tươi và thoải mái, cả trong cuộc sống hết sức cam go. Đối với dân, sự khôn ngoan này còn là một nguyên lý để phân định, một bản năng theo Tin Mừng, nhờ đó họ nhận biết tức khắc, khi nào sự phục vụ trong Hội Thánh là dành cho Tin Mừng, và khi nào sự phục vụ đó trở nên trống rỗng và bị bóp nghẹt vì những lợi lộc khác. [Back]
1677
Tóm lược
Á bí tích là những dấu chỉ thánh thiêng do Hội Thánh thiết lập để chuẩn bị cho con người đón nhận hiệu quả của các bí tích và để thánh hóa một số hoàn cảnh trong cuộc sống. [Back]
1678
Trong các á bí tích, các phép lành có một vị trí đặc biệt. Chúng vừa là lời ca ngợi Thiên Chúa vì những kỳ công và hồng ân của Ngài, vừa là lời Hội Thánh chuyển cầu để con người có thể sử dụng những hồng ân của Thiên Chúa theo tinh thần Tin Mừng. [Back]
1679
Ngoài phụng vụ, đời sống Kitô hữu còn được nuôi dưỡng bằng những việc đạo đức đa dạng, bắt nguồn từ những nền văn hóa khác nhau. Khi dùng ánh sáng đức tin soi sáng những việc đạo đức này, Hội Thánh cổ vũ những việc đạo đức bình dân thể hiện những nét thích hợp với Tin Mừng và sự khôn ngoan nhân bản, góp phần làm phong phú đời sống Kitô hữu. [Back]
Lễ nghi an táng
theo Kitô giáo
Tất cả các bí tích, nhất là các bí tích khai tâm Kitô giáo, đều
hướng tới mục tiêu là cuộc Vượt Qua cuối
cùng của con cái Thiên Chúa; cuộc Vượt Qua này, nhờ cái
chết, dẫn đưa họ vào cuộc sống trong Nước
Trời. Lúc đó sẽ hoàn tất điều họ tuyên xưng trong
đức tin và niềm hy vọng: “Tôi trông đợi kẻ chết
sống lại, và sự sống đời sau.” [Back]
1681
Cuộc vượt qua cuối cùng của Kitô hữu
Ý nghĩa cái
chết trong Kitô giáo được mạc khải dưới ánh sáng
của mầu nhiệm Vượt Qua là sự Chết và sự
Sống lại của Đức Kitô, niềm hy vọng duy nhất
của chúng ta. Kitô hữu chết trong Đức Kitô Giêsu, là
lìa bỏ thân xác này để được ở bên Chúa. [Back]
1682
Đối với Kitô hữu, ngày chết, lúc kết thúc đời sống bí tích của họ, là lúc bắt đầu hoàn tất cuộc tái sinh vốn đã khởi sự trong bí tích Rửa Tội, là lúc bắt đầu vĩnh viễn nên giống hình ảnh Chúa Con vốn đã được ban cho họ nhờ việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, và là lúc bắt đầu được tham dự bàn tiệc Nước Trời, vốn đã được tham dự trước trong bí tích Thánh Thể, mặc dù họ còn cần đến những thanh luyện cuối cùng để được mặc áo cưới. [Back]
1683
Hội Thánh, như một người Mẹ, đã mang Kitô hữu trong lòng mình một cách bí tích trong suốt cuộc lữ thứ trần gian của họ, nay đồng hành với họ đến cuối đường để trao họ “vào tay Chúa Cha”. Trong Đức Kitô, Hội Thánh dâng lên Chúa Cha đứa con của ân sủng của Ngài, và trong niềm hy vọng, gửi vào lòng đất hạt giống thân xác sẽ sống lại trong vinh quang. Sự hiến dâng này được cử hành đầy đủ trong Hy lễ Thánh Thể; những lời chúc lành trước hoặc sau Thánh lễ là những á bí tích. [Back]
Cử hành lễ nghi an táng
Lễ nghi an táng theo Kitô giáo là một cử hành phụng vụ của Hội Thánh. Qua đó, thừa tác vụ Hội Thánh vừa muốn diễn tả sự hiệp thông hữu hiệu với người đã qua đời, vừa giúp cộng đoàn có mặt trong lễ an táng tham dự sự hiệp thông này và loan báo cho họ về đời sống vĩnh cửu. [Back]
1685
Các nghi thức khác nhau của lễ an táng diễn
tả đặc tính Vượt Qua của cái chết theo Kitô giáo
và đáp ứng những hoàn cảnh và truyền thống của
từng miền, cả trong vấn đề màu sắc phụng
vụ. [Back]
1686
Sách Nghi Thức An Táng (Ordo exsequiarum) của phụng
vụ Rôma trình bày ba mẫu cử hành, tương ứng với
ba nơi diễn ra các nghi thức (tại nhà tang, tại nhà thờ
và tại nghĩa trang), và theo tầm quan trọng mà gia
đình, các phong tục địa phương, văn hóa và lòng đạo
đức bình dân, dành cho các nơi đó. Tuy nhiên, thứ tự
việc cử hành là chung cho mọi truyền thống phụng
vụ, và gồm bốn giai đoạn chính. [Back]
1687
Đón tiếp cộng đoàn. Một lời chào trong đức tin mở đầu cuộc cử hành. Các thân nhân người quá cố được đón nhận bằng một lời an ủi (theo nghĩa của Tân Ước: Sức mạnh của Chúa Thánh Thần trong niềm hy vọng). Cộng đoàn cầu nguyện được quy tụ, cũng đang mong đợi những lời đem lại sự sống đời đời. Cái chết của một thành viên trong cộng đoàn (hay ngày giáp năm, giỗ bảy ngày, giỗ ba mươi ngày) phải là một dịp khiến người ta vượt quá những viễn cảnh của thế gian này và các tín hữu được lôi cuốn đến những viễn cảnh chân thật của đức tin vào Đức Kitô Phục Sinh. [Back]
1688
Phụng vụ Lời Chúa trong nghi thức an táng cần được chuẩn bị chu đáo, vì cộng đoàn hiện diện có thể gồm những tín hữu ít khi tham dự phụng vụ, và những thân hữu của người quá cố không phải là Kitô hữu. Đặc biệt, bài giảng không được theo hình thức điếu văn[6] và phải làm sáng tỏ mầu nhiệm cái chết theo Kitô giáo bằng ánh sáng của Đức Kitô phục sinh. [Back]
1689
Hy lễ Thánh Thể. Khi nghi thức an táng cử hành trong nhà thờ, bí tích Thánh Thể là tâm điểm của thực tại Vượt Qua của cái chết theo Kitô giáo. Lúc đó, Hội Thánh bày tỏ sự hiệp thông hữu hiệu của mình với người quá cố: khi dâng lên Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần, hy lễ là cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô, Hội Thánh khẩn cầu cho người con của mình được thanh luyện khỏi mọi tội lỗi và các hậu quả của tội, và được đón nhận vào sự viên mãn của cuộc Vượt Qua nơi bàn tiệc Nước Trời. Nhờ bí tích Thánh Thể được cử hành như vậy, cộng đoàn tín hữu, đặc biệt là gia đình người quá cố, học sống hiệp thông với người “đã an nghỉ trong Chúa”, bằng việc hiệp thông với thân thể của Đức Kitô mà người quá cố là một chi thể sống động, rồi bằng việc cầu nguyện cho người ấy và với người ấy. [Back]
1690
Nghi thức từ biệt người quá cố lần cuối cùng (trong một số ngôn ngữ gốc la tinh, “adieu”, “addio”, “adiĩs” = ad Deum, nghĩa là “đến với Thiên Chúa”) là lời Hội Thánh phó dâng người này cho Chúa. Cộng đoàn Kitô hữu chào từ biệt lần cuối cùng một chi thể của mình, trước khi xác người đó được mai táng. Truyền thống Byzantin diễn tả ý nghĩa này bằng cái hôn từ biệt người quá cố:
Với lời chào cuối cùng này, chúng ta hát tiễn người ra đi khỏi cuộc đời này và lìa xa chúng ta, nhưng đây cũng là cuộc hiệp thông và đoàn tụ, vì dầu phải chết, chúng ta cũng không bao giờ phải chia lìa nhau; quả thật, tất cả chúng ta đang đi cùng một đường và sẽ gặp lại nhau ở cùng một nơi. Chúng ta sẽ không bao giờ bị chia lìa, vì chúng ta đang sống cho Đức Kitô và giờ đây chúng ta đang được kết hợp với Người, đang đi đến với Người… Tất cả các tín hữu chúng ta sẽ được cùng nhau ở với Đức Kitô. [Back]
Sự sống trong Chúa Kitô
"Hỡi các Ki-tô hữu, hãy nhận biết phẩm giá của mình. Nay anh em đã được tham dự vào bản tính Thiên Chúa, đừng quay lại cuộc sống thấp hèn trước kia. Hãy nhớ Thủ Lãnh của anh em là Đức Ki-tô và anh em là chi thể của Hội Thánh. Đừng quên anh em đã được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được đưa vào trong ánh sáng Nước Thiên Chúa" (T. Lê-ô cả, bài giảng 21, 2-3). [Back]
1692
Trong kinh Tin Kính, chúng ta
tuyên xưng công trình sáng tạo là hồng ân cao cả Thiên
Chúa ban cho con người, nhưng hồng ân cứu chuộc và
thánh hóa còn cao cả hơn nữa. Các bí tích thông ban cho
chúng ta điều chúng ta tin tưởng tuyên xưng : nhờ các bí tích
tái sinh, các ki-tô hữu trở nên con cái Thiên Chúa (x. Ga 1,12;
1Ga 3,1), tham dự vào bản tính
Thiên Chúa. Khi lấy đức tin mà nhìn nhận phẩm
giá mới của mình, các Ki-tô hữu được mời gọi
"ăn ở xứng đáng với Tin Mừng" (x. Pl
1,27). Nhờ các bí tích và kinh nguyện,
họ nhận được ân sủng của Đức Ki-tô và các hồng
ân Chúa Thánh Thần, để có thể sống đời sống
mới này. [Back]
1693
Đức Giê-su Ki-tô luôn làm
điều đẹp lòng Chúa Cha (x. Ga 8,29). Người luôn sống hiệp thông trọn vẹn
với Cha. Cũng vậy, Người mời gọi các môn đệ
sống trước thánh nhan Cha, Đấng thấu suốt những
gì bí ẩn, để trở nên "hoàn thiện như Cha
trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5,48). [Back]
1694
Nhờ bí tích Thánh Tẩy,
các Ki-tô hữu được tháp nhập vào Đức
Ki-tô; họ chết đối với tội lỗi nhưng sống
cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su. Như thế, họ tham dự
vào sự sống của Đấng Phục Sinh. Khi bước
theo Đức Ki-tô và kết hiệp với Người, các tín hữu
"bắt chước Thiên Chúa, vì là con cái được Người
yêu thương và sống trong tình bác ái" (Ep 5,1), bằng việc uốn nắn ý nghĩ,
lời nói và việc làm của mình theo "những
tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su" (Pl 2,5) và noi gương bắt chước Người. [Back]
1695
Các Ki-tô hữu được
nên công chính nhờ danh Đức Giê-su Ki-tô và nhờ Thánh Thần
của Thiên Chúa, được thánh hóa và được kêu gọi nên
thánh, họ trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần.
Chính "Thánh Thần của Chúa Con dạy họ cầu
nguyện với Chúa Cha. Khi trở nên sự sống của
họ, Người thúc đẩy họ hành động để mang lại
"hoa quả của Thánh Thần" (Gl 5,22) nhờ thể hiện đức ái. Khi Chúa
Thánh Thần chữa chúng ta khỏi các vết thương do tội
lỗi, Người canh tân nội tâm chúng ta trong Thần Khí,
soi sáng và củng cố để chúng ta sống như con cái sự
sáng, nhờ "lương thiện, công chính và chân thật"
trong mọi chuyện (Ep 5,9). [Back]
1696
Đường của Đức
Ki-tô "dẫn đến sự sống", trong khi con đường
đối nghịch "đưa đến diệt vong" (Mt 7,13). Dụ ngôn Tin Mừng về hai
con đường luôn luôn hiện diện trong huấn giáo
của Hội Thánh. Nó cho thấy những quyết định
luân lý quan trọng thế nào đối với phần rỗi
của chúng ta. "Có hai con đường, một dẫn đến
sự sống, một dẫn đến sự chết : hai
bên khác nhau một trời một vực (Didaché 1,1)". [Back]
1697
Trong huấn
giáo, cần phải làm nổi bật niềm vui gặp
được cũng như những đòi hỏi mà con đường của
Đức Ki-tô đặt ra. Huấn giáo về đời sống mới
trong Đức Ki-tô phải là:
- Một huấn giáo về Chúa Thánh Thần, vị
Thầy nội tâm về đời sống theo Đức Ki-tô,
người khách trọ dịu hiền và người bạn soi
sáng, hướng dẫn, sữa chữa và củng cố đời
sống mới này.
- Một huấn
giáo về ân sủng, vì chính nhờ ân sủng mà
chúng ta được cứu độ, cũng chính nhờ ân sủng
mà các hoạt động của chúng ta mang lại hoa trái cho đời
sống vĩnh cửu.
- Một huấn giáo về các mối phúc thật :
Các mối phúc thật tóm tắt con đường của Đức
Ki-tô, con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc đời
đời mà lòng người hằng khao khát.
- Một huấn
giáo về tội lỗi và ơn tha thứ. Nếu không nhận
biết mình là tội nhân, con người không thể nhận
ra chân lý về bản thân. Chân lý này là điều kiện
để hành động đúng. Nếu Thiên Chúa không ban ơn tha thứ,
con người không thể chấp nhận nổi chân lý
này.
- Một huấn giáo về các đức tính nhân bản giúp
con người nhận ra nét đẹp và hấp dẫn của việc
sẵn sàng làm điều tốt.
- Một huấn
giáo về các nhân đức Ki-tô giáo : tin cậy, mến
- được khởi hứng cách tuyệt vời bằng gương
mẫu các thánh.
- Một huấn
giáo về giới răn mến Chúa yêu người được
khai triển trong Thập Giới.
- Một huấn
giáo về Hội Thánh, vì chính nhờ những
trao đổi đa dạng "các gia sản thiêng liêng" trong mầu
nhiệm "các thánh thông công" mà đời sống Ki-tô hữu
được tăng trưởng, phát triển và thông truyền cho nhau. [Back]
1698
Điểm qui chiếu đầu tiên và cuối cùng của một huấn giáo như vậy luôn luôn phải là chính Đức Giê-su Ki-tô, Đấng là "con đường, là sự thật, và là sự sống" (Ga 14,6). Khi lấy đức tin mà nhìn Đức Ki-tô, các tín hữu có thể hy vọng chính Người sẽ thực hiện nơi họ những điều Người đã hứa. Còn khi yêu mến Người bằng tình yêu Người đã yêu mến họ, họ thực hiện được những việc phù hợp với phẩm giá của mình :
"Tôi xin anh em hãy coi Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, là thủ lãnh thật của anh em và anh em là chi thể của Người. Người thuộc về anh em như đầu thuộc về các chi thể. Mọi sự của Người là của anh em. Tinh Thần của Người, trái tim của Người, thân thể của Người, linh hồn và tất cả khả năng của Người. Anh em phải sử dụng những gì của Người như của riêng anh em để phục vụ, ca ngợi, yêu mến và tôn vinh Thiên Chúa. Anh em thuộc về Người, như chi thể thuộc về đầu. Cũng vậy, Người ao ước sử dụng tất cả những gì của anh em, như thể là của riêng Người để phục vụ và tôn vinh Cha của Người (T.Gioan Eude,Thánh Tâm Chúa Giêsu, 1,5)".
"Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô"(Pl 1,21) [Back]
Ơn gọi của con người – Sống trong Thánh Thần
Đời sống trong Thánh Thần kiện toàn ơn gọi làm người. Đó là sống trong tình yêu mến Thiên Chúa và liên đới với mọi người. Thiên Chúa ban tặng đời sống này để đưa ta đến ơn cứu độ. [Back]
1700
Phẩm giá của nhân vị con người
Phẩm giá con người bắt nguồn từ việc con người được sáng tạo theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Phẩm giá này được kiện toàn trong ơn gọi đến hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa. Con người có trách nhiệm dùng tự do đạt tới sự viên mãn ấy.Bằng những hành vi có ý thức, con người quy hướng, hay không, vào những gì tốt đẹp. Thiên Chúa hứa ban và lương tâm công nhận. Con người sử dụng toàn thể đời sống giác quan và tinh thần làm chất liệu để xây dựng bản thân và tăng trưởng nội tâm. Nhờ ân sủng trợ giúp, con người tiến triển trên đường nhân đức, xa lánh tội lỗi và nếu lỡ phạm tội như người con hoang đàng, biết phó thác vào lòng thương của Cha Trên Trời. Nhờ đó, con người đạt tới đức ái hoàn hảo. [Back]
1701
Con người hình ảnh của Thiên
Chúa
"Khi mặc khải mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Người, Đức Ki-tô đã cho con người biết rõ về chính bản chất của họ và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ" (x. GS 22,1). Trong Đức Ki-tô "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" (Cl 1,15), con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Đấng Sáng Tạo. Hình ảnh này đã bị nguyên tội làm biến dạng, nay được phục hồi vẻ đẹp nguyên thủy trong Đức Ki-tô. Đấng Cứu Chuộc và Cứu Độ, và còn được ân sủng Thiên Chúa làm tăng thêm vẻ rực rỡ. [Back]
1702
Mỗi con người đều
mang hình ảnh Thiên Chúa. Hình ảnh ấy rực
sáng trong sự hiệp thông nhân vị, giống sự hiệp
nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa. [Back]
1703
Được ban cho một
linh hồn bất tử,con người là thụ
tạo duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng
nên vì chính. Ngay từ lúc tượng thai, con người được
Thiên Chúa tiền định để hưởng hạnh phúc đời
đời. [Back]
1704
Con người được tham
dự vào ánh sáng và sức mạnh của Thánh Thần Thiên
Chúa. Nhờ lý trí, họ hiểu được trật tự
muôn loài do Đấng Sáng Tạo thiết lập. Nhờ
ý chí, họ có khả năng hướng tới sự thiện
hảo đích thực. Con người đạt tới sự viên
mãn của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến
những gì là chân, là thiện [Back]
1705
Nhờ có linh hồn với
các khả năng tinh thần là lý trí và ý chí, con người
được hưởng tự do, dấu chỉ rõ ràng nhất
con người là hình ảnh Thiên Chúa. [Back]
1706
Nhờ lý trí, con người
nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa thúc đẩy mình
làm lành lánh dữ. Mỗi người phải vâng theo lề luật
ấy, luật đang âm vang trong lương tâm mình, và thực hiện
trong tình yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Việc thực
thi đời sống luân lý chứng nhận phẩm giá của
con người. [Back]
1707
Ngay từ đầu lịch sử, con người
bị thần Dữ cám dỗ nên đã lạm dụng tự
do của mình. Họ đã sa chước cám dỗ và làm
điều ác. Dù vẫn còn ước muốn điều thiện,
nhưng bản tính họ đã bị thương tổn vì
nguyên tội. Con người nghiêng chiều về sự dữ
và có thể sai lầm: Trong chính con người đã có sự chia
rẽ. Vì thế, tất cả cuộc sống con người,
cá nhân hay tập thể, đều biểu hiện như một
cuộc chiến bi thảm, giữa tốt và xấu, giữa
ánh sáng và tối tăm. [Back]
1708
Nhờ cuộc khổ nạn,
Đức Ki-tô giải thoát chúng ta khỏi Xa-tan và tội lỗi;
nhờ đó, chúng ta đáng được hưởng đời sống mới
trong Chúa Thánh Thần. Ân sủng của Người phục hồi
những gì tội lỗi đã làm hư hỏng nơi chúng
ta. [Back]
1709
Ai tin vào Đức Ki-tô
thì trở nên con cái Thiên Chúa. Ơn nghĩa tử này biến
đổi con người bằng cách giúp họ sống theo gương Đức
Ki-tô. Nhờ đó, họ có khả năng hành động đúng đắn và
thực thi điều lành. Sống kết hiệp với Đấng
Cứu Độ, người môn đệ đạt tới đức ái
hoàn hảo, tới sự thánh thiện. Đời sống luân
lý được trưởng thành trong ân sủng, sẽ triển
nở thành đời sống vĩnh cửu trong vinh quang Nước
Trời. [Back]
1710
Tóm lược
"Đức Ki-tô cho con người biết
trọn vẹn về chính họ và thiên chức rất cao
cả của họ" (GS 22,1). [Back]
1711
Được ban cho một linh hồn với
các khả năng tinh thần là lý trí và ý chí, ngay từ
lúc tượng thai, con người được Thiên Chúa tiền định
để hưởng hạnh phúc đời đời. Con người cố
gắng đạt tới sự viên mãn của mình bằng
cách "tìm kiếm và yêu mến những gì là
chân, là thiện" (GS 15,2). [Back]
1712
Tự do đích thực là "dấu chỉ
rõ ràng nhất con người là hình ảnh Thiên
Chúa" (GS 17). [Back]
1713
Con người phải vâng theo luân lý
thúc đẩy họ "làm lành, lánh dữ" (GS 16). Luật này âm vang trong lương tâm mỗi người. [Back]
1714
Bản tính con người đã bị
thương tổn vì nguyên tội, nên khi sử dụng tự
do, họ có thể sai lầm và nghiêng chiều về sự
dữ. [Back]
1715
Ai
tin vào Đức Ki-tô sẽ sống cuộc đời mới
trong Thánh Thần. Đời sống luân lý được lớn
lên và trưởng thành trong ân sủng, sẽ triển nở
trong vinh quang Nước Trời. [Back]
Ơn gọi hưởng vinh phúc của Ta
Các mối phúc thật
Các mối phúc là trọng tâm của những lời Chúa Giê-su rao giảng. Khi công bố các mối phúc, Người lặp lại các lời Thiên Chúa hứa với dân tuyển chọn từ thời Áp-ra-ham. Người kiện toàn những lời hứa này bằng cách hướng chúng về Nước Trời, chứ không còn là việc chiếm một vùng đất nào nữa.
"Phúc thay ai có tâm hồn
nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa
làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được
Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ
được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được
Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ
được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ
được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì
Nước Trời là của họ.
Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả,
bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.
Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần
thưởng dành cho anh em ở trên trời rất lớn
lao" (Mt5,3-12). [Back]
1717
Các mối phúc phản
ánh dung mạo và đức ái của Chúa Giê-su Ki-tô. Chúng cho thấy
ơn gọi của các tín hữu là được liên kết với
vinh quang cuộc khổ nạn và phục sinh của Người,
soi sáng những hành động và thái độ đặc trưng của
nếp sống Ki-tô giáo. Các mối phúc là những lời hứa,
có vẻ ngược đời, nâng đỡ niềm hy vọng khi
con người gặp hoạn nạn. Chúng công bố những
phúc lộc và ân thưởng các môn đệ đã được âm thầm
hưởng nhận. Chúng đã biểu hiện công khai trong đời
sống Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và chư thánh. [Back]
1718
Khát vọng hạnh phúc
Các mối phúc đáp ứng khát vọng tự nhiên của con người là muốn được hạnh phúc. Khát vọng này bắt nguồn từ Thiên Chúa. Người đã đặt nó trong tâm hồn con người để lôi kéo họ đến với Người, Đấng duy nhất có thể thỏa mãn khát vọng này:
-Mọi người đều muốn sống hạnh phúc. Chẳng ai phủ nhận điều này, dù họ không nói ra (Thánh Âu-tinh, luân lý Hội Thánh Công Giáo 1,3,4).
-Lạy Chúa, con phải tìm Chúa thế nào? Vì khi con tìm Chúa là Thiên Chúa của con, là con tìm hạnh phúc. Con muốn tìm Chúa để linh hồn con được sống vì thân xác sống nhờ linh hồn và linh hồn con sống nhờ Chúa (Thánh Âu-tinh, tự thuật 10,29)
-Chỉ có Chúa mới làm con no thỏa (Thánh Tô-ma Aquinô, kinh Tin Kính 1) [Back]
1719
Các mối phúc cho thấy
mục đích của đời sống con người, cùng đích của
các hành vi nhân linh: Thiên Chúa kêu gọi chúng ta đến hưởng
hạnh phúc của Người. Ơn gọi này được ban cho từng
cá nhân, cũng như cho toàn Hội Thánh, Dân Mới gồm những
kẻ đón nhận và sống lời hứa đó trong đức
tin. [Back]
1720
Hạnh phúc đích thực theo Kitô
giáo
Tân Ước dùng nhiều cách để diễn tả hạnh phúc đích thực mà Thiên Chúa mời gọi con người đến hưởng:
Nước Thiên Chúa đến;
hưởng nhan thánh Chúa : "Phúc thay ai có lòng trong sạch ngay thẳng, vì họ sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa" (Mt 5,8);
được vào hưởng niềm vui của Chúa (Mt 25,21.23);
được an nghỉ trong Chúa (Dt 4,7-11).
"Nơi đó chúng ta sẽ an nghỉ và chiêm ngắm, chiêm ngắm và yêu mến, yêu mến và ca ngợi. Cuối cùng là như vậy, mãi mãi như vậy. Chúng ta còn có cùng đích nào khác ngoài việc đạt vương quốc vô tận" (Thánh Âu-tinh - Thành Đô Thiên Quốc). [Back]
1721
Thiên Chúa đã dựng
nên chúng ta để nhận biết, phục vụ, yêu mến
Người và nhờ đó được hưởng phúc Thiên Đàng. Hạnh
phúc đích thực là được thông phần bản tính Thiên Chúa (2 Pr 1,4) và sự sống đời đời; nhờ đó,
con người được đi vào trong vinh quang của Đức Ki-tô và
hưởng cuộc sống của Ba Ngôi. [Back]
1722
Hạnh phúc đích thực vượt quá trí tuệ và sức lực con người. Đó là kết quả của hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Vì thế, ta gọi hạnh phúc này, cũng như ân sủng chuẩn bị con người vào hưởng sự hoan lạc của Thiên Chúa là ân huệ siêu nhiên.
"Phúc thay ai có lòng trong sạch ngay
thẳng, vì họ sẽ được ngắm nhìn
Thiên Chúa". "Không ai trông thấy Thiên Chúa mà còn sống"
vì Người cao cả và vinh quang vô biên. Chúa Cha là Đấng
con người không thể thấu hiểu được. Vì
lòng yêu thương nhân hậu đối với nhân loại, với
quyền năng tuyệt đối, Thiên Chúa ban cho những ai yêu mến
Người được đặc ân chiêm ngắm Người.
"Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể
làm được" (Thánh Irênê, chống lạc
giáo 4,20,5). [Back]
1723
Hạnh phúc Thiên Chúa hứa đặt chúng ta trước những lựa chọn luân lý quyết định, mời gọi ta thanh luyện tâm hồn khỏi những bản năng xấu và tìm kiếm tình yêu Thiên Chúa trên hết mọi sự. Hạnh phúc Chúa hứa dạy ta biết rằng hạnh phúc đích thực không ở nơi của cải hay tiện nghi, cũng không phải trong vinh quang trần thế hay quyền lực, cũng không ở trong bất cứ một công trình nào của con người, dù hữu ích như khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật, cũng không ở trong bất cứ thụ tạo nào, nhưng chỉ ở nơi Thiên Chúa, nguồn mạch mọi thiện hảo và tình yêu:
"Ngày nay, giàu sang là vị thần vĩ
đại, được đông đảo quần chúng sùng bái tôn thờ. Họ
đo lường hạnh phúc bằng tài sản; danh dự cũng
đo bằng tài sản....Tất cả đều do quan niệm
: có tiền mua tiên cũng được. Giàu sang là một trong những
ngẫu tượng của thời đại. Một ngẫu tượng
nữa là danh vọng.....Danh vọng, được mọi người
biết đến, được tiếng tăm lừng lẫy trên thế
giới. Được các phương tiện truyền thông nói đến,
danh vọng đã trở thành như điều thiện hảo
tuyệt đối, điều thiện hảo tối thượng,
đối tượng được người ta tôn thờ sùng bái" (Newman, diễn văn về sự thánh thiện,
5). [Back]
1724
Thập giới, bài giảng
trên núi và giáo huấn các tông đồ vạch cho chúng ta con đường
đến Nước Trời. Nhờ ơn Thánh Thần nâng đỡ,
chúng ta tiến tới từng bước một qua các hành vi hằng
ngày. Nhờ lời Đức Ki-tô tác động, chúng ta dần dần
sinh hoa kết quả trong Hội Thánh để tôn vinh Thiên Chúa. [Back]
Tóm
lược
Các mối
phúc lặp lại và kiện toàn những lời Thiên Chúa hứa
từ thời Áp-ra-ham bằng cách hướng chúng về Nước
Trời. Chúng đáp ứng khát vọng sống hạnh phúc
Thiên Chúa đặt trong tâm hồn con người. [Back]
1726
Các mối
phúc dạy chúng ta biết cùng đích mà Thiên Chúa mời gọi
con người đạt tới : Nước Trời, hưởng nhan
thánh Chúa, thông phần bản tính Thiên Chúa, sự sống đời
đời, ơn nghĩa tử, an nghỉ trong Chúa. [Back]
1727
Hạnh
phúc được sống đời đời là hồng ân nhưng không của
Thiên Chúa. Ta gọi hạnh phúc này cũng như ân sủng dẫn
đưa ta đến đó, là ân huệ siêu nhiên. [Back]
1728
Các mối
phúc đặt chúng ta trước những chọn lựa quyết
định về những của cải trần thế, thanh
luyện tâm hồn để chúng ta học biết yêu mến
Thiên Chúa trên hết mọi sự. [Back]
1729
Hạnh
phúc thiên đàng ấn định tiêu chuẩn để chúng ta nhận
định cách sử dụng của cải trần thế
sao cho phù hợp với luật Thiên Chúa. [Back]
Tự do của con người
Thiên Chúa đã sáng tạo
con người có lý trí và ban cho họ phẩm giá của một
nhân vị để hành động có sáng kiến và biết làm chủ
các hành vi của mình. Thiên Chúa muốn để con người
tự định liệu, hầu con người tự mình
đi tìm Đấng Sáng Tạo và nhờ tự do kết hiệp
với Người, con người tiến tới sự hoàn thiện
trọn vẹn và hạnh phúc. Con người có lý trí,
nên giống Thiên Chúa; con người được dựng nên có tự
do và làm chủ các hành vi của mình. [Back]
1731
Tự do và trách nhiệm
Tự do là khả năng bắt nguồn từ lý trí và ý chí, để hành động hay không hành động, làm việc này hoặc việc nọ; nhờ đó, con người có thể thực hiện những hành vi có ý thức. Nhờ có ý chí tự do, con người tự quyết định về bản thân. Nhờ tự do, con người phát triển và trưởng thành trong chân lý và sự thiện. Tự do đạt tới mức hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc của chúng ta. [Back]
1732
Bao lâu chưa dứt khoát gắn
chặt vào Thiên Chúa là sự thiện hảo tối hậu
của mình, thì tự do còn bao hàm khả năng lựa
chọn giữa thiện và ác; do
đó, con người có thể tiến tới trên đường hoàn thiện
hoặc thoái lui và phạm tội. Tự do là đặc tính của
hành vi nhân linh. Vì có tự do, nên con người được
khen ngợi hay bị chê trách, có công hay có tội. [Back]
1733
Càng
làm điều thiện, con người càng trở nên tự do. Chỉ
có tự do đích thực khi con người phục vụ cho điều
thiện và công bằng. Khi bất tuân ý Chúa và chọn
điều ác, con người lạm dụng tự do và trở
nên nô lệ tội lỗi. [Back]
1734
Có tự do, con người phải chịu trách nhiệm về
các hành vi của mình theo mức độ chủ ý.
Người càng đức hạnh, hiểu biết về sự
thiện và sống khổ hạnh, ý chí càng làm chủ
được các hành vi. [Back]
1735
Việc quy lỗi và trách nhiệm về
một hành động có thể được giảm bớt hay xóa
bỏ do thiếu hiểu biết, sơ suất, do áp lực,
sợ hãi, do thói quen, do tâm lý bất ổn, do các
nhân tố tâm lý hay xã hội. [Back]
1736
Con người phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi trực tiếp chủ ý của mình:
-Trong vườn địa đàng, sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa chất vấn E-và: "Ngươi đã làm gì thế ?" (St 3,13). Chúa cũng hỏi Ca-in như vậy. Sau khi Vua Đa-vít phạm tội ngoại tình với vợ U-ri-a và ra lệnh giết ông này, ngôn sứ Na-than cũng đặt câu hỏi tương tự với vua.
- Một hành động có thể là gián tiếp chủ ý khi nó là hậu quả của sự chểnh mảng đối với điều phải biết hay phải làm; ví dụ : gây ra một tai nạn vì không biết luật đi đường. [Back]
1737
Một hậu quả,
không do tác nhân cố tình gây nên, có thể được dung thứ;
ví dụ : người mẹ kiệt sức vì chăm sóc đứa
con đau yếu. Một hậu quả xấu sẽ không bị
quy lỗi nếu nó không phải là mục đích hay phương tiện
chủ ý của tác nhân; ví dụ : một người bị
thiệt mạng vì muốn cứu người khác. Tác
nhân bị quy lỗi khi có thể thấy trước hậu
quả xấu và có thể tránh được; ví dụ: người
say rượu lái xe cán chết người. [Back]
1738
Tự do được thể
hiện trong các mối tương quan giữa người với người.
Vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên
Chúa, mỗi người đương nhiên có quyền được nhìn
nhận như một con người tự do và có trách nhiệm. Mọi
người có bổn phận tôn trọng quyền đó. Quyền
sử dụng tự do là một đòi hỏi không thể
tách rời khỏi phẩm giá con người, đặc biệt
trong lãnh vực tâm lý và tôn giáo. Luật dân sự
phải công nhận và bảo vệ quyền này, trong giới
hạn công ích và trật tự công cộng. [Back]
Tự do của con người trong kế
hoạch Cứu Độ
Tự do và tội lỗi. Tự do của con người có giới hạn và có thể lầm lạc. Quả thực, con người đã sa ngã, đã tự ý phạm tội khi từ chối ý định yêu thương của Thiên Chúa, con người tự lừa dối mình và trở thành nô lệ tội lỗi. Sự tha hóa đầu tiên này kéo theo vô số những tha hóa khác. Ngay từ đầu, lịch sử nhân loại cho thấy nhiều tai họa và áp bức phát xuất từ tâm địa con người lạm dụng tự do. [Back]
1740
Tự do bị đe dọa. Tự do
không phải là muốn nói gì thì nói, muốn làm
gì thì làm. Quan niệm con người là một chủ
thể tự do, tự túc tự mãn, chỉ cần lo
cho lợi ích riêng mình bằng cách lo hưởng thụ
các lạc thú trần thế là điều sai lầm. Mặt
khác, những điều kiện về kinh tế và xã hội,
chính trị và văn hóa cần thiết để thực thi tự
do cách chính đáng, lắm khi bị phủ nhận và vi phạm.
Những sự mù quáng và bất công này làm băng hoại đời
sống luân lý và tạo dịp cho kẻ mạnh cũng
như người yếu phạm tội nghịch đức ái. Khi
xa lìa luật luân lý, con người làm thương tổn tự
do của chính mình, làm nô lệ cho tính ích kỷ, cắt
đứt tình huynh đệ với đồng loại và nổi
loạn chống lại ý Chúa. [Back]
1741
Giải thoát và cứu độ. Nhờ thập giá
vinh hiển, Đức Ki-tô đã cứu độ tất cả
mọi người. Người cứu chuộc họ khỏi
ách nô lệ tội lỗi. "Chính để chúng ta được tự
do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta" (Gl 5,1). Trong Người, chúng ta được hiệp thông với
"sự thật nhờ đó chúng ta được tự do" (Ga 8,32). Thiên Chúa đã ban Thánh Thần cho chúng ta và
như thánh Phao-lô dạy: "Ở đâu có Thánh Thần thì ở
đó có tự do" (2Cr 3,17). Ngay từ bây giờ,
chúng ta tự hào về "tự do của con cái Thiên
Chúa" (Rm 8,21). [Back]
1742
Tự do và ân sủng. Ân sủng Đức Ki-tô không hề chèn ép tự do của chúng ta, khi tự do đi đúng hướng của Thiên Chúa và điều thiện mà Thiên Chúa đã đặt trong lòng con người. Trái lại, kinh nghiệm Ki-tô giáo, đặc biệt trong sự cầu nguyện, cho thấy : càng ngoan ngoãn vâng theo sự thúc đẩy của ân sủng, chúng ta càng được gia tăng tự do nội tâm và lòng quả cảm trước thử thách, cũng như những áp lực và ràng buộc của thế giới bên ngoài. Nhờ tác động của ân sủng, Thánh Thần dẫn chúng ta đến sự tự do thiêng liêng để chúng ta trở thành những người tự nguyện cộng tác vào công trình của Người trong Hội Thánh và thế giới:
Lạy Thiên Chúa toàn năng và
nhân hậu, xin đẩy xa những gì cản bước tiến
của chúng con trên đường về với Chúa, để một
khi xác hồn thanh thản, chúng con được hoàn toàn tự do
thực hiện ý Chúa. [Back]
Tóm
lược
“Thiên Chúa đã để con người tự
quyết định lấy" (Hc 15,14), để con người được tự do
gắn bó với Đấng sáng tạo của mình, và như
vậy đạt tới sự toàn hảo diễm phúc. [Back]
1744
Tự do là khả năng để hành động hay không hành động;
nhờ đó con người có thể thực hiện những
hành vi có ý thức. Tự do đạt tới mức hoàn
hảo khi quy hướng về Thiên Chúa là sự thiện tối
thượng. [Back]
1745
Tự
do là đặc tính của những hành vi nhân linh. Con người
phải chịu trách nhiệm về các hành vi mình chủ
ý làm. Hành động chủ ý thuộc về chính tác
nhân. [Back]
1746
Việc
quy lỗi và trách nhiệm về một hành động có thể
được giảm bớt hay xóa bỏ do thiếu hiểu biết,
bạo lực, sợ hãi, và các nhân tố tâm lý
hay xã hội khác. [Back]
1747
Quyền
sử dụng tự do là một đòi hỏi không thể
tách rời khỏi phẩm giá con người, đặc biệt
trong lãnh vực tôn giáo và luân lý. Thực thi quyền
tự do không có nghĩa là muốn nói gì thì nói, muốn
làm gì thì làm. [Back]
1748
“Chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô
đã giải thoát chúng ta" ( Gl 5,1). [Back]
Tính luân lý của các hành vi nhân linh
Tự do làm cho con người thành một chủ thể luân lý. Khi hành động có chủ ý, con người nói được là cha đẻ các hành vi của mình. Các hành vi nhân linh, nghĩa là đã được tự do lựa chọn theo phán đoán lương tâm, đều có tính luân lý: có thể tốt hoặc xấu. [Back]
1750
Nguồn gốc của tính luân lý
Tính
luân lý của các hành vi nhân linh tùy thuộc:
- đối tượng được lựa chọn;
- mục đích nhắm tới hay ý hướng;
- các hoàn cảnh của hành động.
Đối tượng, ý hướng và các hoàn cảnh tạo nên nguồn gốc, hay yếu tố cấu thành tính luân lý của các hành vi nhân linh. [Back]
1751
Đối tượng được lựa chọn
là một thiện ích tác nhân chủ ý nhắm tới.
Đó là chất liệu của một hành vi nhân linh. Đối tượng
được lựa chọn xác định tính luân lý của
hành vi ý chí, tùy theo lý trí nhận biết và phán đoán
có phù hợp hay không với sự thiện đích thực. Những
quy tắc khách quan về luân lý nói lên trật tự
thuần lý về thiện ác được lương tâm công nhận. [Back]
1752
Khác với đối tượng,
ý hướng thuộc về chủ thể hành động.
Ý hướng phát xuất từ ý chí tự do và xác định
mục đích của hành động, nên là một yếu tố
căn bản để đánh giá tính luân lý của hành động.
Mục đích là điểm đầu tiên ý hướng nhắm tới,
là mục tiêu hành động theo đuổi. Ý hướng là động
tác của ý chí nhắm đến mục đích, định hướng
cho hành động, nhằm thiện ích tác nhân đang mong đợi.
Ý hướng không chỉ giới hạn vào việc định
hướng cho từng hành động riêng lẻ, mà còn có thể
phối trí nhiều hành động khác nhau nhắm đến cùng
một mục tiêu. Ý hướng có thể định hướng
toàn bộ cuộc sống chúng ta đến một cùng đích. Ví
dụ: một công việc có mục đích giúp đỡ tha nhân, đồng
thời có thể do tình yêu Thiên Chúa là cùng đích của mọi
hành động thúc đẩy. Một hành động có thể do nhiều
ý hướng, như giúp đỡ kẻ khác để nhờ vả
hay để khoe khoang. [Back]
1753
Một ý hướng tốt
(ví dụ: giúp đỡ tha nhân) không thể làm cho một hành vi
sai trái (ví dụ: nói dối, nói xấu), trở thành tốt
hay đúng. Cứu cánh không biện minh cho phương tiện. Như thế,
không thể biện minh cho việc kết án một người
vô tội như phương tiện chính đáng để cứu dân chúng. Ngược
lại, một hành vi tự nó là tốt (ví dụ: bố
thí) có thể trở thành xấu khi có ý xấu (ví dụ:
tìm hư danh). [Back]
1754
Các hoàn cảnh, kể cả những hậu
quả, là những yếu tố phụ của một hành
vi luân lý. Chúng góp phần gia tăng hay giảm bớt tính
chất tốt hay xấu về mặt luân lý của
những hành vi nhân linh (Ví dụ: lấy cắp nhiều hay
ít), Chúng cũng có thể giảm bớt hay gia tăng trách nhiệm
của tác nhân (hành động vì sợ chết). Tự
chúng, các hoàn cảnh không thể thay đổi phẩm chất
luân lý của chính hành vi. Chúng không thể làm cho một
hành vi tự nó là xấu, trở nên tốt hay đúng. [Back]
1755
Hành vi tốt hay hành vi xấu
Một hành vi tốt về mặt luân lý đòi hỏi đối tượng, mục đích và các hoàn cảnh đều phải tốt. Mục đích xấu làm cho hành động trở nên xấu, dù đối tượng tự nó là tốt (Vd: cầu nguyện và chay tịnh để người khác trông thấy). Nguyên đối tượng được lựa chọn có thể làm cho toàn bộ hành động trở nên xấu. Có những hành vi cụ thể, như tội tà dâm, luôn luôn là sai, vì ngay khi chọn lựa, ý chí đã lệch lạc, đó là một điều xấu luân lý. [Back]
1756
Do đó, người ta mắc
phải sai lầm khi thẩm định tính luân lý của
một hành động mà chỉ xét ý hướng hoặc hoàn
cảnh (môi trường, áp lực xã hội, cưỡng
bách hoặc do cần thiết phải hành động). Chưa cần
xét đến hoàn cảnh và ý hướng, có những hành vi tự
bản chất luôn là bất chính nghiêm trọng do đối tượng;
ví dụ: lộng ngôn, bội thề, sát nhân và ngoại
tình. Không được phép làm điều xấu, để đạt
một kết quả tốt. [Back]
1757
Tóm
lược
Đối tượng, ý hướng và các
hoàn cảnh, tạo thành ba nguồn gốc cho tính luân
lý của các hành vi nhân linh. [Back]
1758
Đối
tượng được chọn, xác định tính luân lý của
hành vi ý chí, tùy theo việc lý trí nhìn nhận
và phán đoán nó là tốt hay xấu. [Back]
1759
"Ý hướng tốt không thể
biện minh cho một hành động xấu” (T. Tô-ma Aquino, 6).Cứu cánh không biện
minh cho phương tiện . [Back]
1760
Một
hành vi tốt về mặt luân lý đòi hỏi đối
tượng, mục đích và các hoàn cảnh đều phải tốt. [Back]
1761
Có những
hành vi cụ thể luôn luôn là sai, vì ngay khi chọn lựa,
ý chí đã lệch lạc; đó là một điều xấu
luân lý. Không được phép làm điều xấu để đạt
một kết quả tốt. [Back]
Tính luân lý của các đam mê
Con người hướng về hạnh phúc đích thực bằng những hành vi chủ ý: những đam mê hay tình cảm con người cảm nhận, có thể giúp con người chuẩn bị và góp phần đi tìm hạnh phúc. [Back]
1763
Cá đam mê
Thuật ngữ đam mê nằm trong di sản Ki-tô giáo.
1764
Các đam mê là thành phần tự
nhiên của sinh hoạt tâm lý con người. Chúng nối
kết đời sống cảm giác và đời sống tinh thần.
Theo lời Đức Ki-tô, tâm hồn là nguồn phát xuất
các rung động đam mê. [Back]
1765
Có nhiều thứ đam mê.
Đam mê căn bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo
lôi cuốn. Tình yêu tác động lên ước muốn điều
thiện hảo chưa có và niềm hy vọng sẽ đạt được.
Vận hành này chỉ kết thúc trong hoan lạc và niềm
vui do chiếm hữu được điều đó. E ngại điều
xấu, làm phát sinh lòng thù ghét, ghê tởm và sợ
hãi trước điều xấu đang hăm dọa. Rung động
này dẫn đến buồn phiền vì điều dữ
đang hoành hành hay phẫn nộ chống lại nó. [Back]
1766
"Yêu
là muốn điều thiện cho người khác” (T. Tô-ma Aquinô, Tổng Luận Thần Học
1-2, 26,4). Tất
cả những tình cảm khác đều bắt nguồn
từ rung động nguyên thủy này của tâm hồn hướng
về điều thiện hảo. Chỉ có điều thiện
hảo mới đáng yêu. Đam mê xấu khi tình yêu xấu,
đam mê tốt khi tình yêu tốt. [Back]
1767
Đam mê và đời sống luân lý
Tự bản chất, đam mê không tốt không xấu. Đam mê mang giá trị luân lý tùy mức độ liên hệ thật sự với lý trí và ý chí. Đam mê được coi là có chủ ý khi do ý chí điều khiển hay ý chí không ngăn cản. Muốn đạt tới mức hoàn hảo luân lý hay nhân linh, con người cần phải dùng lý trí điều khiển các đam mê. [Back]
1768
Những tình cảm
cao thượng không quyết định tính luân lý hay sự
thánh thiện của con người; chúng chỉ là kho dự trữ
vô tận những hình ảnh và cảm xúc được biểu
lộ trong đời sống luân lý. Về mặt luân
lý, đam mê sẽ tốt nếu góp phần vào một
hành động tốt, và xấu trong trường hợp ngược
lại. Ý chí ngay thẳng hướng các cảm xúc về
điều thiện và hạnh phúc đích thực, ý chí xấu
không chống nổi các đam mê hỗn loạn và làm cho chúng trở
nên dữ dội hơn. Các cảm xúc và tình cảm có thể
được đón nhận trong các nhân đức, hoặc bị băng hoại trong các thói
xấu. [Back]
1769
Trong đời sống Ki-tô
hữu, Chúa Thánh Thần thực hiện công trình của
Người, bằng cách huy động mọi sự nơi con người,
kể cả những đau khổ, sợ hãi và buồn
phiền, như trong cơn hấp hối và cuộc khổ nạn
của Đức Ki-tô. Trong Người, những tình cảm
của chúng ta được kiện toàn nhờ đức ái và hạnh
phúc đích thực. [Back]
1770
Con người đạt tới
mức hoàn thiện luân lý bằng cách vươn tới điều
thiện hảo, không chỉ với ý chí, mà còn với
các ham muốn của giác quan; như lời thánh vịnh: "Cả
tấm thân con cùng là tấc dạ, những hướng lên Chúa
Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng" (Tv 84,3) [Back]
1771
Tóm
lược
Thuật
ngữ đam mê chỉ những cảm xúc và tình cảm;
nhờ đó, con người linh cảm điều thiện và nghi ngờ
điều ác. [Back]
1772
Những đam mê chính yếu là : hỉ,
nộ, ái, ố, ai, cụ, dục ( vui, giận, yêu, ghét, buồn,
sợ, ham muốn) [Back]
1773
Các
đam mê được xem như những rung động của tình cảm,
không tốt cũng không xấu về mặt luân lý.
Chúng tốt hay xấu tùy theo lý trí và ý chí. [Back]
1774
Những
cảm xúc và tình cảm có thể được đón nhận
trong các nhân đức, hoặc bị băng hoại trong các thói xấu. [Back]
1775
Con
người đạt tới mức hoàn thiện luân lý bằng
cách vươn tới điều thiện hảo, không chỉ bằng
ý chí, nhưng còn với cả tâm hồn nữa. [Back]
Lương tâm
"Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo. Tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người... Quả thật, con người có một lề luật được Thiên Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người... lương tâm là tâm điểm sâu lắng nhất và là cung thánh của con người; nơi đây con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ" (GS 16). [Back]
1777
Phán quyết của lương tâm
Lương tâm hiện diện trong lòng người và ra lệnh đúng lúc cho con người làm lành lánh dữ. Lương tâm phán đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu. Lương tâm chứng nhận thế giá của chân lý bằng cách quy chiếu về Thiên Chúa là sự thiện tối thượng, Đấng thu hút và ban mệnh lệnh cho con người. Khi nghe theo tiếng lương tâm, người khôn ngoan có thể cảm nhận được Thiên Chúa đang nói với mình. [Back]
1778
Lương tâm là một phán quyết của lý trí; nhờ đó, con người nhận biết một hành vi cụ thể mình định làm, đang làm hay đã làm, là tốt hay xấu. Trong lời nói và hành động, con người phải trung thành tuân theo điều mình biết là chính đáng và ngay lành. Nhờ phán quyết của lương tâm, con người ý thức và nhận ra những quy định của luật Thiên Chúa.
Lương tâm là một lề luật của tinh thần con người, nhưng vượt trên con người. Lương tâm ra lệnh, nêu lên trách nhiệm và bổn phận, điều chúng ta phải sợ và điều có thể hy vọng. Lương tâm là sứ giả của Đấng nói với chúng ta sau một bức màn, dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta, trong thế giới tự nhiên cũng như trong thế giới ân sủng. Lương tâm là vị đại diện thứ nhất trong các đại diện của Đức Ki-tô. [Back]
1779
Mỗi người phải quay về với nội tâm, để có thể nghe được và tuân theo tiếng lương tâm. Ngày nay, việc) quay về với nội tâm càng cần thiết hơn bao giờ hết, vì nếp sống hiện đại thường làm chúng ta trốn tránh suy nghĩ, kiểm điểm hay phản tỉnh: Anh em hãy quay về tự vấn lương tâm. Hãy quay về với nội tâm. Trong mọi sự anh em làm, hãy nhìn lên Thiên Chúa, Người chứng giám cho anh em. [Back]
1780
Phẩm giá của nhân vị bao hàm và đòi buộc con người phải có lương tâm ngay thẳng. Lương tâm gồm ba điều:
- Nhận biết các nguyên tắc luân lý;
- Áp dụng vào việc cân nhắc thực tiễn các lý do và lợi ích trong những hoàn cảnh cụ thể;
- Cuối cùng phán quyết về các hành vi cụ thể sắp làm hay đã làm.Nhờ phán quyết khôn ngoan của lương tâm, con người nhìn nhận, trong thực tiễn và cụ thể, chân lý điều thiện đã được lý trí nêu lên. Người khôn ngoan là người chọn theo phán quyết này. [Back]
1781
Với lương tâm, chúng ta nhận trách nhiệm về những
hành vi đã thực hiện. Nếu con người làm điều
xấu, phán đoán ngay chính của lương tâm làm chứng cho chân
lý phổ quát của điều thiện và tố cáo việc
lựa chọn sai trái. Lời kết án của lương tâm có thể
dẫn con người đến hy vọng vào lòng thương xót của
Thiên Chúa. Khi xác định lỗi lầm đã phạm, lương
tâm nhắc nhở ta phải cầu xin ơn tha thứ, thực
hành điều thiện và luôn trau dồi nhân đức nhờ ân
sủng của Thiên Chúa trợ giúp: "Chúng ta sẽ
được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu
lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, thì Thiên Chúa
còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết
mọi sự" (1Ga
3,19-20) [Back]
1782
Con người có quyền
hành động theo lương tâm và trong tự do, để tự
mình có những quyết định luân lý. "Không
được cưỡng bức ai hành động trái với lương tâm của
họ. Cũng không được ngăn cản họ hành động
theo lương tâm, nhất là trong lãnh vực tôn giáo" (DH 3) [Back]
1783
Rền luyện lương tâm
Lương tâm phải được rèn luyện và phán đoán luân lý phải được soi sáng. Một lương tâm được rèn luyện tốt sẽ phán đoán ngay thẳng và chân thật. Lương tâm này sẽ đưa ra những phán quyết theo lý trí, phù hợp với điều kiện đích thực như Đấng Sáng tạo đầy khôn ngoan muốn. Việc giáo dục lương tâm rất cần thiết cho những người chịu các ảnh hưởng tiêu cực và bị tội lỗi cám dỗ làm theo ý riêng và bỏ những giáo huấn chính thức. [Back]
1784
Giáo dục lương tâm là nhiệm
vụ phải theo đuổi suốt đời. Ngay từ thời
thơ ấu, trẻ con phải được hướng dẫn để
nhận biết và thực hành luật nội tâm đã được
lương tâm công nhận. Một nền giáo dục tốt dạy
con người sống đức hạnh, bảo vệ và giải
thoát con người khỏi sợ hãi, ích kỷ và kiêu
căng, những mặc cảm tội lỗi và thái độ tự
mãn, những thứ phát xuất từ sự yếu
đuối và dễ sai lầm của con người. Giáo dục
lương tâm bảo đảm tự do và tạo bình an trong tâm
hồn. [Back]
1785
Lời Chúa là ánh sáng chỉ
đường để rèn luyện lương tâm. Chúng ta phải lãnh
hội Lời Chúa trong đức tin, trong kinh nguyện và đem ra
thực hiện; phải kiểm điểm lương tâm dưới
ánh sáng Thập Giá Đức Ki-tô; nhờ ơn Chúa Thánh Thần trợ
giúp, có các chứng từ và lời khuyên nhủ của anh
em giúp đỡ, được giáo huấn chính thức của Hội
Thánh hướng dẫn (DH 14). [Back]
1786
Chọn lựa theo lương tâm
Khi phải đứng trước một chọn lựa, lương tâm có thể phán đoán đúng, hợp theo lý trí và luật Thiên Chúa, hoặc ngược lại, phán đoán sai. [Back]
1787
Đôi khi gặp những
hoàn cảnh không phán đoán chắc chắn được nên khó quyết
định, con người phải luôn luôn tìm kiếm điều
công chính và thiện hảo, cũng như nhận định đâu là
thánh ý trong lề luật Thiên Chúa. [Back]
1788
Muốn vậy, chúng ta
phải cố gắng giải thích đúng đắn kinh nghiệm
của mình và các dấu chỉ thời đại, nhờ
vào đức khôn ngoan, lời khuyên bảo của những người
hiểu biết cũng như sự trợ lực của Chúa
Thánh Thần và ân sủng của Người. [Back]
1789
Một vài quy tắc có thể áp dụng trong mọi trường hợp:
- Không bao giờ được phép làm điều xấu để đạt một kết quả tốt.
- Khuôn vàng thước ngọc: "Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta" (Mt 7,12; x. Lc 6,31;Tb 4,15).
- Đức ái Ki-tô giáo luôn luôn đòi chúng ta tôn trọng tha nhân và lương tâm của họ. "Phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm của họ... là phạm đến Đức Ki-tô" (1Cr 8,12). "Tốt nhất là tránh những gì gây cớ cho anh em mình vấp ngã" (Rm 14,21). [Back]
Phán đoán sai lầm
Con người luôn luôn phải tuân theo phán đoán chắc chắn của lương tâm mình. Nếu chủ ý hành động nghịch với phán đoán ấy, con người tự kết án chính mình. Nhưng có thể lương tâm thiếu hiểu biết nên phán đoán sai lầm về các hành vi sẽ làm hoặc đã làm. [Back]
1791
Thông thường, cá nhân phải
chịu trách nhiệm về sự thiếu hiểu biết
ấy. Điều này xảy đến khi : Con người không mấy
lo lắng tìm kiếm chân lý và điều thiện, cũng
như khi vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần
trở nên mù quáng. Trong các trường hợp đó, con người phải
chịu trách nhiệm về điều xấu đã làm.
[Back]
1792
Những lệch lạc
trong phán đoán luân lý có thể xuất phát từ thiếu
hiểu biết về Đức Ki-tô và Tin Mừng; gương xấu
của người khác; nô lệ các đam mê; nghĩ sai lạc về
tự do lương tâm; khước từ quyền bính và giáo huấn
của Hội Thánh; thiếu hoán cải và bác ái. [Back]
1793
Nếu không thể khắc
phục được tình trạng thiếu hiểu biết,
hoặc nếu phán đoán sai lạc không do trách nhiệm của
chủ thể luân lý, thì người đó không chịu
trách nhiệm về điều xấu đã làm. Tuy nhiên, điều
xấu ấy vẫn là điều xấu, một khiếm
khuyết, một rối loạn; do đó, phải ra sức uốn
nắn lương tâm cho khỏi sai lầm. [Back]
1794
Lương tâm tốt lành và trong sáng của người tín hữu còn được đức tin chân chính soi sáng, vì đức ái xuất phát đồng thời từ "một tâm hồn trong sạch, một lương tâm ngay thẳng và một đức tin chân chính" (1Tm 1,5). Lương tâm ngay thẳng càng thắng thế thì những cá nhân và cộng đoàn càng tránh được độc đoán mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lý. [Back]
1795
Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và
là cung thánh của con người; nơi đây con người hiện diện
một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người
vang dội trong thâm tâm họ (GS 16). [Back]
1796
Lương
tâm là một phán quyết của lý trí; nhờ đó, con
người nhận biết một hành vi cụ thể là tốt
hay xấu. [Back]
1797
Nếu
con người làm điều xấu, lời kết án của
lương tâm có thể dẫn họ đến hoán cải và hy vọng. [Back]
1798
Một
lương tâm được rèn luyện tốt sẽ phán đoán ngay thẳng
và chân thật. Lương tâm ấy sẽ đưa ra những phán quyết
theo lý trí, phù hợp với điều thiện đích thực
như Đấng Sáng Tạo đầy khôn ngoan muốn. Mỗi người
đều phải tìm phương thế để rèn luyện lương
tâm mình. [Back]
1799
Khi
chọn lựa, lương tâm có thể phán đoán đúng hợp theo
lý trí và luật Thiên Chúa, hoặc ngược lại có thể
phán đoán sai lầm. [Back]
1800
Con
người luôn luôn phải tuân theo phán đoán chắc chắn của
lương tâm mình. [Back]
1801
Lương
tâm có thể còn thiếu hiểu biết hay phán đoán sai
lầm. Sự thiếu hiểu biết và sai lầm đó không
phải lúc nào cũng vô tội. [Back]
1802
Lời Thiên Chúa là ánh sáng chỉ đường
cho con người. Chúng ta phải lãnh hội Lời Chúa
trong đức tin, trong kinh nguyện, và đem ra thực hành. Đó là phương thế để rèn luyện lương tâm. [Back]
Các nhân đức
"Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý" (Pl 4,8). Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên định để làm điều thiện, không những giúp thực hiện những hành vi tốt, mà còn cống hiến hết khả năng của mình. Người nhân đức hướng về điều thiện với tất cả năng lực thể xác và tinh thần. Họ cố gắng theo đuổi điều thiện và dứt khoát thực hiện bằng những hành động cụ thể. Mục đích của đời sống đức hạnh là nên giống Thiên Chúa. [Back]
1804
Các nhân đức nhân bản
Các đức tính nhân bản là những thái độ kiên định, những xu hướng bền vững, thói quen hướng thiện của lý trí và ý chí, giúp con người điều chỉnh các hành vi, điều tiết các đam mê, và hướng dẫn cách ăn nết ở của ta theo lý trí và đức tin. Các đức tính này đem lại cho con người sự thoải mái, tự chủ và an vui, để sống một cuộc đời tốt lành. Người nhân đức tự nguyện làm điều thiện.
Muốn có được các đức tính luân lý này, con người phải cố gắng tập luyện. Đây là hoa trái đồng thời cũng là mầm mống cho những hành vi tốt. Các đức tính hướng mọi năng lực của con người đến sự hiệp thông với tình yêu Thiên Chúa. [Back]
1805
Các đức tính căn bản
Có bốn đức tính đóng vai trò bản lề, quy tụ các đức tính khác, gọi là các đức tính căn bản: khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ. Con người mến chuộng điều chính trực ư? thì chính Khôn Ngoan sản sinh các nhân đức: Quả vậy, Khôn Ngoan dạy cho biết sống tiết độ, khôn ngoan, công bình và can đảm. Các đức tính này còn được Kinh Thánh khen ngợi dưới nhiều tên gọi khác. [Back]
1806
Khôn ngoan là đức tính giúp lý trí thực tiễn
trong mọi hoàn cảnh nhận ra điều thiện đích thực
và chọn lựa những phương thế tốt để đạt
tới. "Người khôn ngoan thì đắn đo từng bước"
(Cn 14,15). "Anh em hãy sống
chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện
được" (1 Pr 4,7). Như Aristote, thánh Tô-ma cũng
viết: khôn ngoan là quy tắc đúng đắn để hành động.
Không nên lầm lẫn đức tính khôn ngoan với tính nhút
nhát và sợ sệt, tráo trở hay giả hình. Khôn
ngoan là người dẫn đường
cho các đức tính, hướng dẫn các đức tính khác bằng
cách vạch ra quy tắc và mức độ phải giữ. Đức
khôn ngoan trực tiếp hướng dẫn phán đoán của
lương tâm. Dựa theo phán đoán này, người khôn ngoan chọn cách
ứng xử của mình. Nhờ đức tính này, chúng
ta áp dụng đúng đắn các nguyên tắc luân lý vào từng
trường hợp cụ thể, và không còn do dự về
điều thiện phải làm và điều ác phải tránh. [Back]
1807
Công
bình là đức tính luân
lý thể hiện qua quyết tâm trả cho Thiên Chúa những
gì thuộc về Thiên Chúa và trả cho tha nhân những
gì thuộc về tha nhân. Công bình đối với
Thiên Chúa được gọi là nhân đức thờ phượng. Đối
với con người, công bình là tôn trọng quyền lợi
của mỗi người và sống hài hòa bằng cách đối
xử minh chính đối với mọi người và thực thi
công ích. Theo Kinh Thánh, người công chính sống ngay thẳng
trong mọi tư tưởng và cư xử chính trực với tha
nhân. "Các ngươi không được thiên vị người yếu thế,
cũng không được nể mặt người quyền
quý, nhưng hãy xét xử công minh cho đồng bào" (Lv 19,15). "Người làm chủ hãy đối xử
công bằng và đồng đều với các nô lệ, vì biết
rằng cả anh em nữa cũng có một Chủ trên trời" (Cl 4,1). [Back]
1808
Can đảm là đức tính luân lý giúp chúng ta kiên
trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa
những khó khăn trong đời. Đức can đảm giúp ta cương quyết
chống lại các cơn cám dỗ và vượt qua các chướng
ngại trong đời sống luân lý. Nhờ can đảm,
ta thắng được sợ hãi, ngay cả cái chết,
đương đầu với thử thách và bách hại, sẵn sàng hy
sinh mạng sống vì chính nghĩa. "Chúa là sức
mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi" (Tv 118,14). "Trong thế gian, anh em sẽ phải
gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng
thế gian" (Ga 16,33). [Back]
1809
Tiết độ là đức tính luân lý giúp ta điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng chừng mực những của cải trần thế. Tiết độ giúp ý chí làm chủ các bản năng và kềm chế các ham muốn trong giới hạn chính đáng. Người tiết độ hướng các thèm muốn giác quan về điều thiện và luôn thận trọng, "không chiều theo những đam mê của lòng mình" (Hc 5,2). Cựu Ước thường khen ngợi đức tiết độ: "Con đừng buông theo các tham vọng của con, nhưng hãy kềm chế các dục vọng" (Hc 18,30). Tân Ước gọi tiết độ là chừng mực hay điều độ, chúng ta phải sống "chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này" (Tt 2,12).
Sống tốt lành không gì khác hơn là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết sức lực mình. Chúng ta dành cho Người một tình yêu trọn vẹn (nhờ tiết độ), không gì lay chuyển nổi (nhờ can đảm), chỉ vâng phục một mình Người (nhờ công bình), luôn tỉnh thức để khỏi sa vào cạm bẩy của mưu mô và gian dối (nhờ khôn ngoan). [Back]
1810
Các đức tính và ân sủng
Ân sủng Thiên Chúa thanh luyện và nâng cao các đức tính mà con người có được nhờ giáo dục, nhờ các hành vi chủ ý và nhờ kiên trì tập luyện. Nhờ Thiên Chúa trợ giúp, các đức tính tôi luyện tính tình và giúp ta dễ dàng làm điều thiện. Người đức độ phấn khởi tập luyện các đức tính. [Back]
1811
Vì
bị tội lỗi làm tổn thương, con người khó giữ
được thế quân bình luân lý. Ơn cứu độ của
Đức Ki-tô đem lại cho chúng ta ân sủng cần thiết
để kiên tâm trau dồi các đức tính. Mỗi người phải
luôn cầu xin ơn soi sáng, cậy nhờ đến các bí tích, cộng
tác với Chúa Thánh Thần, nghe theo tiếng Người gọi
để yêu mến điều thiện và lánh xa điều ác. [Back]
Các nhân đức đối thần
Các đức tính nhân bản bắt nguồn từ những nhân đức đối thần. Nhân đức đối thần đem lại cho con người những khả năng thông phần bản tính Thiên Chúa (2 Pr 1,4). Vì quy chiếu trực tiếp về Thiên Chúa, các nhân đức đối thần giúp người Ki-tô hữu sống với Ba Ngôi Chí Thánh. Thiên Chúa Ba Ngôi và Duy Nhất là căn nguyên, động lực và đối tượng của nhân đức đối thần. [Back]
1813
Các nhân đức đối thần
là nền tảng, linh hồn và nét đặc thù của hoạt
động luân lý Ki-tô giáo. Chúng định hình và làm sinh
động mọi đức tính luân lý, Thiên Chúa ban các nhân đức
này cho tín hữu, để họ có khả năng hành động như
con cái Thiên Chúa và đáng hưởng sự sống muôn đời. Nhân
đức đối thần là bảo chứng Chúa Thánh Thần
hiện diện và tác động trong những năng lực của
con người. Có ba nhân đức đối thần: tin, cậy, mến. [Back]
1814
Đức tin
Đức tin là nhân đức đối thần, nhờ
đó chúng ta tin vào Thiên Chúa, tin tất cả những gì
Người nói và mặc khải cho chúng ta cũng như những
gì Hội Thánh dạy phải tin, vì Thiên Chúa là
chân lý. Trong đức tin, con người phó thác toàn thân cho
Thiên Chúa một cách tự do. "Người công chính nhờ đức
tin sẽ được sống" (Rm1,17). "Chỉ đức
tin hành động nhờ đức mến, mới có hiệu lực."
(Gl 5,6) [Back]
1815
Những người không phạm
tội nghịch với đức tin, đều có hồng ân đức
tin. "Đức tin không có hành động là đức tin chết"
(Gcb
2,26). Đức tin mà không có đức cậy
và đức mến, sẽ không kết hợp trọn vẹn
người tín hữu với Đức Ki-tô và không làm cho họ
trở nên chi thể sống động trong Thân Thể Người. [Back]
1816
Người môn đệ Đức
Ki-tô không những phải gìn giữ và sống đức
tin, nhưng còn tuyên xưng, can đảm làm chứng và truyền
bá đức tin: Mọi tín hữu phải sẵn sàng tuyên xưng
Đức Ki-tô trước mặt mọi người và bước theo
Người trên đường thập giá, giữa những cuộc
bách hại Hội Thánh không ngừng gặp phải. Việc
phục vụ và làm chứng cho đức tin cần thiết
cho ơn cứu độ. “Ai nhận Thầy
trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng nhận
người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự
trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt
thiên hạ thì Thầy cũng chối người ấy
trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 10,32-33) [Back]
1817
Đức cậy
Đức cậy là nhân đức đối thần,
nhờ đó, chúng ta khao khát Nước Trời và sự sống vĩnh
cửu như hạnh phúc đời mình, khi tin tưởng vào
các lời hứa của Đức Ki-tô và phó thác vào ơn trợ
lực của Chúa Thánh Thần chứ không dựa vào sức
mình. "Ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy
vọng của chúng ta cách vững vàng vì Đấng
đã hứa là Đấng trung tín" (Dt 10,23). "Thiên Chúa tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống
trên chúng ta, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Đấng Cứu Độ
chúng ta. Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng Đức
Ki-tô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời
đời như chúng ta vẫn hy vọng" (Tt 3, 6-7) [Back]
1818
Đức cậy đáp ứng
khát vọng hạnh phúc Thiên Chúa đã đặt trong
lòng mọi người, đảm nhận các niềm hy vọng
gợi hứng cho sinh hoạt của con người, thanh luyện
và quy hướng các hy vọng ấy về Nước Trời. Đức
cậy bảo vệ chúng ta khỏi thất vọng, nâng đỡ
khi ta bị bỏ rơi, giúp ta phấn khởi mong đợi hạnh
phúc muôn đời. Đức cậy giải thoát ta khỏi
lòng ích kỷ và đưa ta đến với hạnh phúc của
đức mến. [Back]
1819
Đức cậy Ki-tô giáo
tiếp nhận và kiện toàn niềm hy vọng của
Ít-ra-en. Niềm hy vọng này bắt nguồn và noi theo lòng trông cậy của
Áp-ra-ham. Tổ phụ Áp-ra-ham được mãn nguyện
vì Thiên Chúa thực hiện những lời hứa nơi
I-xa-ác, được thanh luyện qua việc thử thách hiến
tế I-xa-ác. "Mặc dầu không còn gì để
trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin; do đó, ông trở
thành tổ phụ nhiều dân tộc" (Rm 4,18). [Back]
1820
Đức cậy Ki-tô giáo
được triển khai ngay trong bài giảng đầu tiên của
Đức Giê-su về các mối phúc. Các mối
phúc hướng niềm hy vọng của chúng ta lên Thiên Quốc
như hướng về miền đất hứa mới, vạch
đường chỉ lối xuyên qua những thử thách đang chờ
đợi các môn đệ của Đức Giê-su. Nhờ công ơn và cuộc
khổ nạn của Đức Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa gìn giữ
chúng ta trong đức cậy: "Chúng ta sẽ không phải thất
vọng" (Rm 5,5). "Đối với
chúng ta, niềm hy vọng đó cũng tựa như cái neo chắc
chắn và bền vững của tâm hồn, để đi sâu vào
bên trong... nơi Đức Giê-su đã vào như người tiền
phong mở đường cho ta" (Dt 6,19-20). Đức cậy cũng là vũ khí bảo vệ
ta trong cuộc chiến để được cứu độ: "mặc
áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến
là niềm hy vọng ơn cứu độ" (1Tx 5,8). Đức cậy mang lại cho ta niềm vui,
ngay trong thử thách: "Hãy vui mừng vì có niềm
hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân ..." (Rm 12,12). Đức cậy được diễn tả và
nuôi dưỡng trong kinh nguyện, nhất là kinh Lạy Cha, bản
tóm lược tất cả những gì mà đức cậy
gợi lên trong ta. [Back]
1821
Do đó, chúng ta có thể hy vọng được hưởng vinh quang thiên quốc mà Thiên Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người và thực thi ý Người. Trong mọi hoàn cảnh, mỗi người phải hy vọng sẽ được ơn Thiên Chúa trợ giúp bền đỗ đến và được hưởng niềm vui thiên quốc như phần thưởng đời đời Thiên Chúa ban, vì các việc lành đã thực hiện nhờ ân sủng Đức Ki-tô. Với lòng trông cậy, Hội Thánh cầu nguyện cho "mọi người được cứu độ" (1Tm 2,4), Hội Thánh mong được kết hợp với Đức Ki-tô, Phu Quân của mình, trong vinh quang thiên quốc.
Hy vọng đi, hồn tôi hỡi, hãy hy
vọng! Bạn không biết ngày nào và giờ nào. Hãy tỉnh
thức, mọi sự qua đi nhanh chóng, vì quá nóng
lòng nên bạn hoài nghi điều chắc chắn và cảm
thấy quá dài khoảng thời gian vắn vỏi. Hãy
nhớ rằng, bạn càng chiến đấu, càng chứng tỏ
tình yêu đối với Thiên Chúa, và càng vui sướng hơn, một
ngày kia với Đấng lòng bạn yêu mến, trong niềm
hạnh phúc và say mê bất tận (T. Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, tự thuật 15,3). [Back]
1822
Đức mến
Đức mến là nhân đức đối thần, nhờ đó, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Chúa, và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người thân cận như chính mình. [Back]
1823
Đức Giê-su đặt đức
mến làm lời
truyền dạy mới (Ga 13,34). Khi yêu mến
những kẻ thuộc về Người "đến
cùng" (Ga 13, 1), Người biểu lộ tình yêu Người
đã nhận được từ Chúa Cha. Khi yêu thương nhau, các môn
đệ noi gương Đức Giê-su, Đấng đã yêu mến họ.
Vì thế, Đức Giê-su nói: "Chúa Cha đã yêu mến
Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.
Anh em hãy ở trong tình yêu của Thầy" (Ga 15, 9). " Đây là điều răn của Thầy: Anh
em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em"
(Ga 15,12). [Back]
1824
Đức mến là hoa trái
của Thánh Thần và là sự viên mãn của lề luật.
Yêu mến là giữ các
lệnh truyền của Thiên Chúa và của Đức
Ki-tô: "Hãy ở trong tình thương của Thầy.
Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, thì
anh em sẽ ở trong tình thương của Thầy" (Ga 15,9-10)
[Back]
1825
Đức Ki-tô đã chịu chết vì yêu mến chúng ta, ngay lúc chúng ta còn là "thù nghịch" với Thiên Chúa (Rm 5,10). Chúa đòi ta yêu thương như Người, yêu cả những kẻ thù nghịch, thân cận với những người xa lạ, yêu mến trẻ em và người nghèo như chính Người (Mt 25,40-45).
Thánh tông đồ Phao-lô liệt kê một loạt các đặc điểm của đức mến: "Đức mến thì nhẫn nhục, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả" (1Cr 13,4-7). [Back]
1826
Thánh tông đồ còn
nói: "không có đức mến, tôi cũng chẳng là
gì...". Tất cả những đặc ân, công việc
phục vụ hay nhân đức mà "không có đức mến,
thì cũng chẳng ích gì cho tôi" (1 Cr 13,1-4).
Đức mến cao trọng hơn mọi
đức tính, đứng đầu các nhân đức đối thần.
"Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả
ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến" (1Cr 13,13).
[Back]
1827
Đức mến gợi hứng
và thúc đẩy việc tập luyện mọi đức tính. Đức
mến là "mối dây liên kết tuyệt hảo" (Cl 3,14); là mô
thể của các đức tính; liên kết và phối hợp
các đức tính; là nguồn mạch và cùng đích của việc
thực hành các đức tính trong đời sống ki-tô hữu.
Đức mến bảo đảm thanh luyện và nâng khả
năng yêu thương của con người lên mức hoàn thiện siêu
nhiên, trở thành tình yêu thiêng liêng. [Back]
1828
Đời sống luân lý được sinh động
nhờ đức mến mới đem lại cho người Ki-tô hữu
sự tự do thiêng liêng của con cái Thiên Chúa. Trong tương
quan với Thiên Chúa, Ki-tô hữu không còn là kẻ nô lệ
sống trong sợ hãi hay người làm công ăn lương, nhưng
là người con đáp lại tình thương của "Đấng
đã yêu thương chúng ta trước" (1Ga 4,19). [Back]
Nếu xa lánh sự dữ vì sợ bị phạt, chúng ta sống như tên nô lệ. Nếu chạy theo phần thưởng, chúng ta khác nào kẻ làm thuê. Nếu chúng ta tuân phục vì chính sự thiện và vì yêu mến Đấng ban hành lề luật, chúng ta mới thực sự là con. [Back]
1829
Hoa trái của đức mến là niềm vui,
bình an và lòng thương xót. Đức mến đòi buộc
ta phải làm điều thiện và sửa lỗi huynh đệ.
Đức mến là tử tế, bất vụ lợi và hào
phóng, là tình thân và sự hiệp thông: Tột đỉnh của
mọi công việc là tình thương. Đó là mức đến mà
chúng ta cố gắng chạy tới, và khi tới đích, chúng
ta sẽ nghỉ ngơi trong tình yêu (T.Augustinô, thư Gio-an 10,4). [Back]
Hồng ân vả hoa trái của Thánh
Thần
Chúa Thánh Thần ban các hồng ân nâng đỡ đời sống luân lý của tín hữu. Các hồng ân này là những xu hướng bền vững giúp con người dễ dàng sống theo Thánh Thần. [Back]
1831
Bảy hồng ân Chúa Thánh Thần là: ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn dũng cảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn kính sợ Chúa. Các ơn này được Thánh Thần ban xuống tràn đầy nơi Đấng Mê-si-a, Con Vua Đa-vít; bổ túc và hoàn thiện các đức tính nơi người lãnh nhận; làm cho tín hữu dễ dàng và mau mắn tuân theo các điều Thiên Chúa soi sáng.
"Xin Thần Khí tốt lành của Chúa dẫn
con đi trên miền đất phẳng phiu" (TV 143,10).
"Ai được Thánh Thần Thiên Chúa hướng
dẫn đều là con cái Thiên Chúa ... Đã là con thì cũng
là thừa kế; mà Thiên Chúa cho thừa kế, tức là đồng
thừa kế với Đức Ki-tô" (Rm 8, 14.17). [Back]
1832
Các hoa trái của Thánh Thần là những điều
thiện hảo Thánh Thần ban cho chúng ta như hoa quả đầu
mùa của vinh quang vĩnh cửu. Truyền thống Hội
Thánh kể ra mười hai hoa trái của Thánh Thần "Bác
ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương
thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết
độ và thanh khiết" (Gl 5,22-23). [Back]
1833
Tóm
lược
Đức
tính là những xu hướng bền vững và kiên định để
làm điều thiện. [Back]
1834
Các đức
tính nhân bản là những xu hướng bền vững của
lý trí và của ý chí, để điều chỉnh các
hành vi, điều tiết các đam mê và hướng dẫn cách ăn nết
ở theo lý trí và đức tin. Có bốn đức tính
"căn bản", quy tụ các đức tính khác, là : khôn
ngoan, công bình, can đảm và tiết độ. [Back]
1835
Đức
khôn ngoan giúp lý trí thực tiễn nhận ra điều
thiện đích thực trong mọi hoàn cảnh và lựa chọn
những phương thế tốt để đạt tới. [Back]
1836
Đức
công bình thể hiện qua quyết tâm trả cho Thiên
Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa và trả cho tha
nhân những gì thuộc về tha nhân. [Back]
1837
Đức
can đảm giúp chúng ta kiên trì quyết tâm theo đuổi điều
thiện giữa những khó khăn trong đời. [Back]
1838
Đức
tiết độ giúp ta điều tiết sức lôi cuốn của
những lạc thú và sử dụng chừng mực những
của cải trần thế. [Back]
1839
Các đức
tính luân lý tăng trưởng nhờ giáo dục, nhờ các
hành vi chủ ý và nhờ kiên trì tập luyện.
Nhờ ân sủng Thiên Chúa các đức tính được thanh luyện
và nâng cao. [Back]
1840
Các
nhân đức đối thần giúp người ki-tô hữu sống
với Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa là căn nguyên và đối tượng
của nhân đức đối thần : Đấng được nhận
biết nhờ đức tin, được cậy trông và yêu mến
vì chính Người. [Back]
1841
Có ba
nhân đức đối thần là đức tin, đức cậy và đức
mến. Ba nhân đức này định hình và làm sinh động
mọi đức tính luân lý. [Back]
1842
Nhờ
đức tin chúng ta tin vào Thiên Chúa và tin tất cả những
điều Người đã mặc khải cũng như những
gì Hội Thánh dạy phải tin. [Back]
1843
Nhờ
đức cậy, chúng ta khao khát và chờ mong với xác tín rằng
Thiên Chúa sẽ ban cho ta sự sống vĩnh cửu và các
ân sủng để ta xứng đáng hưởng sự sống đó. [Back]
1844
Nhờ
đức mến, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi
sự và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người
thân cận như chính bản thân. Đức mến là "mối
dây liên kết tuyệt hảo" (Cl
3,14) và là mô thể
của mọi đức tính. [Back]
1845
Bảy
ơn Thánh Thần ban cho tín hữu là ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn
biết lo liệu, ơn dũng cảm, ơn hiểu biết, ơn
đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa. [Back]
Tội lỗi
Lòng thương xót người tội lỗi
Tin Mừng là mặc khải được thực hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô, về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân. Thiên thần loan báo cho Thánh Giu-se: "Ông phải đặt tên con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội lỗi" (Mt 1, 21). Đức Giê-su cũng nói về bí tích Thánh Thể, bí tích cứu chuộc. "Đây là máu Thầy, máu giao ước, sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội" (Mt 26,28). [Back]
1847
Thiên Chúa đã tạo dựng
chúng ta không cần có chúng ta cộng tác; nhưng Người
đã không muốn cứu độ chúng ta mà không có chúng ta góp
phần. Để đón nhận lòng thương xót của Người
chúng ta cần thú nhận tội lỗi. "Nếu chúng ta
nói là chúng ta không có tội, thì chúng ta tự lừa dối
mình, và sự thật không ở trong chúng ta. Nếu
chúng ta thú nhận tội lỗi mình, thì Thiên Chúa
là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta và
thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính (1Ga 1, 8-9). [Back]
1848
Thánh Phao-lô quả quyết: "Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội". Thiên Chúa ban ân sủng để vạch trần tội lỗi nhằm hoán cải lòng ta và "làm cho ta nên công chính, để được sống đời đời nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta" (Rm 5,20-21). Như bác sĩ xem xét vết thương trước khi băng bó, Thiên Chúa dùng lời và Thánh Thần giúp chúng ta thấy rõ tội lỗi:
Hoán cải đòi hỏi tội nhân phải ý thức rõ về tội lỗi của mình; do đó bao hàm một phán quyết từ bên trong của lương tâm. Phán quyết này là bằng chứng Thánh Thần chân lý hoạt động trong tâm hồn con người và cũng là khởi điểm để Thiên Chúa ban lại ân sủng và tình yêu: "Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần". Như thế trong việc ý thức tội lỗi, chúng ta nhận ra một hồng ân kép: ơn giúp lương tâm nhận biết chân lý, ơn giúp chúng ta tin chắc được ơn cứu chuộc. Thánh Thần chân lý cũng là Đấng an ủi (DV 31). [Back]
1849
Định nghĩa tội lỗi
Tội là lỗi phạm đến lý trí, chân lý, lương tâm ngay chính, là thiếu tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân, vì quyến luyến lệch lạc với thụ tạo. Tội làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới giữa nhân loại. Vì thế, tội được định nghĩa như: Một lời nói, một hành vi, một ước muốn trái với lề luật vĩnh cửu. [Back]
1850
Tội là xúc phạm đến
Thiên Chúa."Con đã xúc phạm đến Chúa, đến một
mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài" (Tv 51,6). Tội chống lại tình yêu của
Thiên Chúa đối với chúng ta và khiến lòng ta xa lánh
Người. Cũng như đầu tiên tội là một sự bất
tuân, một sự nổi loạn chống Thiên Chúa, lại
muốn trở nên như những vị thần biết và quyết
định điều thiện, điều ác, (St 3, 5). Như thế, tội là yêu mình đến mức
khinh thị Thiên Chúa. Vì kiêu căng tự cao tự đại,
tội hoàn toàn trái ngược với thái độ vâng phục của
Đức Giê-su, Đấng thực hiện ơn cứu độ. [Back]
1851
Chính trong cuộc khổ
nạn, khi lòng thương xót của Đức Ki-tô chiến thắng
tội lỗi, mà tội lỗi lộ rõ nhất tính
hung bạo và đa dạng của nó : các thủ lãnh và dân
chúng cứng lòng tin, căm thù, chối bỏ và nhạo
báng Người; Phi-la-tô hèn nhát; quân lính tàn bạo; Giu-đa phản
bội, gây đau đớn cho Chúa Giê-su; Phê-rô chối Thầy và
các tông đồ bỏ trốn. Tuy nhiên, chính vào giờ của
bóng tối và thủ lãnh thế gian này có vẻ thắng
thế, Đức Ki-tô đã tự hiến và âm thầm trở
nên nguồn mạch vô tận thông ban ơn tha tội cho chúng
ta. [Back]
Các thứ tội khác nhau
Tội lỗi rất đa dạng. Thánh Kinh nhiều lần liệt kê các thứ tội. Thư Ga-lát đối nghịch các công việc của xác thịt với hoa trái của Thánh Thần. "Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôm, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho anh em, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa" (Gl 5,19-21; x. Rm 1,28-32). [Back]
1853
Chúng ta có thể phân biệt
tội lỗi theo đối tượng, như đối với các hành
vi nhân linh, hoặc theo các nhân đức mà chúng đối nghịch
cách thái quá hay bất cập, hoặc theo các điều răn mà
chúng vi phạm. Chúng ta cũng có thể phân loại tội
lỗi dựa theo tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân hoặc
với chính bản thân; "Vì tự lòng phát xuất
những ý định gian tà, những tội giết người,
ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và
vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế"
(Mt
15,19-20). Nhưng trong lòng con người
cũng còn có đức mến, nguồn gốc của
các việc lành và thanh sạch, dù đức mến cũng bị
tội làm tổn thương. [Back]
1854
Mức độ nặng nhẹ của tội lỗi:
Tội trọng và tội nhẹ
Tội được đánh giá theo mức độ nghiêm trọng. Kinh nghiệm của con người cũng xác nhận điều này. Truyền thống Hội Thánh nhận cách phân biệt tội trọng và tội nhẹ như đã có trong Thánh Kinh. Kinh nghiệm con người xác nhận điều này. [Back]
1855
Tội trọng phá hủy đức mến trong lòng con người do vi phạm nghiêm trọng luật Thiên Chúa. Khi phạm tội, con người quay lưng với Thiên Chúa là cùng đích và chân phúc của mình, bằng cách yêu chuộng một thụ tạo thấp kém hơn. Tội nhẹ không phá hủy nhưng xúc phạm và gây tổn thương đức mến.
1856
Tội trọng đánh vào nguyên lý sống còn trong chúng ta là đức mến, nên cần đến một sáng kiến của Thiên Chúa giàu lòng xót thương và một cuộc hoán cải nội tâm trong bí tích Giao Hòa.
Khi ý chí hướng về một điều nghịch lại với đức mến là nhân đức quy hướng ta về cùng đích, thì do đối tượng, tội này là tội trọng khi nghịch với lòng mến Chúa, như lộng ngôn, bội thề,v.v... hay nghịch với lòng yêu người, như sát nhân, ngoại tình, v.v... Ngược lại, khi ý chí của tội nhân đôi khi hướng chiều về một điều tự nó là một sự vô trật tự nhưng không nghịch với lòng mến Chúa yêu người, thí dụ như ăn nói bừa bãi, cười cợt lố lăng v.v... Đó là những tội nhẹ. [Back]
1857
Một tội được coi
là trọng khi hội đủ ba điều kiện: Phạm
một lỗi nặng, với đầy đủ ý thức
và cố tình.
1858
Lỗi nặng được xác định
trong Mười Điều Răn, như Đức Giê-su trả lời người
thanh niên giàu có: "Chớ giết người, chớ ngoại
tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ
làm hại ai, hãy thảo kính cha mẹ" (Mc 10,19). Tội có thể nặng hoặc nhẹ:
tội giết người nặng hơn trộm cắp. Phải
xét đến cả phẩm giá của những người bị
xúc phạm: tội hành hung cha mẹ nặng hơn tội hành
hung một người lạ. [Back]
1859
Tội trọng đòi
phải có nhận
thức đầy đủ và hoàn toàn ưng thuận. Điều
này giả thiết người phạm tội phải biết
hành vi đó là tội, trái với luật Thiên Chúa. Tội trọng
bao hàm một sự ưng thuận có suy nghĩ cặn kẽ
để trở thành một lựa chọn cá nhân. Việc thiếu
hiểu biết do lỗi mình và lòng chai đá không làm
giảm bớt, mà còn gia tăng tính cách cố tình của
tội lỗi. [Back]
1860
Nếu thiếu hiểu biết ngoài ý
muốn, người phạm lỗi nặng có thể được
giảm hoặc miễn trách nhiệm. Nhưng không ai được
coi là không biết đến những nguyên tắc của luân
lý đã được ghi khắc trong lương tâm mỗi người.
Các thúc đẩy của bản năng, các đam mê, các áp lực bên
ngoài, hoặc những rối loạn do bệnh tật, cũng
có thể làm cho hành vi phạm lỗi bớt tính cách tự
ý và tự do. Nặng nhất là tội phạm do ác
tâm, vì chủ ý lựa chọn điều xấu. [Back]
1861
Cũng như tình yêu, tội trọng là một chọn
lựa triệt để của tự do con người. Khi phạm
tội trọng, con người đánh mất đức mến, tự
tước bỏ ơn thánh hóa, tức là tình trạng ân sủng.
Nếu tội trọng không được chuộc lại bằng
việc hối cải của tội nhân và bằng ơn tha thứ
của Thiên Chúa, người mắc tội trọng sẽ bị
loại khỏi vương quốc của Đức Ki-tô và bị án
phạt đời đời trong hỏa ngục, vì tự
do của chúng ta có khả năng thực hiện những lựa
chọn vĩnh viễn, không đảo ngược được. Tuy
nhiên, nếu chúng ta có thể phán đoán một hành vi là lỗi
nặng, chúng ta vẫn phải dành quyền phán xét người
đó cho Thiên Chúa công bình và giàu lòng thương xót. [Back]
1862
Chúng ta phạm tội nhẹ khi vi phạm luật luân lý trong điều nhẹ, hay lỗi điều nặng nhưng không hoàn toàn hiểu biết hay ưng thuận.
1863
Tội nhẹ làm suy yếu đức mến, cho thấy lòng quyến luyến lệch lạc của cải trần thế, ngăn cản chúng ta tiến triển trong việc thực hành các đức tính và điều thiện. Người phạm tội nhẹ đáng chịu những hình phạt hữu hạn. Ai cố tình phạm tội nhẹ và không sám hối sẽ đi dần đến chỗ phạm tội trọng. Tuy nhiên, người phạm tội nhẹ không cắt đứt giao ước với Thiên Chúa, với ân sủng Thiên Chúa trợ giúp, con người có thể điều chỉnh lại tình trạng này. Tội nhẹ không làm mất ơn thánh hóa hay ơn thần hóa và đức mến, nên cũng không làm mất phúc thật vĩnh cửu.
Bao lâu con người còn mang thân xác, thì không thể tránh được mọi tội, ít là các tội nhẹ. Nhưng các tội mà ta gọi là nhẹ, bạn chớ xem nó như vô hại: nếu bạn coi chúng như vô hại khi bạn cân nhắc chúng, thì bạn hãy run sợ khi bạn đếm chúng. Nhiều vật nhỏ hợp thành một khối to, nhiều giọt nước làm đầy một con sông, nhiều hạt lúa làm thành một đụn. Vậy thì còn hy vọng gì? Trước hết đi xưng tội đã...(T. Âu-Tinh, Thư Gio-an). [Back]
1864
"Mọi tội, kể cả tội nói phạm
thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ
tội nói phạm thượng
đến Thần Khí sẽ chẳng được tha" (Mt 12, 31). Lòng Thiên Chúa thương xót không có giới
hạn, nhưng ai cố tình không hối cải và khước
từ lòng Thiên Chúa thương xót thì cũng khước từ
sự tha tội và ơn cứu độ do Chúa Thánh Thần ban
cho. Lòng chai dạ đá như thế có thể đưa tới chỗ
không hối cải trong giờ sau hết và phải hư mất
đời đời. [Back]
Tội lỗi sinh sôi nảy nở
Đã phạm tội một lần, người ta bị lôi cuốn phạm tội nữa. Những hành vi xấu được lặp đi lặp lại sinh ra thói xấu. Hậu quả là con người nghiêng chiều về điều ác, mờ tối lương tâm và lệch lạc trong việc đánh giá cụ thể điều lành và điều dữ. Như thế tội lỗi sinh sôi nảy nở thêm lên, nhưng không thể phá hủy hoàn toàn cảm thức luân lý. [Back]
1866
Các thói xấu có thể
được xếp loại dựa theo các nhân đức mà chúng đối
nghịch hay theo các mối tội đầu như bản liệt kê của thánh Gio-an
Ca-si-a-nô và Grê-gô-ri-ô Cả. Được gọi là các mối tội
đầu vì chúng sinh ra những tội khác, những thói
xấu khác. Các mối tội đầu là: kiêu ngạo, hà tiện,
mê dâm dục, ghen ghét, hờn giận, mê ăn uống, làm biếng. [Back]
1867
Truyền thống huấn
giáo cũng nhắc đến các thứ tội kêu thấu đến trời. Đó là: máu của
A-ben, tội của dân Sô-đô-ma; tiếng kêu than của dân bị
áp bức ở Ai Cập; tiếng than van của người
ngoại kiều cư trú trên đất nước, của các cô nhi
quả phụ; người làm thuê bị đối xử bất
công. [Back]
1868
Tội là một hành vi
cá nhân. Ngoài ra, chúng ta còn có trách nhiệm mang các tội
do những người khác phạm, khi chúng ta cộng tác vào đó, bằng
cách:
- tham gia cách trực tiếp và cố tình;
- ra lệnh, xúi giục hoặc tán thành;
- che đậy, hoặc không ngăn cản, khi có bổn phận
phải can ngăn;
- bao che những người làm điều ác. [Back]
1869
Tội làm cho con người
trở thành đồng lõa với nhau, và để cho dục
vọng, bạo lực, bất công thống trị. Tội
lỗi tạo nên những tình trạng xã hội
và những định chế nghịch lại với
lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Các tổ chức tội
ác vừa biểu lộ vừa là hậu quả của các
tội cá nhân. Chúng xúi giục các nạn nhân cùng phạm tội.
Hiểu nghĩa loại suy, có thể gọi chúng là tội
xã hội, tội tập thể. [Back]
1870
Tóm
lược
"Thiên Chúa đã giam hãm mọi
người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi
người" (Rm 11, 32). [Back]
1871
Tội là một lời nói, một
hành vi hoặc ước muốn trái với lề luật vĩnh
cửu. Tội là xúc phạm đến Thiên Chúa. Ai phạm tội
là chống lại Thiên Chúa qua một hành vi bất tuân trái
ngược với thái độ vâng phục của Đức Ki-tô. [Back]
1872
Tội
là một hành vi nghịch với lý trí, làm tổn thương
bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới
giữa nhân loại. [Back]
1873
Nguồn
gốc của mọi tội lỗi phát xuất từ
lòng con người. Các loại tội và mức độ
nghiêm trọng được xem xét chủ yếu theo đối tượng
của tội. [Back]
1874
Con
người phạm tội trong khi chủ ý lựa chọn,
nghĩa là biết rõ và muốn một sự việc
trái với lề luật Thiên Chúa và với cùng đích tối
hậu của con người một cách nghiêm trọng. Tội
trọng phá hủy đức mến là nhân đức cần thiết
để được hưởng phúc thật vĩnh cửu. Ai phạm
tội trọng mà không sám hối, sẽ phải chết đời
đời. [Back]
1875
Tội
nhẹ gây nên một xáo trộn luân lý. Điều này có thể
được sửa chữa nhờ đức mến vẫn
còn tồn tại trong ta. [Back]
1876
Phạm
đi phạm lại các tội, dù là tội nhẹ, người
ta sẽ rơi vào những thói xấu, trong đó có các mối tội
đầu. [Back]
Cộng đồng nhân loại
Ơn gọi của nhân loại là biểu hiện hình ảnh của Thiên Chúa và được biến đổi theo hình ảnh Người Con duy nhất của Chúa Cha. Ơn gọi này vừa được ban cho từng cá nhân, vì mỗi người đều được mời gọi vào hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa, vừa được ban cho toàn thể cộng đồng nhân loại. [Back]
1878
Con người và xã hội
Tinh cách cộng đồng của ơn gọi
làm người
Tất cả mọi người đều được mời gọi tiến đến cùng đích là chính Thiên Chúa. Có một sự tương đồng nào đó giữa sự hiệp nhất Ba Ngôi Thiên Chúa và tình huynh đệ mà loài người phải kiến tạo cho nhau trong chân lý và tình yêu. Yêu người không thể tách rời khỏi mến Chúa. [Back]
1879
Con người cần đến
đời sống xã hội. Đời sống này không phải
là một cái gì được thêm vào nhưng là một đòi hỏi
của bản tính con người. Nhờ trao đổi với
người khác, nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ đối
thoại với anh em, con người phát triển các tiềm
năng; nhờ đó họ đáp lại ơn gọi của mình (GS 25,1). [Back]
1880
Xã hội là tập thể những
người sống liên kết với nhau cách hữu cơ theo một
nguyên lý hợp nhất, vượt lên trên từng cá nhân.
Là một cộng đồng vừa hữu hình, vừa
thiêng liêng, xã hội tồn tại mãi: tiếp nhận
dĩ vãng và chuẩn bị tương lai. Nhờ xã hội,
mỗi người trở thành người thừa tự,
lãnh nhận các nén bạc để làm giàu căn tính mình
và phải phát triển các nén bạc ấy. Mỗi người
phải đóng góp cho các cộng đồng mà mình là thành viên,
và phải tôn trọng các người cầm quyền có trách
nhiệm mưu cầu công ích. [Back]
1881
Mỗi cộng đồng
được định nghĩa theo mục đích của nó; do đó, phải
tuân theo những quy tắc đặc thù, nhưng nhân vị con người chính là
và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của
mọi định chế xã hội. [Back]
1882
Có những mối liên hệ
xã hội đáp ứng trực tiếp được bản
tính sâu xa của con người, đó là gia đình và nhà nước.
Chúng cần thiết cho con người. Để đa số có thể
tham gia đời sống xã hội, nên khuyến khích thành
lập các hiệp hội và những tổ chức "nhằm
các mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao,
giải trí, nghề nghiệp, chính trị trên
bình diện quốc gia cũng như quốc tế. Công
cuộc xã hội
hóa này đặt nền tảng trên xu hướng tự
nhiên thúc đẩy con người hợp tác với nhau, để đạt
tới những mục tiêu vượt quá khả năng của từng
người. Công cuộc này giúp phát triển các đức tính của
con người, nhất là óc sáng kiến và tinh thần trách nhiệm,
cũng như giúp bảo đảm các quyền của con người. [Back]
1883
Công cuộc xã hội
hóa cũng kèm theo những nguy hiểm. Sự can thiệp
quá đáng của Nhà Nước có thể đe dọa tự do và sáng
kiến cá nhân. Hội Thánh đề ra nguyên tắc hỗ trợ: một tập
thể cấp cao không được can thiệp vào nội bộ
tập thể cấp thấp đến độ tước mất
các thẩm quyền của nó, nhưng đúng hơn phải nâng đỡ
nó khi cần thiết, và giúp nó phối hợp hoạt động
với những tập thể khác, để mưu cầu công
ích. [Back]
1884
Thiên Chúa không muốn dành
cho riêng mình việc thực thi mọi quyền hành. Người
trao lại cho mỗi thụ tạo những phận vụ
nó có thể thi hành theo khả năng của bản tính riêng.
Xã hội loài người phải bắt chước cách
lãnh đạo này. Cách Thiên Chúa cai trị thế giới
cho thấy Người rất tôn trọng quyền tự do của
con người. Đó phải là đường hướng chỉ đạo
cho những ai cầm quyền trong các cộng đồng nhân
loại. Họ phải xử sự như những thừa
tác viên của Chúa quan phòng. [Back]
1885
Nguyên tắc bổ trợ
nghịch với mọi hình thức duy tập thể,
xác định giới hạn cho việc can thiệp của
Nhà Nước, hòa hợp các tương quan giữa cá nhân và
xã hội, hướng tới việc thiết lập một
trật tự quốc tế đích thực. [Back]
Hoán cải và xã hội
Con người cần đến xã hội để thực hiện ơn gọi làm người. Để đạt tới mục tiêu này, cần phải tôn trọng bậc thang đúng đắn của các giá trị: các chiều kích thể lý và bản năng phải lệ thuộc các chiều kích nội tâm và thiêng liêng.
Đời sống xã hội trước hết phải được coi là một thực tại tinh thần. Thực tại này bao gồm việc trao đổi các kiến thức trong ánh sáng chân lý. Thực thi các quyền và chu toàn các bổn phận, cùng nhau tìm hiểu sự thiện hảo luân lý, chung hưởng cái đẹp thanh cao dưới mọi hình thức chính đáng, luôn sẵn sàng chia sẻ cho tha nhân những gì tốt đẹp nhất của mình và mong ước cho nhau được ngày càng phong phú về mặt tinh thần. Đây là những giá trị phải nuôi dưỡng và định hướng cho những sinh hoạt văn hóa, kinh tế, tổ chức xã hội, các phong trào và các thể chế chính trị, pháp luật và mọi sinh hoạt khác nữa của đời sống xã hội trong tiến trình chuyển biến không ngừng của nó. [Back]
1887
Việc lẫn lộn
giữa phương tiện và mục đích dẫn tới
việc coi phương tiện như cùng đích tối hậu, hay xem những
con người chỉ là phương tiện để đạt mục
đích. Điều này tạo ra những cơ cấu bất công làm
cho người Ki-tô hữu gặp khó khăn hay không thể sống
phù hợp với các giới răn của Đấng Lập Luật
Thần Linh. [Back]
1888
Để đạt được những
cải tổ giúp xã hội thực sự phục vụ
con người, chúng ta cần nhờ đến các khả năng tinh
thần và luân lý của con người và việc thường
xuyên hoán cải nội
tâm. Việc hoán cải nội tâm chiếm vị trí
ưu tiên. Điều này không loại trừ, mà trái lại, càng củng
cố trách nhiệm phải lành mạnh hóa các cơ chế và
điều kiện sống khi chúng gây nên dịp tội, để
chúng phù hợp với tiêu chuẩn của công bình và
giúp phát huy điều thiện thay vì ngăn trở. [Back]
1889
Không
có ân sủng trợ lực, con người không thể khám phá
ra con đường thường là nhỏ hẹp, giữa việc
hèn nhát nhượng bộ sự dữ và việc dùng bạo lực
để đấu tranh nhưng lại làm cho sự dữ thêm trầm
trọng. Đó là con đường đức mến, yêu Chúa và yêu người.
Đức mến là điều răn mang tính xã hội cao nhất.
Đức mến tôn trọng tha nhân và các quyền lợi của
họ, đòi buộc thực thi công bình mà chỉ có
đức mến mới giúp ta thực hiện được. Đức
mến thúc đẩy chúng ta sống dấn thân: "Ai
tìm cách giữ mạng sống mình thì sẽ
mất, còn ai liều mất mạng sống
mình, thì sẽ bảo tồn được mạng sống"
(Lc 17, 33).
1890
Tóm
lược
Có một
sự tương đồng nào đó giữa sự hiệp nhất của
Chúa Ba Ngôi với tình huynh đệ mà loài người phải
kiến tạo cho nhau. [Back]
1891
Con
người cần đến đời sống xã hội để
tự phát triển theo đúng bản tính. Có những mối
liên hệ xã hội như gia đình và Nhà Nước, đáp ứng
trực tiếp được bản tính con người. [Back]
1892
Nhân
vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu
cánh của mọi định chế xã hội.
1893
Nên khuyến khích mọi người tích cực tham gia các hiệp hội và các tổ chức.
1894
Theo
nguyên tắc bổ trợ, Nhà Nước hay một tập thể
lớn, không có quyền lấn át sáng kiến và trách nhiệm
của những cá nhân và các tổ chức nhỏ. [Back]
1895
Xã hội không được gây trở ngại, nhưng phải giúp con người thực thi những điều thiện hảo. Vì thế, xã hội phải tôn trọng bậc thang đúng đắn của các giá trị.
Tội lỗi càng làm băng hoại
xã hội, con người cần phải hoán cải nội
tâm và nhờ đến ân sủng của Thiên Chúa. Đức mến
thúc đẩy thực hiện những cuộc cải tổ
chính đáng. Không có giải đáp nào cho các vấn đề xã hội
ngoài Tin Mừng Chúa Giê-su. [Back]
1896
Tội lỗi càng làm băng hoại
xã hội, con người cần phải hoán cải nội
tâm và nhờ đến ân sủng của Thiên Chúa. Đức mến
thúc đẩy thực hiện những cuộc cải tổ
chính đáng. Không có giải đáp nào cho các vấn đề xã hội
ngoài Tin Mừng Chúa Giê-su. [Back]
Tham dự vào sinh hoạt xã hội
Quyền bính
Xã hội loài người sẽ không có trật tự và phồn vinh nếu thiếu những người cầm quyền hợp pháp để bảo tồn các định chế và phục vụ công ích một cách đầy đủ. Quyền bính là đặc tính của những con người, hay định chế, nhờ đó, họ ban hành lề luật và mệnh lệnh cho con người, và buộc phải tuân phục. [Back]
1898
Mọi cộng đoàn nhân
loại đều cần có một quyền bính để quản
trị nó. Quyền bính này đặt nền tảng trên bản
tính con người. Quyền bính cần thiết để tạo
ra sự thống nhất cho cộng đoàn. Vai trò của
nó là bảo đảm tối đa cho công ích xã hội. [Back]
1899
Quyền bính, theo trật
tự luân lý đòi hỏi, phát xuất từ Thiên
Chúa: "Mỗi người phải phục tùng
chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi
Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên
Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền
bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ
nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt." (Rm
13,1-2) [Back]
1900
Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp; đối với những người đang thi hành công vụ, phải tôn trọng và tùy công trạng của họ mà tỏ lòng biết ơn và quí mến. Hội Thánh còn giữ được bản kinh của thánh Giáo Hoàng Clê-men-tê thành Rô-ma cầu cho chính quyền:
"Lạy Chúa, xin ban cho họ sức khỏe, bình an, hòa thuận và ổn định, để họ thực thi đúng đắn quyền hành Chúa đã trao cho họ. Lạy Chúa là Chủ tể, là Vua trời vĩnh cửu, chính Chúa ban cho con cái loài người vinh quang, danh dự và quyền lực trên mọi vật trần thế. Xin Chúa hướng dẫn những dự định của họ theo điều thiện hảo, theo những gì hợp ý Ngài, để khi thi hành nhiệm vụ mà Ngài đã trao cho, với lòng đạo đức, trong an bình và quảng đại, họ nhận được ơn Ngài phù hộ" (Clémente de Rome, Cor 61,1-2). [Back]
1901
Có quyền bính là do Thiên Chúa an bài, nhưng việc định đoạt những thể chế chính trị hay cắt cử người cầm quyền, vẫn là quyền tự do của mọi công dân. Về mặt luân lý, các thể chế chính trị có thể khác nhau, miễn sao các thể chế này mang lại lợi ích chính đáng cho cộng đoàn đã thừa nhận chúng. Các thể chế có bản chất trái ngược với luật tự nhiên, với trật tự công cộng và các quyền căn bản của con người, thì không thể đem lại công ích cho những quốc gia đang theo thể chế đó. [Back]
1902
Về mặt luân lý, không phải người cầm quyền làm gì cũng hợp pháp. Họ không được xử sự cách chuyên chế, nhưng phải hành động cho công ích vì quyền bính là một sức mạnh tinh thần đặt nền tảng trên tự do và ý thức trách nhiệm: Luật pháp của loài người chỉ là luật khi phù hợp với lẽ phải; có hiệu lực là nhờ luật vĩnh cữu; khi xa lìa lẽ phải, nó không còn là luật nữa, nhưng là một sự bất công, thậm chí chỉ là một hình thức bạo lực (T.Tô-ma A-qui-nô, Tổng Luận Thần Học 1-2,93,3.2). [Back]
1903
Quyền bính chỉ được
hành xử hợp pháp khi mưu cầu công ích cho tập thể
liên hệ và đạt tới mục đích ấy bằng các
phương thế mà luân lý cho phép. Nếu các nhà lãnh đạo
đưa ra những luật bất công hay sử dụng những
biện pháp trái luân lý, lương tâm không buộc phải tuân
theo. Trong trường hợp này, quyền bính không còn là
quyền bính nữa mà thoái hóa thành áp bức. [Back]
1904
Tốt nhất là mọi
quyền lực đều giữ thế quân bình nhờ
những quyền lực và những cơ quan hữu trách khác để
giữ nó trong giới hạn chính đáng. Đó là nguyên tắc Nhà
Nước pháp quyền; theo đó luật pháp chi phối tất cả
chứ không phải ý muốn độc đoán của một
số người. [Back]
Công ích
Con người có tính xã hội, nên lợi ích cá nhân phải đặt trong tương quan với lợi ích chung. Lợi ích chung chỉ có thể được xác định trong tương quan với nhân vị: Các bạn đừng sống riêng lẻ hay khép kín, như thể các bạn đã được công chính hóa rồi, nhưng hãy hợp lại để cùng tìm kiếm lợi ích chung. [Back]
1906
Phải
hiểu công ích là toàn bộ những điều kiện của
đời sống xã hội cho phép những tập thể
hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới
sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ
dàng hơn. Công ích liên quan đến đời sống của mọi
người, đòi hỏi mỗi người phải thận
trọng, nhất là những ai đang cầm quyền. Công ích gồm:
1907
Trước hết, công ích phải tôn trọng con người với tư cách là người. Nhân danh công ích, chính quyền có bổn phận tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của con người. Xã hội phải giúp cho các thành viên thực hiện ơn gọi của mình. Đặc biệt, công ích cho con người thực thi các quyền tự do tự nhiên không thể thiếu để phát triển ơn gọi làm người "như quyền hành động theo qui tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời tư và quyền được tự do chính đáng, cả trong phạm vi tôn giáo nữa" (x. GS 26,2). [Back]
1908
Kế đến, công ích đòi phải có phúc lợi xã hội và sự phát triện của bản thân xã hội. Phát triện và tóm tắt của tất cả các bổn phận của xã hội. Tất nhiên quyền bính có nhiệm vụ làm trọng tài, nhân danh công ích, để phân xử các tranh chấp quyền lợi riêng tư. Nhưng quyền bính phải liệu cho mọi người có thể đạt được những gì mà mỗi người cần phải có mà sống một cuộc đời xứng đáng của con người, đó là: của ăn, áo mặc, sức khoẻ, công ăn việc làm, giáo dục và văn hoá, được thông tin xứng hợp, quyền lập gia đình. [Back]
1909
Sau hết, công ích
còn phải kiến tạo hòa bình, bảo
tồn một trật tự đúng đắn được lâu bền
và ổn định. Điều này giả thiết rằng quyền
bính phải bảo đảm an ninh cho xã hội và cho các
thành viên của xã hội bằng những phương thế
liêm chính. Công ích đặt nền tảng cho quyền tự vệ
chính đáng của cá nhân và tập thể. [Back]
1910
Mỗi tập thể
theo đuổi một công ích để thể hiện căn tính của
mình, nhưng chỉ trong cộng đồng chính trị,
công ích mới được thực hiện trọn vẹn nhất.
Nhà Nước có nhiệm vụ bảo vệ và thăng tiến
công ích của xã hội dân sự, của các công dân và
các tập thể nhỏ hơn. [Back]
1911
Con người trên địa cầu
ngày càng lệ thuộc lẫn nhau. Gia đình nhân loại
gồm những con người có phẩm giá bình đẳng,
một nền công ích toàn cầu. Nền công ích này cần
có một tổ chức hiệp nhất và liên quốc gia,
có khả năng đáp ứng những nhu cầu muôn mặt của
con người trong lãnh vực xã hội (như thực
phẩm, sức khỏe, giáo dục...) cũng như để đối
phó với bao hoàn cảnh đặc biệt có thể xảy
ra nơi này nơi khác (Cứu trợ những người tị nạn,
giúp đỡ cho những người di dân và gia đình họ. [Back]
1912
Công ích luôn hướng tới
việc thăng tiến con người: trật tự của muôn
vật phải lệ thuộc vào trật tự của các
nhân vị chứ không ngược lại. Trật
tự này đặt nền tảng trên chân lý, được thiết
lập trong công bình, được sinh động bởi
tình yêu. [Back]
Trách nhiệm và tham gia
Tham gia là sự dấn
thân tự nguyện và quảng đại của con người
vào những giao dịch xã hội. Tất cả mọi
người phải tham gia, tùy theo địa vị và vai trò
của mình, để mưu cầu công ích. Bổn phận
này gắn với phẩm giá con người. [Back]
1914
Con người tham gia bằng
cách làm tròn các trách nhiệm cá nhân của mình: khi
chăm lo giáo dục gia đình mình và làm việc có lương
tâm, con người góp phần mưu ích cho tha nhân và xã hội. [Back]
1915
Các công dân phải tích cực
tham gia càng nhiều càng tốt vào đời sống xã hội.
Các phương thức tham gia có thể thay đổi tùy từng nước,
từng nền văn hóa. Phải ca tụng đường lối của
những quốc gia đang để cho các công dân được tham gia
càng đông càng tốt vào việc nước trong sự tự do
đích thực. [Back]
1916
Cũng
như mọi bổn phận luân lý khác, việc mọi
người tham gia vào công trình công ích, cũng đòi hỏi
các thành viên của xã hội hoán cải không ngừng.
Phải kết án nghiêm khắc những thủ đoạn dùng
để tránh né luật pháp và tránh né trách nhiệm đối với
xã hội, vì chúng trái với những đòi hỏi
của công bình. Cần chăm lo phát triển những định
chế nhằm cải thiện điều kiện sinh sống
của con người. [Back]
1917
Những người cầm
quyền có bổn phận củng cố những giá trị
đem lại sự tín nhiệm nơi các thành viên trong cộng đồng
và khuyến khích họ tham gia phục vụ đồng bào. Sự
tham gia bắt đầu từ công tác giáo dục và văn hóa. Chúng
ta có lý do chính đáng để nghĩ rằng: tương lai nhân loại
nằm trong tay những người có khả năng trao cho hậu
thế ý nghĩa cuộc sống và những cơ sở
để hy vọng. [Back]
1918
Tóm
lược
"Không có quyền bính nào mà không bởi
Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên
Chúa thiết lập" (Rm 13,1) [Back]
1919
Mọi cộng đoàn nhân loại đều
cần có một quyền bính để duy trì và phát triển.
1920
Cộng
đoàn chính trị và công quyền đặt nền tảng trên bản
tính con người, cho nên cũng nằm trong trật tự do
Thiên Chúa ấn định. [Back]
1921
Quyền bính được hành xử hợp
pháp khi mưu cầu công ích cho xã hội và đạt tới
mục đích ấy bằng những phương thế luân lý
cho phép. [Back]
1922
Các thể chế chính trị có thể
khác nhau, miễn sao các thể chế này mưu cầu lợi
ích chính đáng cho cộng đoàn. [Back]
1923
Công quyền phải được hành sử
trong những giới hạn của trật tự luân
lý và bảo đảm những điều kiện giúp thực
thi quyền tự do. [Back]
1924
Công ích
là: toàn bộ những điều kiện của đời sống
xã hội cho phép những tập thể hay những phần
tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo
riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn. [Back]
1925
Công
ích gồm ba yếu tố cơ bản: tôn trọng và thăng tiến
các quyền cơ bản của con người, phát triển các lợi
ích tinh thần và vật chất của xã hội, kiến
tạo hòa bình và an ninh cho tập thể và các
thành viên. [Back]
1926
Phẩm
giá của con người đòi hỏi mưu cầu công ích. Mỗi
người phải quan tâm cổ võ và yểm trợ những
tổ chức nhằm cải thiện điều kiện sinh
sống của con người. [Back]
1927
Nhà nước có bổn phận bảo vệ
và thăng tiến công ích của xã hội dân sự. Công
ích của toàn thể gia đình nhân loại cần đến
một tổ chức quốc tế. [Back]
Công bằng xã hội
Xã hội bảo đảm công bằng xã hội khi tạo ra những hoàn cảnh thuận lợi để các đoàn thể cũng như mỗi cá nhân có được những gì họ có quyền hưởng theo bản tính và ơn gọi của họ. Công bằng xã hội liên hệ mật thiết với công ích và với việc thực thi quyền bính. [Back]
1929
Tôn trọng nhân vị
Chỉ có được công bằng xã hội khi phẩm giá siêu việt của con người được tôn trọng. Con người là mục đích tối hậu của xã hội, vì xã hội nhằm phục vụ con người: Đấng Tạo Hóa đã trao cho chúng ta trách nhiệm bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người. Trong mọi hoàn cảnh lịch sử, mọi người nam cũng như nữ, đều phải đảm nhận trọng trách này. [Back]
1930
Tôn trọng nhân vị gồm cả việc
tôn trọng các quyền phát sinh từ phẩm giá của thụ
tạo là con người. Các quyền này không do xã hội
ban cho và xã hội phải công nhận chúng. Các quyền
ấy là cơ sở để mọi quyền bính có được hợp
pháp về mặt luân lý. Khi chà đạp
hay phủ nhận các quyền ấy trong luật pháp hiện
hành của mình thì xã hội tự phá hoại
tính hợp pháp về mặt luân lý của chính
mình. Không có sự tôn trọng nhân vị, quyền bính
chỉ có thể dựa trên sức mạnh hay bạo lực,
để bắt buộc các thành viên phải tùng phục. Hội
thánh có bổn phận nhắc nhở những người thiện
chí về những quyền này và phân biệt chúng với những
đòi hỏi quá đáng hay sai lầm. [Back]
1931
Để tôn trọng nhân vị
phải tôn trọng nguyên tắc Mỗi người đều phải
xem người đồng loại, không trừ một ai, như
"cái tôi thứ hai", nên phải quan tâm đến sự sống
của họ và những phương tiện cần thiết giúp
họ sống xứng đáng nhân phẩm. Không một luật
pháp nào tự mình có thể xóa bỏ được các nỗi
sợ hãi, những thành kiến, những thái độ
kiêu căng và ích kỷ, ngăn trở việc xây dựng những
xã hội thực sự huynh đệ. Chỉ có đức
ái Ki-tô giáo mới có thể lướt thắng những thái độ
đó, vì giúp chúng ta đón nhận người khác như một người
thân cận, một người anh em. [Back]
1932
Bổn phận trở nên người thân cận của
tha nhân và hết lòng phục vụ họ khẩn thiết
hơn khi có người gặp khốn khổ trong bất kỳ
lãnh vực nào. "Mỗi lần các ngươi làm như thế
cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta
đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (x. Mt 25,40).
1933
Bổn phận này cũng được thực thi đối với những kẻ suy nghĩ hay hành dộng khác chúng ta.Giáo huấn của Đức Ki-tô đòi buộc chúng ta phải tha thứ mọi xúc phạm. Giới răn của luật mới dạy chúng ta yêu thương cả kẻ thù. Sống theo Tin Mừng, chúng ta không được oán ghét kẻ thù, dù ghét điều ác do họ gây ra. [Back]
Con người: Dị biệt nhưng bình
đẳng
Mọi người có cùng một bản tính và cùng một nguồn gốc, vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa duy nhất, và được ban cho một linh hồn. Nhờ hy tế của Đức Ki-tô cứu chuộc, mọi người được mời gọi đến hưởng vinh phúc của Thiên Chúa, nên bình đẳng về phẩm giá. [Back]
1935
Con người bình đẳng với nhau chủ yếu dựa trên nhân phẩm và các quyền phát xuất từ nhân phẩm: Phải vượt lên trên và loại bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, trong phạm vi xã hội hoặc văn hóa, phái tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa. [Back]
1936
Khi chào đời, con người
không có sẵn trong tay tất cả những gì cần
thiết để phát triển đời sống thể xác và
tinh thần của mình. Con người cần đến tha
nhân. Con người khác nhau về tuổi tác, thể lực,
những năng lực trí tuệ và tinh thần, những cơ hội
mỗi người có được và của cải được phân phối.
Thiên Chúa không trao cho mỗi người số nén bạc như
nhau. [Back]
1937
Những dị biệt này nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn mỗi người đón nhận điều mình cần từ người khác. Ai lãnh được những nén bạc đặc biệt, phải biết thông truyền những lợi ích của các tài năng đó cho những ai cần đến. Các dị biệt khuyến khích và thường đòi buộc mọi người sống độ lượng, hảo tâm và chia sẻ, kích thích các nền văn hóa trao đổi, làm phong phú cho nhau:
"Ta không ban cho mọi người các đức tính như nhau, nhưng kẻ này được đức tính này, kẻ khác được đức tính khác... Ta ban cho người này đức ái, kẻ khác được đức công chính, sự khiêm nhường hay đức tin sống động... Còn về những điều cần thiết cho đời sống con người, Ta đã không phân phối đồng đều, không muốn mỗi người có đủ mọi sự, để buộc họ phải thực thi đức ái. Ta muốn họ cần đến nhau và trở thành những thừa tác viên của Ta để phân phát những ân sủng và mọi thứ Ta đã quảng đại ban cho họ" (T. Ca-ta-ri-na thành Si-ên-na 1,7).
1938
Tuy nhiên có hàng triệu người nam cũng như nữ bị đối xử bất bình đẳng. Điều này rõ ràng nghịch với Tin Mừng. Sự bình đẳng về nhân phẩm đòi hỏi người ta phải tiến tới mức sống nhân đạo hơn và xứng hợp với con người hơn. Thực vậy, những chênh lệch quá đáng về kinh tế và xã hội giữa những thành phần hay giữa những dân tộc trong cùng một gia đình nhân loại thực là những gương xấu và đi ngược với công bằng xã hội, lẽ phải, nhân phẩm và nền hòa bình xã hội cũng như quốc tế. [Back]
Tình liên đới nhân loại
Nguyên tắc liên đới, còn gọi là thân hữu hay bác ái xã hội, là một đòi hỏi xuất phát trực tiếp từ tình huynh đệ nhân bản và Ki-tô giáo. Một sai lầm phổ biến của thời đại là người ta lãng quên quy luật của tình liên đới và của đức mến. Quy luật này được thiết đặt và khắc ghi nơi mỗi người bất kể họ thuộc dân tộc nào, do việc mọi người cùng chung một nguồn gốc, cùng có lý trí và cùng được cứu độ nhờ hy tế Đức. [Back]
1940
Tình liên đới biểu
lộ trước tiên qua việc phân phối của cải và
trả lương lao động. Tình liên đới đòi phải
có một nỗ lực xây dựng trật tự xã hội
công bình hơn, trong đó những căng thẳng có thể dàn
hòa tốt đẹp và những xung khắc được giải
quyết dễ dàng nhờ thương lượng. [Back]
1941
Những vấn đề
kinh tế xã hội chỉ có thể được giải
quyết nhờ các hình thức liên đới: liên đới
giữa những người nghèo với nhau, giữa giàu với
nghèo, giữa những người lao động, giữa chủ
và thợ, giữa các quốc gia và dân tộc. Tình liên
đới quốc tế là một đòi hỏi của trật
tự luân lý. Hòa bình thế giới cũng
tùy thuộc một phần vào tình liên đới này. [Back]
1942
Tình liên đới không chỉ nhằm vào của cải vật chất. Khi phân phát các ân huệ thiêng liêng của đức tin, Hội Thánh giúp con người phát triển những lợi ích trần thế, bằng cách khai mở những con đường mới cho cuộc phát triển này. Như thế, Lời Chúa được ứng nghiệm qua dòng thời gian: "Trước hết phải lo tìm kiếm Nước Chúa và ăn ở ngay lành như Người đòi hỏi, còn các thứ kia, Người sẽ thêm cho" (Mt 6,33):
Hai ngàn năm qua, trong lòng Hội Thánh vẫn có một tâm tình sống động đã và đang thúc đẩy nhiều người sống đời tận hiến đến mức anh hùng - các đan sĩ cày sâu cuốc bẫm, những nhà giải phóng nô lệ, những người chữa trị bệnh nhân, các sứ giả mang đức tin văn minh và khoa học đến với mọi thế hệ và dân tộc, nhằm tạo ra những hoàn cảnh xã hội khả dĩ giúp mọi người có được một đời sống xứng đáng với phẩm giá con người và phẩm giá của một ki-tô hữu. [Back]
1943
Tóm
lược
Xã
hội bảo đảm công bằng xã hội bằng
cách tạo ra những hoàn cảnh giúp các tập thể và
cá nhân nhận được những gì họ có quyền hưởng. [Back]
1944
Tôn
trọng nhân vị là coi kẻ khác như chính mình. Điều
này đòi buộc phải tôn trọng những quyền
căn bản phát xuất từ phẩm giá đích thực của
con người. [Back]
1945
Mọi người đều bình đẳng dựa trên nhâm phẩm và các quyền xuất phát từ nhân phẩm.
1946
Những
dị biệt giữa con người nằm trong kế hoạch
của Thiên Chúa. Người muốn chúng ta cần đến nhau.
Những dị biệt ấy đòi con người sống
bác ái với nhau. [Back]
1947
Vì con người bình đẳng về
nhân phẩm nên phải cố gắng giảm thiểu những
chênh lệch quá đáng về xã hội và kinh tế, xóa bỏ
bất bình đẳng. [Back]
1948
Tình
liên đới là một đức tính nổi bật của Ki-tô
giáo. Tình liên đới thúc bách chúng ta chia sẻ của cải
vật chất và hơn nữa, cả của cải tinh thần. [Back]
Thiên Chúa Cứu Độ – Lề luật và ân sủng
Con người được gọi tới hưởng chân phúc,
nhưng bị thương tổn do tội, nên cần được Thiên
Chúa cứu độ. Thiên Chúa cứu giúp con người trong Đức
Ki-tô: Người ban lề
luật để hướng dẫn họ và ân sủng để
nâng đỡ họ: "Anh
em hãy biết run sợ mà gắng sức lo sao cho
mình được cứu độ. Vì chính Thiên Chúa tác động
nơi anh em để anh em quyết chí và hành động theo kế hoạch
Người đã đặt ra vì yêu thương anh em." (Pl 2,12-13). [Back]
1950
Luật luân lý là tác
phẩm của Thiên Chúa khôn ngoan. Theo nghĩa Kinh Thánh, có thể
định nghĩa luật này như lời người Cha dạy dỗ
con cái, như một phương pháp giáo dục của Thiên Chúa. Luật
luân lý quy định cho con người những con đường,
những quy tắc sống, dẫn đưa họ tới chân
phúc Thiên Chúa hứa, cấm con người đi vào đường sự
dữ, lìa bỏ Thiên Chúa và tình yêu của Người.
Luật luân lý tuy là những mệnh lệnh nghiêm khắc
nhưng cũng là những lời hứa dễ thương. [Back]
1951
Luật là một quy tắc sống, được quyền bính hợp pháp ban hành nhằm phục vụ công ích. Luật luân lý giả thiết một trật tự hợp lý được Đấng Sáng Tạo quyền năng, khôn ngoan và nhân từ thiết lập để các thụ tạo đạt tới lợi ích và cứu cánh của chúng. Mọi luật đều nhận được chân lý nguyên thủy và tối hậu trong luật vĩnh cửu. Con người dùng lý trí công bố và thiết lập luật như một cách tham dự vào sự quan phòng của Thiên Chúa hằng sống, Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ mọi người. "Luật là quy định trật tự theo lý trí" (Lê-ô XIII, ").
"Trong tất cả các sinh vật, chỉ con người mới có thể tự hào xứng đáng đón nhận luật của Thiên Chúa. Vì có lý trí để hiểu biết và nhận định, con người phải cư xử theo tự do và lý trí để suy phục Đấng trao ban mọi sự cho mình" (Tertullien, Marc. 2,4). [Back]
1952
Luật luân lý được
thể hiện dưới nhiều dạng thức, và tất
cả đều liên kết với nhau: luật vĩnh cửu
là nguồn gốc thiên linh của mọi lề luật; luật
tự nhiên; luật mặc khải gồm luật cũ và
luật mới hay luật Tin Mừng; sau cùng dân luật và
giáo luật. [Back]
1953
Luật luân lý được
viên mãn và thống nhất trong Đức Ki-tô. Người là
hiện thân của con đường hoàn thiện, là cùng đích của
lề luật, vì chỉ có Người dạy dỗ và
ban sự công chính của Thiên Chúa. "Cứu cánh của lề
luật là Đức Ki-tô, khiến bất cứ ai tin đều
được nên công chính" (Rm 10,4). [Back]
Luật luân lý tự nhiên
Con người được tham dự vào sự khôn ngoan và nhân từ của Đấng Sáng Tạo, Đấng cho họ quyền làm chủ mọi hành vi và khả năng tự hướng đến chân lý và sự thiện. Luật tự nhiên bày tỏ cảm thức luân lý nền tảng, nhờ đó con người dùng lý trí mà nhận định điều tốt và điều xấu, chân thật và dối trá:
"Luật tự nhiên đã được Thiên Chúa viết và khắc ghi trong tâm hồn mọi người và mỗi người, vì đây chính là lý trí của con người ra lệnh phải làm lành và lánh dữ...Quy định này của lý trí con người chỉ có giá trị là luật, vì là tiếng nói và lời truyền đạt của một lý trí cao hơn mà tâm trí và tự do của chúng ta đều phải tùng phục" (Lê-ô XIII,).
1955
Luật thiên định và tự nhiên vạch cho loài người con đường phải theo để thi hành điều thiện và đạt tới cùng đích. Luật tự nhiên nêu ra những mệnh lệnh đầu tiên và chính yếu điều khiển đời sống luân lý. Trọng tâm của luật tự nhiên là tâm tình khao khát và tùng phục Thiên Chúa vốn là căn nguyên và tiêu chuẩn mọi điều thiện, cùng với cảm thức về tha nhân như người bình đẳng với mình. Luật này được trình bày thành những điều răn chính trong Thập Giới. Luật này được gọi là tự nhiên, không phải vì được rút ra từ thế giới tự nhiên không lý trí, nhưng xuất phát từ lý trí tự nhiên của con người:
Các quy luật này được ghi chép ở đâu nếu không phải là trong quyển sách của thứ ánh sáng mà người ta gọi là chân lý? Đó là nơi mọi lề luật đúng đắn được viết ra, từ đó được chuyển vào lòng người để thực thi công chính. Không phải luật này đến di trú nơi lòng người, nhưng ghi dấu ấn vào đó như chiếc nhẫn huy hiệu ghi dấu trên sáp, sáp mang hình huy hiệu nhưng huy hiệu vẫn ở trên nhẫn.
"Luật tự nhiên
không gì khác hơn là ánh sáng trí tuệ do Chúa đặt trong ta,
nhờ đó, chúng ta biết điều phải làm và điều phải
tránh. Ánh sáng này hay luật này, Thiên Chúa đã ban khi sáng tạo
con người" (T.Tô-ma A-qui-nô 1). [Back]
1956
Luật tự nhiên được Thiên Chúa ghi khắc trong lòng mỗi người và được lý trí xác nhận, các điều khoản của luật tự nhiên có giá trị phổ quát, và buộc mọi người phải tuân theo. Luật này nói lên phẩm giá con người và xác định nền tảng các quyền và các bổn phận cơ bản của con người:
"Chắc chắn có một luật chân thật là lẽ phải, luật này phù hợp với tự nhiên, luật bất biến và vĩnh cửu. Mọi người phải thi hành các mệnh lệnh của nó. Những cấm đoán của nó giúp tránh xa tội lỗi...Thay thế nó bằng một luật nghịch lại là phạm thánh. Không được bỏ qua một điều luật nào. Không ai có thể loại bỏ hoàn toàn được" (Cicéron 3,22, 33). [Back]
1957
Việc áp dụng luật
tự nhiên rất đa dạng, có khi phải suy nghĩ để
thích ứng với nhiều điều kiện sống khác
nhau, tùy theo nơi chốn, thời đại và hoàn cảnh. Dù các
nền văn hóa khác nhau, luật tự nhiên vẫn là một
quy tắc nối kết con người với nhau, đặt cho
họ những nguyên tắc chung, vượt trên những khác
biệt không thể tránh khỏi. [Back]
1958
Luật tự nhiên bất biến và trường tồn qua mọi biến thiên của lịch sử. Giữa những trào lưu ý tưởng và tập tục, lụât tự nhiên vẫn tồn tại và còn giúp chúng phát triển nữa. Về cơ bản, những luật diễn tả luật tự nhiên vẫn luôn có giá trị. Dù có chối bỏ cả đến những nguyên lý của luật tự nhiên, người ta cũng không thể hủy diệt nó, không thể gạt nó khỏi lòng người; nó luôn tái xuất hiện trong đời sống của những cá nhân và của các xã hội:
Lạy Chúa, mọi người đều biết luật của Chúa cấm trộm cắp, và luật đã ghi trong lòng con người. Cũng thế, dù bao gian ác cũng không xóa được. [Back]
1959
Luật tự nhiên là công trình rất tốt đẹp của Đấng Sáng Tạo, cho con người những nguyên tắc cơ bản để thiết lập các quy tắc luân lý hướng dẫn họ lựa chọn. Luật tự nhiên cũng đặt nền móng luân lý không thể thiếu cho việc kiến tạo cộng đoàn nhân loại; và cung cấp cơ sở cần thiết cho luật dân sự. Luật dân sự phải gắn liền với luật tự nhiên, hoặc bằng cách rút ra kết luận từ các nguyên tắc của luật tự nhiên, hoặc bằng những bổ sung mang tính chất thành văn và pháp lý.
1960
Không phải ai cũng có
thể nhận ra cách rõ ràng và trực tiếp những
giới luật của luật tự nhiên. Trong hoàn cảnh
hiện tại, con người tội lỗi rất cần đến
ân sủng và mặc khải để nhận biết các chân
lý tôn giáo và luân lý "một cách trọn vẹn,
dễ dàng, chắc chắn và không pha lẫn sai lầm"
(Pi-ô
XII, "Humani generis). Luật tự
nhiên là cơ sở do Thiên Chúa dọn sẵn và thích hợp với
công trình của Chúa Thánh Thần để con người đón
nhận luật mặc khải và ân sủng. [Back]
Luật cũ
Thiên Chúa Sáng Tạo và Cứu Độ đã tuyển chọn Ít-ra-en làm dân riêng, và đã mặc khải cho họ Luật của Người để chuẩn bị cho Đức Ki-tô đến. Luật Mô-sê nêu ra nhiều chân lý mà lý trí tự nhiên có thể đạt tới. Các chân lý này được công bố và chứng thực ngay trong giao ước cứu độ. [Back]
1962
Luật cũ là bước đầu của luật mặc khải. Những mệnh lệnh luân lý của luật cũ được tóm lược trong mười điều răn. Các điều răn của Thập Giới đặt nền tảng cho ơn gọi làm người vốn được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa. Các điều răn ấy ngăn cấm những gì nghịch lại tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân và ấn định những đòi hỏi chính yếu của tình yêu ấy. Thập giới là ánh sáng cho lương tâm của mọi người, giúp họ nhận ra tiếng gọi và những con đường của Thiên Chúa, và bảo vệ họ khỏi sự ác: Thiên Chúa đã viết trên các bia luật những gì mà con người không đọc ra được trong lòng mình. [Back]
1963
Theo truyền thống
Ki-tô giáo, Luật cũ dù thánh thiện, thiêng liêng và
tốt lành nhưng vẫn chưa hoàn thiện. Như người
giám thị, luật cho thấy điều phải làm nhưng không
ban cho sức mạnh là ân sủng của Thánh Thần để
chu toàn. Vì không xóa được tội lỗi, luật cũ
vẫn còn là luật của tình trạng nô lệ.
Theo thánh Phao-lô, luật có chức năng tố cáo và vạch
trần tội lỗi, vì
tội lỗi tạo ra thứ luật của dục vọng
trong lòng con người. Tuy nhiên, luật cũ vẫn là
chặng đầu tiên trên con đường tiến về Nước
Trời. Luật cũ chuẩn bị và giúp dân được tuyển
chọn cũng như mỗi ki-tô hữu sẵn sàng để hoán
cải và tin vào Thiên Chúa Cứu Độ. Vì là Lời của
Thiên Chúa, luật cũ cho chúng ta một giáo huấn tồn
tại đến muôn đời. [Back]
1964
Luật cũ chuẩn bị cho Tin Mừng. Luật tiên báo và giáo dục về các thực tại sẽ đến. Luật cũ tiên báo công trình Đức Ki-tô sẽ thực hiện để giải thoát khỏi tội lỗi, cung cấp cho Tân Ước những hình ảnh, những tiên trưng, những biểu tượng, để diễn tả đời sống theo Thánh Thần. Cuối cùng, các sách giáo huấn và các ngôn sứ, bổ túc và hướng luật cũ đến Tân Ước và Nước Trời.
Trong
thời Cựu Ước, nhiều người đã được đức
mến và ân sủng của Thánh Thần thúc đẩy, họ
hết lòng khát mong Thiên Chúa thực hiện những lời
hứa thiêng liêng và vĩnh cửu, nhờ đó họ được
nối kết với luật mới. Ngược lại,
trong thời Tân Ước, cũng có những con người sống
theo xác thịt, còn xa với sự hoàn thiện của
luật mới. Để khuyến khích họ sống đức
hạnh, phải giúp họ biết sợ Chúa phạt và
mong được thưởng công. Dù luật cũ có dạy phải
sống đức mến nhưng không ban Thánh Thần, "nhờ
Người mà Thiên Chúa ban đức mến chan hòa trong
lòng chúng ta" (Rm 5,5) [Back]
Luật mới hay luật Tin Mừng
Luật mới hay luật Tin Mừng là dạng hoàn hảo ở đời này của luật Thiên Chúa, tự nhiên và mặc khải. Đây là luật của Đức Ki-tô, được trình bày cách đặc biệt trong Bài Giảng Trên Núi. Đây cũng là công trình của Thánh Thần, và nhờ Người, trở thành luật đức mến trong lòng con người: "Ta sẽ thiết lập với nhà Ít-ra-en một giao ước mới...Ta sẽ ghi vào lòng chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta, và Ta sẽ là Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta" (Dt 8,6-10) [Back]
1966
Luật mới là ân sủng Chúa Thánh Thần ban cho các tín hữu nhờ tin vào Đức Ki-tô. Người tín hữu thực thi luật mới bằng đức mến. Trong luật mới, Chúa Ki-tô dùng bài giảng trên núi để dạy chúng ta điều phải làm, và các bí tích để thông ban ân sủng giúp chúng ta thực hiện. Ai suy niệm với lòng đạo đức và sáng suốt, bài giảng mà Chúa chúng ta công bố trên núi, như được ghi trong sách Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu, chắc chắn sẽ tìm thấy bản hiến chương hoàn hảo cho đời sống ki-tô hữu. Bài giảng này chứa đựng tất cả những giới luật đặc thù để hướng dẫn đời sống Kitô hữu. [Back]
1967
Luật Tin Mừng hoàn tất
tinh luyện, trổi vượt và kiện toàn luật cũ.
Nơi các mối phúc, luật mới hoàn tất các lời hứa của
Thiên Chúa bằng cách nâng cao và quy hướng chúng về Nước
Trời. Luật Tin Mừng dành cho những ai sẵn sàng
tin tưởng đón nhận niềm hy vọng mới: những
người nghèo, người khiêm tốn, người đau khổ, người
có tâm hồn trong sạch, kẻ bị bách hại vì Đức
Ki-tô. Như thế Luật Tin Mừng mở ra những con đường
của Nước Trời. [Back]
1968
Luật Tin Mừng hoàn tất các điều răn của
Luật cũ. Bài giảng trên núi không hủy bỏ hay là giảm
giá trị các qui định luân lý của Luật cũ,
mà còn khai thông những tiềm năng tàng ẩn, và làm nổi
bật những đòi hỏi mới của các qui định
ấy. Luật mới làm sáng tỏ toàn bộ chân lý về
Thiên Chúa và về con người trong luật cũ. Luật mới
không thêm vào luật cũ những giới luật mới ở
bên ngoài, nhưng canh tân tâm hồn là nơi phát xuất mọi hành
vi, nơi con người chọn lựa giữa thanh khiết và ô
uế, nơi hình thành đức tin - cậy - mến, và các
nhân đức khác. Như thế, Tin Mừng đưa luật cũ tới
chỗ viên mãn khi dạy chúng ta nên hoàn thiện như Cha
trên trời, tha thứ cho kẻ thù, và cầu nguyện cho
những người bách hại theo gương lòng cao thượng
của Thiên Chúa. [Back]
1969
Luật mới dạy
con người thực
hành các hành vi tôn giáo: bố thí, cầu nguyện và
chay tịnh, nhưng qui hướng về Cha Đấng thấu suốt
những gì kín đáo thay vì cho người ta. Kinh Lạy
Cha là lời cầu nguyện của những người sống
theo luật mới. [Back]
1970
Luật Tin Mừng đòi chúng ta chọn lựa dứt khoát giữa "hai con đường và thực hành các lời Chúa dạy. Luật Tin Mừng được tóm lược trong khuôn vàng thước ngọc: "Tất cả những gì anh em muốn người khác làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì sách luật Mô-sê và các sách ngôn sứ dạy như thế" (Mt 7,12). Toàn bộ luật Tin Mừng thu gọn trong điều răn mới của Đức Giê-su (Ga 13,34), là chúng ta hãy yêu thương nhau như Người đã yêu thương chúng ta. [Back]
1971
Chúng
ta nên nối kết giáo
huấn luân lý của các tông đồ vào bài giảng
trên núi. Các lời dạy này truyền lại giáo huấn của
Chúa với thẩm quyền của các tông đồ, đặc biệt
trong việc trình bày các nhân đức xuất phát từ
lòng tin vào Đức Ki-tô, và được đức mến là hồng
ân chính yếu của Chúa Thánh Thần làm cho sống động.
"Vì lòng bác ái không được giả hình giả
bộ... thương mến nhau với tình huynh đệ...
hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên
nhẫn lúc gặp gian truân và chuyên cần cầu nguyện.
Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang
lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi
khách đến nhà" (Rm 12,9-13). Các giáo huấn này cũng
dạy chúng ta giải quyết những vấn đề lương
tâm theo ánh sáng của mối tương quan giữa chúng ta với
Chúa Ki-tô và với Hội Thánh. [Back]
1972
Luật
mới được gọi là luật
yêu thương vì dạy ta hành động theo tình
yêu mà Thánh Thần thông ban cho, hơn là vì sợ hãi. Luật
mới được gọi là luật ân sủng, vì nhờ
đức tin và các bí tích, chúng ta nhận được sức mạnh
của ân sủng để hành động. Luật mới là luật
tự do vì giải thoát chúng ta khỏi những trói buộc
về nghi thức và pháp lý cũ, giúp chúng ta hành động
theo sự thôi thúc của đức mến, và sau hết nâng
chúng ta từ tình trạng tôi tớ không biết việc
chủ làm, lên bậc bạn hữu của Đức Ki-tô
"vì tất cả những gì Thầy nghe được
nơi Cha Thầy thì Thầy đã tỏ cho anh em biết"
(Ga 15,15) và làm con thừa tự nữa. [Back]
1973
Ngoài
các giới luật, Luật Mới còn có những lời
khuyên Phúc Âm. Truyền thống phân biệt các điều răn của
Thiên Chúa với các lời khuyên Phúc Âm dựa trên tương quan với
đức mến, là đỉnh cao của đời sống ki-tô hữu.
Các điều răn ngăn cấm những gì nghịch với
đức mến. Các lời khuyên nhằm loại bỏ những
điều dù không nghịch với đức mến nhưng có thể
cản trở đức mến phát triển (T.Tô-ma Aquinô 2-2; 184,3). [Back]
1974
Các lời khuyên Phúc Âm bày tỏ đức mến viên mãn sống động, một đức mến không cho phép chúng ta thỏa mãn với những gì đã làm được. Các lời khuyên minh chứng sức năng động của đức mến và mời gọi chúng ta có một tư thế sẵn sàng nội tâm. Luật mới đạt tới mức hoàn hảo trong giới luật mến Chúa yêu người. Các lời khuyên giới thiệu những con đường thẳng, những phương thế thuận lợi và được thực hành tùy theo ơn gọi của mỗi người:
"Thiên Chúa không muốn mỗi người đều phải giữ tất cả các lời khuyên, mà chỉ giữ những lời khuyên nào thích hợp với từng người, từng thời đại, trường hợp và sức lực khác nhau tùy đức mến đòi hỏi; vì đức mến là nữ hoàng của mọi nhân đức; mọi giới răn, mọi lời khuyên, nói chung của mọi lề luật và hành động theo tinh thần Đức Ki-tô, nên đức mến ban cho chúng tất cả: thứ bậc, trật tự, thời gian và giá trị" (T. Phan-xi-cô Xa-lê-si-ô, 8,6). [Back]
Tóm
lược
Theo
Thánh Kinh, luật là lời Thiên Chúa như người cha dạy dỗ
con cái, qui định cho con người những nẻo đường dẫn
tới chân phúc Thiên Chúa hứa và cấm con người đi vào đường
sự dữ. [Back]
1976
Luật là qui định trật tự
theo lý trí nhằm phục vụ công ích, được người
phụ trách cộng đoàn công bố (T. Tô-ma A-qui-nô 1-2,90,4). [Back]
1977
Đức Ki-tô là cùng đích của lề luật (Rm 10,4), chỉ
có Người dạy dỗ và ban sự công chính của Thiên
Chúa. [Back]
1978
Luật tự nhiên là sự tham dự
của con người (được tạo dựng theo hình ảnh
Đấng Sáng Tạo) vào sự khôn ngoan và nhân từ của
Thiên Chúa. Luật tự nhiên nói lên phẩm giá con người và
xác định nền tảng các quyền và các bổn phận
cơ bản của con người. [Back]
1979
Luật tự nhiên thì bất biến
và trường tồn qua dòng lịch sử. Về cơ bản,
những qui luật diễn tả luật tự nhiên, vẫn
luôn có giá trị. Luật tự nhiên là cơ sở cần thiết
cho việc thiết lập các qui luật luân lý và cho
luật dân sự. [Back]
1980
Luật
cũ là bước đầu của luật mặc khải. Những
qui định luân lý của luật cũ được tóm lược
trong Mười Điều Răn. [Back]
1981
Luật
Mô-sê nêu ra nhiều chân lý mà lý trí tự nhiên có thể
đạt tới. Thiên Chúa đã mặc khải các chân
lý ấy bởi vì con người đã không đọc
ra chúng trong lòng mình. [Back]
1982
Luật cũ là sự chuẩn bị cho Tin Mừng.
1983
Luật
mới là ân sủng của Chúa Thánh Thần ban cho các tín hữu
nhờ tin vào Đức Ki-tô. Người tín hữu thực thi luật
mới bằng đức mến. Chúa Ki-tô dùng Bài Giảng Trên
Núi để diễn tả những điểm chính của luật
mới và dùng các bí tích để thông ban ân sủng cho con người
thực thi luật đó. [Back]
1984
Luật
Tin Mừng hoàn tất trổi vượt và kiện toàn luật
cũ: kiện toàn các lời hứa của luật cũ bằng
các mối phúc của Nước Trời, kiện toàn các điều
răn của luật cũ bằng canh tân tâm hồn là nơi phát
xuất mọi hành vi. [Back]
1985
Luật mới là luật yêu thương, luật ân sủng, luật tự do.
1986
Ngoài
những giới luật, luật mới còn gồm những
lời khuyên Phúc Âm "sự thánh thiện của Hội
Thánh cũng được đặc biệt khích lệ bởi nhiều
lời khuyên Chúa đã đề ra trong Phúc Âm cho các môn đệ
noi theo. [Back]
Ân sủng và sự công chính hoá
Ân
sủng của Chúa Thánh Thần có quyền năng công chính hóa
chúng ta, nghĩa là thanh tẩy chúng ta sạch tội lỗi,
và được "Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ tin vào Đức
Giê-su Ki-tô" (Rm 3,22) và nhờ bí tích Thánh Tẩy:
"Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô ,
chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, đó là niềm
tin của chúng ta. Vì biết rằng: một khi Đức
Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì
không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng
còn quyền chi đối với Người. Người
đã chết là chết đối với tội lỗi, và
một lần là đủ. nay Người sống là sống cho
Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như
đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại
sống cho Thiên Chúa, vì được kết hợp với Đức
Giê-su Ki-tô" (Rm 6, 8-11). [Back]
1988
Nhờ quyền năng Thánh Thần, chúng ta dự phần vào cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô bằng cách chết cho tội lỗi, và dự phần vào sự phục sinh của Người bằng việc tái sinh vào đời sống mới; chúng ta là những chi thể của Thân Thể Người là Hội Thánh, là những ngành nho được ghép vào Thân nho là chính Đức Ki-tô: Nhờ Thánh Thần chúng ta được tham dự vào đời sống Thiên Chúa. Nhờ lãnh nhận Thánh Thần, chúng ta được thông phần bản tính Thiên Chúa. Vì thế, những kẻ nào được Chúa Thánh Thần ở cùng, đều được thần hóa. [Back]
1989
Công trình đầu tiên
Chúa Thánh Thần thực hiện nơi con người là sự hoán cải, nghĩa
là cho họ nên công chính như lời rao giảng của Đức
Giê-su từ buổi đầu của Tin Mừng: "Anh em phải
sám hối, vì triều đại Thiên Chúa đã đến gần"
(Mt
4,17). Dưới tác động của
ân sủng, con người quay về với Thiên Chúa và từ bỏ
tội lỗi, nhờ đó được Thiên Chúa ban ơn tha thứ và
sự công chính. "Như thế, công chính hóa không chỉ là tha
tội, mà còn thánh hóa và canh tân con người nội
tâm" (Cđ Tren-tô :
DS 1528). [Back]
1990
Ơn công chính hóa giải thoát con người và thanh
luyện tâm hồn khỏi tội lỗi nghịch
với tình yêu Thiên Chúa. Ơn công chính hóa xuất phát từ
sáng kiến của Thiên Chúa giàu lòng thương xót và hằng
tha thứ. Khi được công chính hóa, con người được
hòa giải với Thiên Chúa, được giải phóng khỏi
ách tội lỗi và được chữa lành. [Back]
1991
Ơn công chính hóa còn là
việc chúng ta đón nhận
sự công chính Chúa ban cho, nhờ tin vào Đức
Giê-su Ki-tô. Sự công chính ở đây chỉ sự công minh
chính trực của tình yêu Thiên Chúa. Cùng với ơn công
chính hóa, Thiên Chúa ban cho chúng ta đức tin, cậy và mến,
và ơn biết phục tùng thánh ý Chúa. [Back]
1992
Chúng ta được công chính hóa nhờ cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô, Đấng đã dâng mình trên Thánh Giá làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa, và Máu Người trở nên phương tiện đền tội cho mọi người. Chúng ta lãnh nhận ơn công chính hóa nhờ bí tích Thánh Tẩy, bí tích của đức tin. Ơn công chính hóa giúp ta sống phù hợp với sự công chính của Thiên Chúa, Đấng dùng quyền năng của lòng thương xót biến đổi nội tâm ta nên công chính. Mục đích của ơn công chính hóa là tôn vinh Thiên Chúa, tôn vinh Đức Ki-tô, và ban tặng cho ta sự sống vĩnh cửu (Cđ. Tren-tô : DS 1529).
"Nhưng ngày nay, Thiên Chúa đã cho thấy cách Người làm cho người ta nên công chính mà không cần đến luật Mô-sê. Điều này sách luật Mô-sê và các ngôn sứ làm chứng. Quả thế, Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính nếu họ tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Tất cả những ai tin đều được như thế: bất kể là người Do thái hay dân ngoại. Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Giê-su Ki-tô. Thiên Chúa đã định cho Đức Ki-tô Giê-su phải đổ máu mình ra làm hi lễ đem lại ơn tha tội cho những ai tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ, Người muốn cho thấy rằng, Người là Đấng Công Chính, nghĩa là Người vừa công chính vừa làm cho kẻ sống nhờ lòng tin vào Đức Giê-su Ki-tô được nên công chính" (Rm 3,21-26). [Back]
1993
Ơn công chính hóa mở đầu cho sự cộng tác giữa ân sủng Thiên Chúa và sự tự do của con người. Về phía con người, ơn công chính hóa được biểu lộ qua sự ưng thuận tin theo lời Thiên Chúa mời gọi hoán cải, và qua sự cộng tác bằng đức mến vào tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng khởi xướng và gìn giữ sự ưng thuận đó: Khi Thiên Chúa dùng ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, đánh động tâm hồn con người, con người không phải là không làm gì nhưng đã đón nhận ơn soi sáng này và là ơn họ có thể khước từ. Tuy nhiên, không có ân sủng Chúa, họ cũng không thể nhờ ý chí tự do của mình đạt tới sự công chính trước mặt Thiên Chúa (Cđ. Tren-tô, DS 1525). [Back]
1994
Ơn công chính hóa là công trình tuyệt hảo của
tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức
Giê-su Ki-tô và được Chúa Thánh Thần ban tặng. Thánh Âu-tinh
cho rằng việc công chính hóa kẻ vô đạo là một
công trình còn lớn lao hơn cả việc tạo dựng
trời đất", bởi vì "trời đất sẽ
qua đi, còn ơn cứu độ và công chính hóa các kẻ được
tuyển chọn vẫn tồn tại. Thánh nhân còn cho
rằng sự công chính hóa các kẻ tội lỗi vượt
trên công trình tạo dựng các thiên thần trong sự
công chính, vì cho thấy rõ hơn lòng thương xót lớn
lao của Thiên Chúa. [Back]
1995
Chúa Thánh Thần là vị thầy nội tâm. Ơn công chính hóa khai sinh con người nội tâm và đem lại ơn thánh hóa toàn thể con người: Trước đây, anh em đã dùng chi thể của anh em làm nô lệ những điều ô uế và sự vô luân, để trở thành vô luân, thì nay, anh em cũng hãy dùng chi thể làm nô lệ sự công chính để trở nên thánh thiện. Giờ đây, anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ của Thiên Chúa, anh em thu được kết quả là được trở nên thánh thiện, và rốt cuộc được sống đời đời. [Back]
Ân sủng
Chúng ta được công chính hóa nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Ân sủng là một ân huệ, một trợ giúp nhưng không mà Thiên Chúa ban để chúng ta đáp lại tiếng gọi của Người: trở thành con cái Thiên Chúa, làm nghĩa tử, tham dự vào bản tính Thiên Chúa và vào sự sống đời đời. [Back]
1997
Ân sủng cho chúng ta tham dự vào sự sống Thiên
Chúa, vào đời sống thâm sâu của Ba Ngôi Thiên
Chúa. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, người Ki-tô hữu tham dự
vào ân sủng của Đức Ki-tô, Đầu của Thân Thể.
Nhờ kết hiệp với Con Một Thiên Chúa, họ trở
thành nghĩa tử và được gọi Thiên Chúa là Cha. Họ
lãnh nhận sự sống của Chúa Thánh Thần, Đấng
thông ban đức mến và xây dựng Hội Thánh. [Back]
1998
Ơn gọi vào sự sống
vĩnh cữu là một ơn siêu nhiên, tùy thuộc hoàn toàn vào sáng kiến
nhưng không của Thiên Chúa, vì chỉ mình Người mới
có thể tự mặc khải và tự hiến. Ơn gọi
ấy vượt mọi khả năng của trí tuệ và
ý chí con người, cũng như của mọi thụ tạo. [Back]
1999
Ân
sủng của Đức Ki-tô là ân huệ nhưng không, qua đó Thiên
Chúa ban cho chúng ta sự sống của Người. Nhờ
Thánh Thần, Thiên Chúa ban sự sống đó vào linh hồn để
chữa trị tội lỗi và thánh hóa chúng ta. Đó là ơn thánh hóa hay ơn thần hóa nhận
được trong bí tích Thánh Tẩy. Trong chúng ta, ơn này là căn nguyên
của công trình thánh hóa:
"Phàm ai kết hợp với Đức Ki-tô đều là thụ
tạo mới, cái cũ đã qua, cái mới đã có đây
rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa, là Đấng
đã nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta được hòa giải
với Người" (2 Cr 5,17-18). [Back]
2000
Ơn thánh hóa là một ân huệ
thường tồn, một trạng thái siêu nhiên bền vững,
hoàn thiện linh hồn để chúng ta có thể sống với
Thiên Chúa và hành động nhờ tình yêu của Người.
Chúng ta phân biệt ơn thường sủng và ơn hiện sủng.
Ơn thường sủng là trạng thái thường xuyên để sống
và hành động theo tiếng gọi của Thiên Chúa, và ơn hiện
sủng là những can thiệp của Thiên Chúa lúc khởi đầu
cuộc hoán cải hoặc trong quá trình thánh hóa. [Back]
2001
Chuẩn bị cho con người đón nhận ân sủng cũng đã là một công trình của ân sủng. Việc chuẩn bị này cần thiết để khơi dậy và nâng đỡ sự cộng tác của chúng ta vào việc công chính hóa nhờ đức tin, vào việc thánh hóa nhờ đức mến. Thiên Chúa hoàn thành nơi ta điều Người đã khởi sự "vì Người khởi sự bằng cách tác động thế nào để chúng ta ước muốn, và Người hoàn thành bằng cách hợp tác với ý muốn đã được hoán cải của chúng ta" (T.Âu-tinh, 17):
Chúng ta cũng làm việc nhưng chỉ cùng làm với Thiên Chúa, Đấng đang hoạt động. Thiên Chúa giàu lòng thương xót đi bước trước để chữa lành chúng ta và một khi chúng ta được chữa lành, Người vẫn dõi theo để chúng ta được tác sinh; Thiên Chúa giàu lòng thương xót đi bước trước để kêu gọi chúng ta, Người vẫn dõi theo chúng ta để chúng ta được vinh quang; Thiên Chúa giàu lòng thương xót đi bước trước để giúp chúng ta sống theo lòng nhân hậu, người vẫn dõi theo chúng ta để chúng ta sống mãi với Người; vì không có Người, chúng ta chẳng làm được gì. [Back]
2002
Thiên Chúa tự do khởi xướng và Người muốn) con người đáp trả với tất cả tự do. Khi tạo dựng con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa không chỉ ban cho họ sự tự do mà còn ban khả năng nhận biết và yêu mến Người. Chỉ khi tự nguyện, con người mới có thể bước vào hiệp thông tình yêu. Thiên Chúa trực tiếp lay động lòng người. Thiên Chúa đặt trong con người khát vọng chân lý và điều thiện mà chỉ có Người mới có thể thỏa mãn. Lời hứa ban sự sống đời đời đáp lại khát vọng này, vượt trên mọi mong ước của con người:
Chúa đã nghỉ ngơi
ngày thứ bảy sau khi hoàn tất công trình rất tốt
đẹp của Chúa chính là để nói trước với chúng ta
qua lời Sách Thánh rằng, sau khi hoàn tất công trình rất
tốt đẹp của chúng con mà chính Chúa đã ban tặng,
thì đến lượt chúng con, chúng con cũng hưởng ngày
hưu lễ của cuộc sống trường sinh và nghỉ
ngơi trong Chúa. [Back]
2003
Ân sủng trước tiên
và chính yếu là hồng ân Thánh Thần để công chính hóa và
thánh hóa chúng ta. Nhưng ân sủng cũng gồm các hồng ân
Chúa Thánh Thần ban để liên kết chúng ta vào công
trình của Người, ban cho chúng ta khả năng cộng
tác vào công trình cứu độ tha nhân và làm phát triển
Thân Thể Chúa Ki-tô là Hội Thánh. Đó là các ân sủng bí tích, mỗi
bí tích ban ơn riêng. Ngoài ra, còn có các ân sủng đặc biệt
gọi là đặc sủng theo
từ Hi Lạp thánh Phao-lô sử dụng có nghĩa là đặc
ân, quà tặng nhưng không, ân huệ. Dù có đặc tính nào đi nữa,
đôi khi là ngoại thường, như ơn làm phép lạ hay nói tiếng
lạ, các đặc sủng cũng đều qui hướng về
ơn thánh hóa và có mục đích phục vụ lợi ích chung của
Hội Thánh. Các đặc sủng đều phục vụ cho đức
mến để xây dựng Hội Thánh.
2004
Trong các ân sủng, phải nêu lên các ơn chức phận được ban cho người thi hành các bổn phận của đời sống ki-tô hữu và các thừa tác vụ trong lòng Hội Thánh: "Chúng ta có những đặc sủng khác nhau tùy theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Ai được ơn làm ngôn sứ, thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Ai được ơn phục vụ, thì phải phục vụ. Ai được ơn giảng dạy, thì hãy giảng dạy. Ai được ơn khuyên bảo, thì hãy khuyên bảo. Ai chia cơm sẻ áo thì phải thật lòng. Ai chủ tọa thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái, thì hãy vui vẻ mà làm" (Rm 12, 6-8). [Back]
2005
Ân sủng thuộc bình diện siêu nhiên, nên vượt tầm kinh nghiệm của chúng ta, và chỉ nhận biết được bằng đức tin. Cho nên chúng ta không thể dựa trên tình cảm hay các việc làm của chúng ta để suy luận rằng, chúng ta đã được công chính hóa và được cứu rỗi. Tuy nhiên, theo lời Chúa phán: "Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai" (Mt 7,20), việc nhìn xem các ân huệ của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta và trong đời sống các thánh, cống hiến cho chúng ta một bảo đảm rằng ân sủng đang hoạt động trong chúng ta và khuyến khích chúng ta tiến tới một đức tin lớn mạnh hơn, và một thái độ nghèo khó đầy tín thác.
Một trong những minh
họa đẹp nhất của thái độ này là câu trả lời
của thánh nữ Gio-a-na thành Ars trước một câu hỏi
gài bẫy của các quan tòa: Khi bị hỏi: cô biết
mình có ân nghĩa với Chúa không; Người trả lời:
"nếu tôi chưa có, xin Chúa ban cho tôi, nếu tôi có rồi,
xin Chúa thương gìn giữ tôi trong ân nghĩa Người.” [Back]
Công phúc
Chúa được tôn vinh nơi cộng
đồng chư thánh, vì khi tuyên dương công trạng của họ,
Chúa tuyên dương ân sủng của Người. Cộng
đoàn hay tập thể phải trả công cho hành động của một
thành viên: thưởng khi có công, phạt khi có tội. Đây là
đòi hỏi của đức công bình vì phù hợp
với nguyên tắc bình đẳng. Hành động đáng thưởng
được gọi là công trạng của một người. [Back]
2007
Theo đúng nghĩa, con người
không có công trạng gì trước mặt Thiên Chúa. Giữa
Thiên Chúa và con người có một sự chênh lệch vô tận,
vì tất cả những gì chúng ta có đều nhận
được từ Đấng Sáng Tạo. [Back]
2008
Vì Thiên Chúa đã tự
do an bài cho con người cộng tác với ân sủng nên trong
cuộc sống, người ki-tô hữu có thể lập được
công trạng trước mặt Thiên Chúa. Khởi điểm cho sự
cộng tác này luôn là hành động của Thiên Chúa là Cha, Đấng
thôi thúc con người hành dộng tự do đến mức có thể
nói, công trạng đầu tiên thuộc về ân sủng của
Thiên Chúa, sau đó mới qui về người tín hữu. Hơn nữa,
công trạng của con người phải qui về Thiên Chúa,
vì những việc lành của họ xuất phát từ
Đức Ki-tô, nhờ Chúa Thánh Thần gợi hứng và trợ
lực. [Back]
2009
Khi nhận chúng ta làm nghĩa
tử, Thiên Chúa cho chúng ta thông hiệp bản tính của Người.
Ơn nghĩa tử cũng đem lại cho chúng ta một công trạng đích thực dựa
theo đức công chính nhưng không của Thiên Chúa. Đây là một
quyền xuất phát từ ân sủng, quyền vô song xuất
phát từ tình yêu Thiên Chúa biến chúng ta thành kẻ đồng
thừa tư với Đức Ki-tô và xứng đáng lãnh nhận
gia tài đã hứa là đời sống vĩnh cửu. Công trạng các việc lành của chúng ta
là hồng ân do lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Ân sủng
đã đi bước trước, giờ đây chúng ta phải đền
đáp những gì đã lãnh nhận. Công
trạng là hồng ân của Thiên Chúa. [Back]
2010
Trên bình diện ân sủng, không ai lập được công trạng
để đáng lãnh nhận ân sủng tiên khởi mở
đầu cho các ơn hoán cải, tha thứ và công chính hóa, vì
sáng kiến là do Thiên Chúa. Sau đó dưới tác động của
Thánh Thần và đức mến, chúng ta mới có thể lập công để
đáng lãnh nhận cho mình và cho tha nhân, những ân sủng
hữu ích cho việc thánh hóa, gia tăng ân sủng và tình
yêu, cũng như đạt được đời sống vĩnh cữu.
Theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa, chúng ta cũng có thể
lập công để đáng lãnh nhận những lợi ích
trần thế như sức khỏe, tình bạn. Ki-tô hữu
vẫn nguyện xin Thiên Chúa ban cho mình các ân sủng và
lợi ích này. Lời cầu nguyện có thể làm Thiên Chúa
thương, ban ân sủng cần thiết giúp chúng ta thực hành
những việc đáng thưởng công. [Back]
2011
Tình yêu Đức Ki-tô trong ta là nguồn
mọi công trạng của ta trước mặt Thiên Chúa. Ân sủng kết hợp
chúng ta với Đức Ki-tô trong tình yêu năng động, bảo
đảm tính siêu nhiên của các việc chúng ta làm và do đó bảo
đảm công trạng trước mặt Thiên Chúa và con người.
Các thánh luôn ý thức mãnh liệt, công trạng của
họ hoàn toàn do ân sủng.
Sau cuộc lưu đày trần thế, con hy vọng được vui
hưởng nhan Chúa nơi quê thật trên trời. Con không muốn
thu thập công trạng để được lên thiên đàng, con làm việc
chỉ vì tình
yêu Chúa mà thôi. Cuối cuộc đời này, con đến
trình diện trước mặt Chúa với đôi bàn tay không,
vì, lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm.
Mọi điều công chính của chúng con đều mang tì vết
trước nhan Chúa. Con chỉ ao ước mặc lấy sự công chính của
Chúa và đón nhận từ tình
yêu Chúa phần gia
nghiệp đời đời là chính Chúa, tận hiến
cho tình yêu nhân từ. [Back]
Sự thánh thiện Kitô giáo
Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người. Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang. [Back]
2013
Vì thế, mọi người đều thấy rõ ràng, tất cả các ki-tô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Ki-tô giáo và đến sự trọn lành của đức mến. Thiên Chúa mời gọi con người nên thánh: "Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha của anh em, Đấng ngự trên trời là Đấng hoàn thiện" (x. Mt 5,48). Để đạt được sự trọn lành đó, tín hữu phải sử dụng những sức lực mà Chúa Ki-tô đã ban nhiều ít tùy ý Người, để khi thực hành thánh ý Chúa Cha trong tất cả mọi sự, họ sẽ hết lòng tìm vinh danh Chúa và phục vụ tha nhân. Như thế, sự thánh thiện của dân Thiên Chúa sẽ sinh hoa trái dồi dào, như lịch sử Hội Thánh đã từng minh chứng rõ ràng qua đời sống của bao vị thánh. [Back]
2014
Người Ki-tô hữu phát
triển đời sống thiêng liêng nhằm kết hiệp
ngày càng mật thiết hơn với Đức Ki-tô. Sự kết
hiệp này được gọi là thần bí, vì nhờ các
bí tích và các mầu nhiệm thánh, người tín hữu được
tham dự vào mầu nhiệm Đức Ki-tô, và trong Đức
Ki-tô, họ còn được tham dự vào mầu nhiệm của
Ba Ngôi Chí Thánh. Thiên Chúa mời gọi tất cả chúng ta tới
kết hiệp mật thiết với Người, dù Thiên Chúa
chỉ ban những ân sủng đặc biệt và dấu chỉ
ngoại thường về đời sống thần bí này cho một
số người, để làm nổi bật những ân sủng
Người ban tặng cho tất cả chúng ta. [Back]
2015
Con đường tiến đến hoàn thiện phải ngang qua Thập Giá. Không thể nào đạt được sự thánh thiện, nếu không có từ bỏ và chiến đấu nội tâm. Sự tiến bộ thiêng liêng đòi phải có tu luyện và khổ chế, từng bước giúp người tín hữu sống trong bình an và hoan lạc của các mối phúc thật. Muốn lên cao, phải bắt đầu lại mãi, bắt đầu này tiếp nối bắt đầu kia. Ai trèo lên sẽ không ngừng mơ ước điều họ đã biết. [Back]
2016
Là con cái của Mẹ Hội
Thánh, chúng ta hy vọng Thiên Chúa là Cha sẽ ban ơn trợ lực giúp chúng ta bền
đỗ đến cùng và ban phần thưởng cho các việc làm,
mà nhờ ân sủng của Người, chúng ta đã làm trong
sự kết hiệp với Đức Giê-su. Vì cùng sống
theo một quy luật, chúng ta được chia sẻ "niềm
hy vọng hồng phúc" với những người mà Thiên
Chúa nhân hậu đã quy tụ trong "thành thánh
Giê-ru-sa-lem mới từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống,
sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang" (Kh 21,2).
2017
Tóm
lược
Ân sủng
của Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sự công chính của
Thiên Chúa. Qua đức tin và bí tích Thánh Tẩy, Chúa Thánh Thần
kết hợp chúng ta vào cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh
của Đức Ki-tô và cho chúng ta tham dự vào cuộc sống
của Đức Ki-tô. [Back]
2018
Cũng
như ơn hoán cải, ơn công chính có hai mặt. Dưới tác động
của ân sủng, con người quay về với Thiên Chúa và
từ bỏ tội lỗi; nhờ đó, được Thiên Chúa ban
ơn tha thứ và sự công chính. [Back]
2019
Ơn công chính hóa bao gồm ơn tha thứ tội lỗi, ơn thánh hóa và canh tân con người nội tâm.
2020
Cuộc
Khổ Nạn của Đức Ki-tô là nguồn ơn công chính hóa
cho mọi người. Ơn này được ban cho chúng ta qua bí tích Thánh
Tẩy, giúp chúng ta sống phù hợp với sự công chính
của Thiên Chúa, Đấng làm cho ta nên công chính. Ơn công chính hóa
nhằm vào việc tôn vinh Thiên Chúa, tôn vinh Đức Ki-tô và ban
tặng cho ta sự sống vĩnh cửu. Đây là công
trình tuyệt hảo của Thiên Chúa giàu lòng thương
xót. [Back]
2021
Ân sủng
là sự trợ giúp của Thiên Chúa để chúng ta đáp lại
lời mời gọi làm nghĩa tử của Người. Ân
sủng đưa chúng ta vào cuộc sống thâm sâu của Ba Ngôi
Thiên Chúa. [Back]
2022
Trong công trình của ân sủng, Thiên Chúa có sáng kiến
khởi xướng, chuẩn bị và gợi lên lời đáp trả
tự do của con người. Ân sủng đáp ứng những
khát vọng sâu xa của con người tự do. Ân sủng kêu
gọi con người tự do cộng tác và kiện toàn sự
tự do của họ. [Back]
2023
Ơn
thánh hóa là ơn nhưng không, qua đó Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống
của Người. Chúa Thánh Thần ban ơn này vào linh hồn, để
chữa trị tội lỗi và thánh hóa chúng ta. [Back]
2024
Ơn
thánh hóa làm cho chúng ta nên đẹp lòng Thiên Chúa. Còn đặc
sủng là những ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thần,
qui về ơn thánh hóa, nhằm mưu ích chung cho Hội Thánh. Thiên
Chúa còn hành động qua nhiều ân sủng trợ lực,
rất đa dạng, mà chúng ta phân biệt với thường sủng
vẫn hoạt động nơi chúng ta. [Back]
2025
Chúng
ta có lập được công trạng trước mặt Chúa là do
ý định tự do của Người muốn chúng ta cộng
tác vào công trình ân sủng. Công trạng đầu tiên thuộc
về ân sủng của Thiên Chúa, thứ đến mới tới
sự cộng tác của con người. Công trạng của
con người phải qui về Thiên Chúa. [Back]
2026
Vì
Thiên Chúa đón nhận chúng ta làm nghĩa tử, nên ân sủng của
Thánh Thần có thể đem lại cho chúng ta một công trạng
đích thực dựa theo đức công chính nhưng không của Thiên
Chúa. Đức mến trong ta là cội nguồn chính yếu, để
ta có được công trạng trước mặt Thiên Chúa. [Back]
2027
Không
ai lập được công trạng để lãnh nhận ân sủng
tiên khởi mở đầu cho hoán cải. Dưới tác động
của Thánh Thần, chúng ta có thể lập được công trạng
cho mình và cho tha nhân để đón nhận tất cả những
ân sủng hữu ích nhằm đạt tới đời sống
vĩnh cửu, cũng như các lợi ích cần thiết ở
trần gian. [Back]
2028
"Mọi người đều thấy
rõ ràng tất cả các ki-tô hữu, bất cứ theo
bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi
tiến đến sự viên mãn của đời sống
Ki-tô giáo và đến sự trọn lành của đức mến." (x. LG 40) "Sự
trọn lành Ki-tô giáo chỉ có một giới hạn, đó là
không có giới hạn nào cả" (T. Ghê-gô-ri-ô thành Nit-sê). [Back]
2029
"Ai muốn theo Thầy, phải từ
bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo." (Mt 16, 24). [Back]
Giáo Hội là mẹ và thầy
Chính trong Hội Thánh, nghĩa là trong sự hiệp thông với các tín hữu mà người Ki-tô hữu chu toàn ơn gọi của mình. Từ nơi Hội Thánh, chúng ta đón nhận Lời Thiên Chúa chứa đựng các giáo huấn của "Luật Chúa Ki-tô" (Gl 6,2). Từ nơi Hội Thánh, chúng ta nhận lãnh ân sủng, các bí tích để được nâng đỡ trên con đường lữ hành. Từ nơi Hội Thánh chúng ta học biết gương thánh thiện, nhận ra hình ảnh và cội nguồn sự thánh thiện này nơi Trinh nữ Ma-ri-a rất thánh, nhận ra sự thánh thiện này qua chứng từ chân chính của những kẻ đang sống thánh thiện, khám phá sự thánh thiện này trong truyền thống linh đạo và lịch sử chư thánh đã đi trước họ và đã được phụng vụ mừng kính theo chu kỳ chư thánh. [Back]
2031
Đời
sống luân lý là một việc thờ phượng thiêng
liêng. Chúng ta dâng hiến thân xác
mình làm của lễ sống động, thánh thiện, đẹp
lòng Thiên Chúa, trong Thân Thể Đức Ki-tô mà chúng ta là chi
thể, và trong sự hiệp thông với hy lễ Thánh Thể
của Người. Qua phụng vụ và việc cử hành các
bí tích, lời cầu nguyện và lời giảng dạy kết
hợp với ân sủng Đức Ki-tô, để soi sáng và nuôi dưỡng
đời sống Ki-tô hữu. Cũng như toàn thể đời sống
Ki-tô hữu, đời sống luân lý bắt nguồn và đạt
tới đỉnh cao trong hy lễ Thánh Thể. [Back]
2032
Đời sống luân lý và huấn quyền
của Hội Thánh
Hội Thánh, là "cột trụ và điểm tựa của chân lý" (1Tm 3,15), đã nhận từ các tông đồ mệnh lệnh long trọng của Đức Ki-tô là rao giảng chân lý cứu độ. Trong mọi thời và mọi nơi, Hội Thánh có thẩm quyền công bố các nguyên tắc luân lý, cả khi liên hệ đến trật tự xã hội. Hơn nữa, Hội Thánh có quyền phán quyết về tất cả các vấn đề nhân linh, mỗi khi những quyền lợi cơ bản của con người hay phần rỗi của các linh hồn đòi hỏi. [Back]
2033
Huấn
Quyền của các mục tử Hội Thánh về vấn đề luân lý, thường
được thực hiện trong huấn giáo và thuyết giảng,
với sự giúp đỡ của các nhà thần học và các
tác giả linh đạo. Như thế, kho tàng luân lý Ki-tô giáo
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ
khác, được các mục tử hướng dẫn và bảo vệ:
kho tàng luân lý Ki-tô giáo, gồm một tổng
hợp đặc thù những quy luật, mệnh lệnh và
các nhân đức phát sinh từ lòng tin vào Đức Ki-tô và được
sinh động nhờ đức mến. Ngoài kinh Tin Kính và kinh Lạy
Cha, huấn giáo theo truyền thống đặt căn bản trên
Thập Giới vốn trình bày những nguyên tắc của
đời sống luân lý có giá trị cho tất cả mọi
người. [Back]
2034
Đức Giáo Hoàng và các giám
mục là những thầy dạy đích thực, nghĩa là có
uy quyền của Đức Ki-tô, rao giảng cho dân được
trao phó cho các ngài, những điều phải tin và phải áp dụng
vào đời sống. Huấn
Quyền thông thường của Đức Giáo Hoàng và
các giám mục cùng hiệp thông với người, dạy dỗ
cho các tín hữu chân lý phải tin, đức mến phải
thực hành, chân phúc phải hy vọng. [Back]
2035
Đặc sủng bất
khả ngộ bảo đảm mức độ tham dự cao nhất
vào quyền bính của Đức Ki-tô. Ơn bất khả ngộ có
phạm vi rộng lớn như kho tàng mặc khải của
Thiên Chúa; liên hệ tới mọi yếu tố của giáo
lý, gồm cả luân lý, vì thiếu những
yếu tố này, các chân lý cứu độ của đức
tin sẽ không được bảo toàn, trình bày hay tuân giữ. [Back]
2036
Huấn Quyền
còn liên hệ đến các giới luật đặc biệt
của luật tự
nhiên, vì tuân giữ các giới luật ấy, theo
Đấng Sáng Tạo đòi hỏi, là điều cần thiết
để được cứu rỗi. Khi nhắc lại các quy định
của luật tự nhiên, huấn quyền thực thi một
phần chính yếu của chức năng ngôn sứ là loan báo
cho mọi người chân lý về con người và nhắc
nhở họ phải sống thế nào cho đẹp
lòng Thiên Chúa. [Back]
2037
Được Thiên Chúa ủy
thác, Hội Thánh dạy cho các tín hữu Luật Thiên Chúa như
con đường sự sống và chân lý. Do đó, các tín hữu
có quyền được giáo huấn về các giới
luật cứu độ của Thiên Chúa; những giới luật
này có sức thanh luyện óc phán đoán và cùng với ân sủng,
chữa lành lý trí bị tổn thương của con người.
Họ có nghĩa vụ tuân
giữ các hiến chế và sắc lệnh do quyền bính
hợp pháp của Hội Thánh ban bố. Cả khi những
điều này mang tính cách kỷ luật, các tín hữu vẫn
phải vâng phục với tình yêu. [Back]
2038
Khi giảng dạy và áp
dụng luân lý Ki-tô giáo, Hội Thánh cần đến sự
tận tâm của các mục tử, kiến thức của
các nhà thần học và đóng góp của mọi Ki-tô hữu và
mọi người thiện chí. Đức tin và việc thực
hành Tin Mừng đem lại cho mỗi người kinh nghiệm sống
trong Đức Ki-tô; kinh nghiệm này soi sáng và giúp họ đánh giá
những thực tại thần linh và nhân loại theo Thánh
Thần Thiên Chúa. Như vậy, Chúa Thánh Thần có thể dùng
những kẻ thấp hèn nhất, để soi sáng các người
thông thái và những người giữ chức vị cao trọng
nhất. [Back]
2039
Các thừa tác vụ phải
được thi hành với tinh thần phục vụ huynh đệ
và tận tụy đối với Hội Thánh nhân danh Chúa. Đồng
thời khi đưa ra phán đoán luân lý về các hành vi riêng của
mình, thừa tác viên phải tránh việc khép kín trong
nhãn giới cá nhân. Họ cần hết sức lưu
ý đến lợi ích của mọi
người, như được trình bày trong luật luân lý, tự
nhiên và mặc khải và dĩ nhiên, trong luật Giáo Hội
và giáo huấn có thẩm quyền của huấn quyền về
các vấn đề luân lý. Không nên đối nghịch lương
tâm cá nhân và lý trí với luật luân lý hay với
Huấn Quyền. [Back]
2040
Như
thế, một tinh thần
hiếu thảo đích thực đối với Hội Thánh sẽ
được triển nở trong các Ki-tô hữu. Đây là sự triển
nở bình thường của ân sủng bí tích Thánh Tẩy
đã tái sinh chúng ta trong lòng Hội Thánh và làm cho chúng
ta trở nên chi thể của Thân Thể Đức Ki-tô. Như
người mẹ hiền từ, Hội Thánh thông truyền
cho chúng ta lòng thương xót của Thiên Chúa; lòng thương
xót này chiến thắng mọi tội lỗi chúng ta, và tác
động đặc biệt trong bí tích Hòa Giải. Hằng
ngày qua phụng vụ, như người mẹ ân cần, Hội
Thánh đem đến cho chúng ta lương thực là Lời Chúa và Thánh Thể. [Back]
Các điều răn Hội Thánh
Các điều răn Hội Thánh nhằm nâng đỡ một đời sống luân lý gắn liền với đời sống phụng vụ và được đời sống này nuôi dưỡng. Tính cách bó buộc của các luật thiết định do các mục tử ban hành này có mục đích bảo đảm cho các tín hữu mức cần thiết phải có trong tinh thần cầu nguyện, trong cố gắng sống hợp với luân lý, trong sự gia tăng lòng mến Chúa yêu người. [Back]
2042
Điều răn thứ nhất: "Xem lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc", các tin hữu buộc phải tham dự thánh lễ và không làm những công việc nô dịch đòi các tín hữu thánh hóa ngày mừng Chúa Phục Sinh, cũng như những lễ phụng vụ chính để tôn kính các mầu nhiệm của Chúa, của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a Diễm Phúc, của các thánh, trước hết bằng việc tham dự cử hành Bí Tích Thánh Thể, là bí tích qui tụ cộng đoàn, và tránh tất cả những công việc tự bản chất ngăn trở việc thánh hóa những ngày ấy.
Điều răn thứ hai: "Mọi tín hữu buộc phải xưng tội trong một năm ít là một lần" bảo đảm việc chuẩn bị rước Thánh Thể bằng việc chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa Giải, nối tiếp công việc hoán cải và tha thứ của bí tích Thánh Tẩy.
Điều răn thứ ba:
"Mọi tín hữu buộc phải rước Mình
Thánh Chúa ít là một lần trong mùa Phục Sinh" bảo
đảm mức tối thiểu trong việc rước
Mình Máu Chúa Giê-su. Điều răn này phải được chu toàn
vào mùa Phục Sinh, vì lễ Phục Sinh là nguồn gốc
và là trung tâm của phụng vụ Ki-tô giáo. [Back]
2043
Điều
răn thứ tư: Vào những ngày sám hối do Hội Thánh ấn
định, các tín hữu buộc phải kiêng thịt và giữ
chay bảo đảm thời gian tu luyện và sám hối để
chuẩn bị tâm hồn mừng các ngày lễ phụng vụ.
Chay tịnh và hãm mình góp phần giúp chúng ta làm chủ
được các bản năng và đạt tới tự do nội tâm.
Điều răn thứ năm: "Các tín hữu buộc phải
đóng góp cho các nhu cầu của Hội Thánh" dạy các
tín hữu có bổn phận chu cấp cho những nhu cầu
vật chất của Hội Thánh, tùy theo khả năng mỗi
người.” Trong cước chú, các Hội Đồng Giám Mục có
thể ấn định những điều luật khác nữa
của Hội Thánh cho phần lãnh thổ của
mình. [Back]
2044
Đời sống luân lý và bằng chứng truyền giáo
Các tín hữu sống trung thành với Tin Mừng là một điều kiện chính yếu để Hội Thánh loan báo Tin Mừng và thi hành sứ mạng trong thế giới. Sứ điệp cứu độ phải được chứng thực bằng đời sống các Ki-tô hữu, để có thể biểu lộ trước mặt mọi người sức mạnh của chân lý và ánh sáng. Chứng từ của đời sống Ki-tô hữu và các việc lành được làm với tinh thần siên nhiên, có sức lôi kéo người ta đến với đức tin và với Thiên Chúa. [Back]
2045
Vì là chi thể của
Thân Thể mà Đức Ki-tô là Đầu,
các Ki-tô hữu góp phần vào việc xây dựng Hội Thánh nhờ
kiên định trong xác tín của mình và trong đời sống
luân lý. Hội Thánh lớn lên, kiên vững và phát triển
nhờ sự thánh thiện của các tín hữu, "cho đến
khi tất cả chúng ta đạt tới con người trưởng
thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô" (Eph 4,13). [Back]
2046
Nhờ sống theo Đức
Ki-tô, các Ki-tô hữu
góp phần làm cho Nước Chúa mau đến, vương quốc
đầy tràn sự thật, công lý và bình an mau đến.
Dù vậy, họ không xao lãng các trách vụ trần thế,
nhưng trung thành với Thầy mình, họ chu toàn các nghĩa
vụ đó cách ngay thẳng, nhẫn nại và yêu thương. [Back]
2047
Đời
sống luân lý là một việc thờ phượng thiêng
liêng. Đời sống Ki-tô hữu được nuôi dưỡng nhờ
phụng vụ và các bí tích. [Back]
2048
Các
điều răn Hội Thánh nhằm vào đời sống Ki-tô giáo
và luân lý; đời sống này gắn liền với phụng
vụ và được phụng vụ nuôi dưỡng. [Back]
2049
Huấn
Quyền của các mục tử Hội Thánh về vấn
đề luân lý thường được thực thi trong huấn
giáo và thuyết giảng, dựa trên Thập Giới,
vì Thập Giới trình bày những nguyên tắc của
đời sống luân lý có giá trị cho tất cả mọi
người. [Back]
2050
Đức
Giáo Hoàng và các giám mục là những thầy dạy đích thực
rao giảng cho dân Chúa những điều phải tin và phải
áp dụng vào đời sống. Các ngài cũng có bổn phận
lên tiếng về các vấn đề luân lý trong
lãnh vực của luật tự nhiên và của
lý trí. [Back]
2051
Ơn bất
khả ngộ của Huấn Quyền liên hệ tới mọi
yếu tố của giáo lý, gồm cả luân lý,
vì thiếu những yếu tố này, các chân lý cứu
độ của đức tin sẽ không được bảo toàn,
trình bày hay tuân giữ. [Back]
Thưa Thầy, tôi phải
làm gì?
"Thưa Thầy, tôi phải
làm điều gì tốt để được hưởng sự sống
đời đời?" Ðể trả lời cho người
thanh niên, Ðức Giê-su nêu lên sự cần thiết phải
nhận biết Thiên Chúa như "Ðấng tốt lành duy nhất",
như sự thiện tuyệt hảo và như nguồn mạch của
mọi điều thiện. Ðoạn Ðức Giê-su tuyên bố:
"Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy
giữ các điều răn". Rồi Người liệt kê các điều
răn về yêu người: "Ngươi không được giết người,
ngươi không được ngoại tình, ngươi không được trộm
cắp, ngươi không được làm chứng gian, ngươi phải thảo
kính cha mẹ". Sau hết, Ðức Giê-su tóm tắt các
điều răn kể trên cách tích cực rằng: "Ngươi phải
yêu đồng loại như yêu chính mình” (Mt 19,16-19).
2053
Ðức Giê-su còn
thêm: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì
hãy về bán tài sản của anh mà bố thí cho người
nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi
hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Câu trả
lời này không hủy bỏ câu trả lời trước. Muốn
đi theo Ðức Giê-su, phải tuân giữ các điều răn. Luật
cũ không bị bãi bỏ,
nhưng chúng ta được mời gọi tìm thấy sự
viên mãn của lề luật nơi con người của Thầy
mình, Ðấng chu toàn tuyệt hảo lề luật.
Trong Tin Mừng Nhất Lãm, lời Ðức Giê-su mời
gọi anh thanh niên giàu có đi theo Người với lòng vâng
phục của người môn đệ và tuân giữ các điều
răn, còn được kết hợp với lời mời sống
nghèo khó và khiết tịnh. Các lời khuyên Phúc Âm không thể
tách khỏi các điều răn. [Back]
2054
Ðức Giê-su vẫn
tôn trọng mười điều răn, nhưng cho thấy sức mạnh
của Thánh Thần đang tác động nơi các điều răn ấy.
Người đã rao giảng sự "công chính vượt trên
sự công chính của các kinh sư và Pha- ri-sêu” (Mt 5,20), cũng như của dân ngoại. Người cho
thấy tất cả những đòi hỏi của các điều
răn. "Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng:
Chớ giết người... còn Thầy, Thầy bảo
cho anh em biết: Ai giận anh em mình thì cũng
đáng bị đưa ra tòa rồi” (Mt 5,21-22).
2055
Khi được hỏi:
"Ðiều răn nào là điều răn trọng nhất?” (Mt 22,36), Ðức Giê-su đáp: "Ngươi phải yêu mến
Ðức Chúa, Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn
và hết trí khôn ngươi; đó là điều răn trọng nhất và là
điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng
giống điều răn ấy là: Ngươi phải yêu người thân cận
như chính mình. Tất cả luật Mô-sê và các sách ngôn sứ
đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22, 37-40). Thập Giới phải được giải
thích dưới ánh sáng của điều răn mến Chúa-yêu người,
vì yêu thương là chu toàn lề luật:
"Các điều răn như: "Ngươi không được ngoại
tình, không được giết người, không được trộm
cắp, không được ham muốn...", cũng như các điều
răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu đồng
loại như yêu chính mình. Ðã yêu thương thì không
làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn lề
luật vậy” (Rm 13, 9-10).
2056
Từ Hi lạp
"Dekalogos" trong Thánh Kinh có nghĩa là "Mười Lời",
chúng ta quen gọi là Thập Giới. Thập Giới được
Thiên Chúa mặc khải cho dân Người trên núi thánh. Mười
lời này tự ngón tay Người đã viết, khác với
các điều luật khác do Mô-sê viết. Thập Giới là Lời
Chúa theo một nghĩa rất đặc biệt và được lưu
truyền đến chúng ta trong sách Xuất Hành và sách Ðệ
Nhị Luật (Ðnl 5,6-22). Từ
thời Cựu Ước, các Sách Thánh luôn quy chiếu về Thập
Giới, nhưng ý nghĩa của chúng chỉ được mặc
khải trọn vẹn trong thời Tân Ước, nơi Ðức
Giê-su. [Back]
2057
Trước
hết, Thập Giới phải được hiểu trong bối
cảnh của cuộc Xuất Hành, biến cố giải
phóng vĩ đại của Thiên Chúa ở trung tâm của giao ước
cũ. Dù được viết dưới hình thức tiêu cực,
cấm đoán hay dưới hình thức tích cực (như
hãy tôn kính cha mẹ), "Thập Giới" đưa ra những
điều kiện của một đời sống được giải
thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Thập Giới là
một con đường sống:
"Phải yêu mến
Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo đường lối
của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ,
quyết định của Người, để anh em được sống,
được thêm đông đúc” (Ðnl 30,16).
Chúng ta thấy
rõ sức mạnh giải thoát của Thập Giới,
thí dụ điều răn nghỉ ngày hưu lễ, áp dụng cho cả
người ngoại kiều và nô lệ:
"Ngươi hãy
nhớ, ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập và
Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh
mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi
đó” (Ðnl 5,15). [Back]
2058
Thập Giới tóm tắt
và công bố Luật của Thiên Chúa: Những lời ấy
Ðức Chúa đã lớn tiếng phán với toàn thể
đại hội anh em, trên núi từ trong đám lửa, giữa
mây đen mù mịt. Người không thêm gì cả và viết
những lời ấy trên hai bia đá rồi ban cho tôi. Vì
thế, hai bia đá này được gọi là "Bia Chứng Ước”
(Xh
25,16), vì ghi khắc các điều
khoản của giao ước đã ký kết giữa
Thiên Chúa và dân Người. Các "Bia Chứng Ước” phải
được đặt vào "Hòm Bia Chứng Ước” (Xh 25,16;
40,1-2). [Back]
2059
Thập Giới được
Thiên Chúa công bố trong một cuộc thần hiện
("Ðức Chúa đã phán với anh em, mặt đối
mặt, trên núi, từ trong đám lửa": Ðnl 5,4). Qua Thập Giới, Thiên Chúa mặc khải
về chính bản thân Người và về vinh quang của Người.
Khi ban các điều răn, Thiên Chúa ban tặng chính mình và bày
tỏ thánh ý Người. Khi cho con người biết thánh
ý, Thiên Chúa mặc khải chính mình cho Dân Thánh. [Back]
2060
Việc ban tặng các điều
răn và lề luật là thành phần của giao ước do
Thiên Chúa ký kết với những kẻ thuộc về
Người. Theo sách Xuất Hành, Thập Giới được mặc
khải giữa lúc đề nghị lập giao ước và lúc
ký kết giao ước, sau khi dân chúng đã cam kết
"thi hành và tuân theo tất cả những gì Ðức
Chúa đã phán” (Xh 24,7). Thập
Giới được truyền đạt trong tương quan với Giao Ước.
("Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã thiết lập
một giao ước với chúng ta tại núi Kho-rép": Ðnl 5,2). [Back]
2061
Các điều
răn chỉ có ý nghĩa trọn vẹn trong Giao Ước.
Theo Sách Thánh, đời sống luân lý của con người
chỉ đầy đủ ý nghĩa trong và nhờ giao ước.
Ðiều thứ nhất của Thập Giới nhắc
lại sáng kiến tình yêu Thiên Chúa dành cho dân Người: Khi phạm tội, con người bị đuổi khỏi
địa đàng tự do và sa vào kiếp nô lệ trần thế.
Vì thế, câu đầu tiên của Thập Giới. [Back]
2062
Như thế, các điều
răn chỉ giữ vai trò thứ yếu, vì là những
hệ luận của việc con người thuộc về
Thiên Chúa như giao ước qui định. Ðời sống luân
lý là sự đáp trả sáng kiến yêu thương của Thiên
Chúa, là sự nhận biết, tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa.
Như thế, chúng ta cộng tác vào kế hoạch của Thiên
Chúa đang thực hiện trong lịch sử. [Back]
2063
Giao Ước
và cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người
còn được xác nhận qua sự kiện: trong các điều
răn, Thiên Chúa luôn nói ở ngôi thứ nhất (Ta là Ðức
Chúa) và nói với con người ở ngôi thứ hai (ngươi). Tất
cả các điều răn đều dùng đại từ nhân xưng ở số ít để chỉ định người nghe. Khi
bày tỏ thánh ý cho toàn dân, Thiên Chúa cũng bày tỏ
thánh ý cho riêng từng người:
Chúa ra lệnh phải
yêu mến Thiên Chúa và dạy giữ công bình đối với
người thân cận, để con người khỏi bất chính
và bất xứng trước mặt Thiên Chúa. Cho nên, nhờ Thập
Giới, Thiên Chúa chuẩn bị con người trở thành bạn
hữu của Người và một lòng một dạ với
tha nhân. Thập Giới vẫn
giữ nguyên giá trị đối với chúng ta, vì khi Chúa
đến, Thập Giới chẳng những không bị hủy
bỏ, mà còn được trọn nghĩa và triển nở. [Back]
2064
Thập
Giới trong truyền
thống
Hội ThánhTrung thành với Thánh Kinh và theo gương Ðức
Giê-su, truyền thống của Hội Thánh nhìn nhận
Mười Ðiều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa
hàng đầu. [Back]
2065
Từ thời thánh Âu-tinh, Mười Ðiều Răn đã có một vị trí quan trọng trong huấn giáo cho dự tòng và tín hữu. Vào thế kỷ XV, Mười Ðiều Răn thường được diễn tả bằng những công thức theo văn vần, dễ nhớ và tích cực, vẫn còn thông dụng ở nhiều nơi tới ngày nay. Các sách giáo lý của Hội Thánh thường trình bày luân lý Ki-tô giáo theo thứ tự của Mười điều Răn. [Back]
2066
Việc phân chia và đánh số các điều răn có thay đổi theo dòng lịch sử. Quyển Giáo Lý này theo cách phân chia của thánh Âu-tinh đã trở thành truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo. Các giáo phái Lu-ther cũng theo cách phân chia này. Các giáo phụ Hi- lạp phân chia hơi khác; cách chia này còn gặp thấy trong Giáo Hội Chính thống và các cộng đoàn Cải Cách. [Back]
2067
Mười Ðiều Răn nêu ra các đòi hỏi của tình mến Chúa yêu người. Ba điều răn đầu đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa, và bảy điều sau, đến tình yêu đối với tha nhân. Như Chúa đã đúc kết tất cả lề luật và các tiên tri vào trong hai giới răn yêu mến; Mười Ðiều Răn cũng được chia thành hai bảng. Ba điều khắc trên một bảng, và bảy điều trên bảng kia. [Back]
2068
Công Ðồng Tren-tô dạy rằng: các Ki-tô hữu buộc phải giữ Mười Ðiều Răn, và người đã được công chính hóa cũng có bổn phận phải tuân giữ các điều răn ấy. Công Ðồng Va-ti-can II cũng khẳng định: "Các giám mục vì là người kế nhiệm các tông đồ, nhận từ nơi Chúa...sứ mạng dạy dỗ muôn dân và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo, để mọi người được rỗi nhờ lãnh nhận đức tin, phép rửa và việc chu toàn các điều răn” (x. LG 24). [Back]
2069
Tính thống
nhất của Thập Giới
Thập Giới hợp
thành một thể thống nhất. Mỗi lời (điều
răn) qui chiếu về từng lời và tất cả các lời
khác, các lời tương thuộc lẫn nhau. Hai Bảng Luật
soi sáng cho nhau, hợp thành một khối thuần nhất.
Vi phạm một điều răn là phạm tới tất cả
các điều răn khác. Không thể tôn trọng người khác mà
không chúc tụng Thiên Chúa, Ðấng Sáng Tạo họ. Không
thể tôn thờ Thiên Chúa mà không yêu thương tất cả mọi
người là thụ tạo của Thiên Chúa. Mười điều
răn thống nhất đời sống đối thần với
đời sống xã hội của con người. [Back]
2070
Thập
Giới và luật tự nhiên
Thập Giới
là một phần mặc khải của Thiên Chúa; đồng
thời dạy chúng ta biết nhân tính đích thực của
con người. Thập Giới làm sáng tỏ những bổn
phận thiết yếu; do đó gián tiếp cho thấy những
quyền cơ bản gắn liền với bản tính của
nhân vị. Mười Ðiều Răn là một cách trình bày
luật tự nhiên đặc sắc. Từ nguyên thủy,
Thiên Chúa đã ghi sâu trong lòng con người các giới
luật tự nhiên. Sau đó người chỉ cần nhắc lại
các điều luật ấy cho họ. Ðó chính là Thập Giới. [Back]
2071
Thập Giới là mặc khải của Thiên
Chúa, dù với lý trí con người có thể tự biết
được nhưng để hiểu biết đầy đủ và chắc
chắn về các đòi hỏi của luật tự
nhiên, loài người tội lỗi cần đến mặc khải
nầy: Trong tình trạng tội lỗi,
ánh sáng lý trí bị lu mờ và ý chí bị sai lệch,
con người cần đến một trình bày đầy đủ
về các điều răn của Thập Giới. Chúng
ta biết được các điều răn nhờ mặc khải được
rao giảng trong Hội Thánh và nhờ tiếng nói của
lương tâm. [Back]
2072
Mọi
người phải tuân giữ Thập Giới
Thập Giới
nêu lên những bổn phận cơ bản của con người
đối với Thiên Chúa và với tha nhân, nên tự bản chất
là những nghĩa vụ quan trọng. Thập Giới bất
biến và có giá trị cho mọi thời và mọi nơi. Không
ai có thể chuẩn miễn Mười Ðiều Răn được
Thiên Chúa ghi khắc trong tâm khảm con người. [Back]
2073
Trách nhiệm tuân giữ Mười Ðiều Răn còn buộc ta giữ những nghĩa vụ theo chất thể tự nó là nhẹ. Chẳng hạn điều răn thứ năm ngăn cấm nhục mạ kẻ khác bằng lời nói; điều này có thể trở thành một tội nặng tùy hoàn cảnh và ý định của người nói. [Back]
2074
Không có
Thầy, anh em không làm gì được"
Ðức Giê-su
nói: "Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai luôn kết hợp với
Thầy và Thầy luôn kết hợp với người ấy,
người ấy sinh hoa kết quả dồi dào, vì
không có Thầy, anh em không làm được gì” (Ga
15,5). Hoa
quả ở đây là sự thánh thiện của một đời
sống phong phú, nhờ kết hợp với Ðức
Ki-tô. Khi chúng ta tin vào Ðức Giê-su Ki-tô, thông hiệp vào
các mầu nhiệm của Người và giữ các điều răn
của Người, Ðấng Cứu Thế sẽ đích thân đến
trong chúng ta để yêu thương Cha của Người và các anh em của
Người cũng là Cha và anh em chúng ta. Nhờ Thánh Thần,
chính Ðức Giê-su trở thành qui luật nội tâm sống
động cho mọi hoạt động của chúng ta.
"Ðây là điều răn của Thầy, anh em hãy yêu
thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga
15,12). [Back]
Tóm lược
"Tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Nếu anh muốn vào cõi sống, hãy giữ các điều răn.” (Mt 19,16-17).
2076
Qua đời sống và lời giảng dạy, Ðức Giê-su đã xác nhận Thập Giới có tính thường tồn. [Back]
2077
Thiên
Chúa ban tặng Thập Giới cũng là Giao Ước ký
kết giữa Thiên Chúa với dân Người. Mười Ðiều
Răn chỉ có ý nghĩa đích thực trong và nhờ Giao Ước. [Back]
2078
Trung
thành với Thánh Kinh và theo gương Ðức Giê-su, Truyền thống
Hội Thánh nhìn nhận Thập Giới có tầm quan
trọng và ý nghĩa hàng đầu. [Back]
2079
Thập
Giới hợp thành một khối thuần nhất, trong
đó mỗi lời hay mỗi điều răn đều qui chiếu về
toàn thể. Vi phạm một điều răn là vi phạm toàn thể
lề luật. [Back]
2080
Thập
Giới là một cách trình bày đặc sắc của luật
tự nhiên. Chúng ta biết được Thập Giới nhờ
mặc khải của Thiên Chúa và nhờ lý trí của
con người. [Back]
2081
Thập
Giới tự bản chất là những nghĩa vụ
quan trọng. Tuy nhiên, việc tuân giữ các giới luật
này cũng bao gồm những nghĩa vụ theo chất thể
tự nó là nhẹ. [Back]
2082
Thiên Chúa ban ân sủng trợ
lực để chúng ta thi hành được điều Người truyền
dạy. [Back]
Ngươi phải yêu mến Chúa
Đức Giê-su đã tóm tắt
các bổn phận của con người đối với Thiên
Chúa như sau: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn
ngươi". Đây là âm vang trực tiếp của lời mời
gọi long trọng: "Nghe đây, hỡi Ít-ra-en: Đức Chúa,
Thiên Chúa của chúng ta, là Đấng độc nhất" (Đnl 6,4). Thiên
Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Lời đầu tiên của
Thập Giới nhắc lại tình yêu của Thiên Chúa
duy nhất. Các lệnh truyền tiếp theo làm nổi bật
lời đáp trả yêu thương mà con người được mời gọi
để dâng lên Thiên Chúa. [Back]
2084
Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em là Đấng anh
em phải kính sợ và phụng thờ
Thiên Chúa tự mặc khải
bằng cách nhắc lại hành động đầy quyền
năng, nhân hậu và giải thoát của Người trong lịch
sử: "Ta đã đem ngươi ra khỏi nhà Ai Cập, khỏi
nhà nô lệ". Lời đầu tiên chứa đựng điều
răn thứ nhất của Lề luật: "Chính Đức
Chúa Thiên Chúa của anh em là Đấng anh em phải kính sợ,
chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ...Anh
emkhông được theo các thần khác" (Đnl 6,13-14). Lời mời gọi đầu tiên
và yêu sách chính đáng của Thiên Chúa là con người phải tiếp
nhận và tôn thờ Người. [Back]
2085
Thiên Chúa duy nhất và chân thật trước hết đã mặc khải vinh quang của Người cho Ít-ra-en. Người cũng mặc khải ơn gọi và bản chất của con người gắn liền với mặc khải về Thiên Chúa. Con người được mời gọi làm chứng cho Thiên Chúa bằng cách sống xứng với bản chất là thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Người.
"Thưa ông Tri-phon, chưa bao
giờ có Thiên Chúa nào khác và từ muôn đời, cũng không hề
có Thiên Chúa nào khác ngoài Đấng đã tạo dựng và xếp
đặt vũ trụ. Chúng tôi không nghĩ rằng Thiên Chúa của
chúng tôi khác với Thiên Chúa của ông, Đấng đã đưa tổ
tiên ông ra khỏi Ai Cập bằng bàn tay hùng mạnh và cánh
tay giương cao. Chúng tôi không hy vọng vào bất cứ Thiên Chúa
nào khác, vì không có, nhưng vào cùng một Đấng như Thiên
Chúa của ông, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, của I-sa-ác và của
Gia-cóp.” (T.
Giút-ti-nô, đối thoại 11,1). [Back]
2086
Điều răn thứ nhất bao gồm đức tin, đức cậy và đức mến. Khi nói đến Thiên Chúa là Đấng thường hằng, bất biến bất di bất dịch, chúng ta tuyên xưng Người trung tín và tuyệt đối công bình. Do đó, chúng ta phải đón nhận các lời của Người, hoàn toàn tin tưởng và trông cậy vào Người. Người là Đấng Toàn Năng, nhân từ và hằng giáng phúc thi ân. Ai lại không hy vọng vào Người ? Và ai lại không yêu mến Người khi thấy Người yêu thương và trìu mến đổ tràn muôn ơn trên chúng ta? Do đó, trong Thánh Kinh, khi khởi đầu hay kết thúc các huấn lệnh, Thiên Chúa phán: Ta là Đức Chúa. [Back]
2087
Đời sống luân lý của chúng ta bắt nguồn trong lòng tin vào Thiên Chúa, Đấng mặc khải tình yêu của Người cho chúng ta. Thánh Phao-lô nói đến "tin mà vâng phục Thiên Chúa" (Rm 1,5; 16, 26) như là một nghĩa vụ hàng đầu. Theo thánh Phao-lô, không nhận biết Thiên Chúa là nguyên nhân và lời giải thích cho mọi lệch lạc luân lý. Bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa là tin vào Người và làm chứng về Người. [Back]
2088
Điều răn thứ nhất buộc chúng ta nuôi dưỡng và giữ gìn đức tin cách cẩn trọng; đồng thời loại bỏ tất cả những gì nghịch cùng đức tin. Có nhiều tội nghịch cùng đức tin. Cố tình hoài nghi trong lãnh vực đức tin là tội xem thường hay không nhìn nhận là chân thật những điều Thiên Chúa mặc khải và Hội Thánh dạy phải tin. Tội vô tình hoài nghi là do dự không tin, không cố gắng vượt qua những vấn nạn đức tin hay khủng hoảng trước bóng tối của đức tin. Nếu cố chấp, hoài nghi sẽ làm cho tâm trí nên mù quáng. [Back]
2089
Vô tín là khinh thường chân lý mặc khải hay cố tình từ chối không tin. Lạc giáo là khi người tín hữu đã chịu phép Rửa Tội lại ngoan cố phủ nhận hay nghi ngờ một chân lý phải tin nhận, theo đức tin đối thần và công giáo. Bội giáo là tội chối bỏ toàn bộ đức tin Ki-tô giáo. Ly giáo là từ chối tùng phục Đức Giáo Hoàng hay từ chối hiệp thông với các phần tử của Hội Thánh đang phục quyền Người. [Back]
2090
Đức cậy
Khi Thiên Chúa tự mặc khải và kêu gọi con người, con người không thể đáp trả trọn vẹn tình yêu của Chúa bằng sức riêng mình. Họ phải trông cậy Chúa sẽ ban cho khả năng, để đáp trả tình yêu của Người và hành động cho phù hợp với các điều răn của đức mến. Cậy trông là hết lòng mong đợi được Thiên Chúa chúc phúc cho diện kiến Tôn Nhan Người. Cậy trông còn bao hàm thái độ sợ mất lòng Chúa và bị trừng phạt. [Back]
2091
Điều răn thứ nhất
cũng nhắm đến các tội nghịch cùng đức cậy,
như ngã lòng và tự phụ: Con người
ngã lòng,
khi không còn trông cậy Chúa sẽ ban cho mình ơn cứu
độ, trợ giúp mình đạt ơn cứu độ hay tha thứ
tội lỗi của mình. Điều này nghịch với
Thiên Chúa là Đấng nhân từ, công bằng, bởi Chúa luôn
trung thành với mọi lời Người hứa và giàu
lòng thương xót. [Back]
2092
Có hai loại tự phụ: quá tin vào sức riêng tưởng mình có thể tự cứu rỗi mà không cần sự giúp đỡ của ơn trên; hoặc ỷ lại vào Thiên Chúa toàn năng và giàu lòng thương xót (tưởng mình sẽ được tha thứ mà không cần hối cải và được vinh quang mà không cần lập công). [Back]
2093
Đức mến
Khi tin vào tình yêu Thiên
Chúa, con người phải đáp trả tình yêu của Người
bằng một tình yêu chân thành. Điều răn thứ nhất
dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi
sự, và yêu toàn thể thụ tạo vì Người và
cho Người (Đnl 6,4-5). [Back]
2094
Có nhiều tội nghịch
với tình yêu Thiên Chúa. Lãnh đạm
là tội xem thường hay không lưu tâm đến tình yêu Thiên
Chúa, không biết đến bản chất và sức mạnh của
tình yêu Thiên Chúa. Vong ân là tội quên lãng hay từ
chối nhận biết tình yêu Thiên Chúa và đáp trả
tình yêu Thiên Chúa bằng tình yêu của mình. Nguội lạnh là tội do dự, chểnh
mảng trong việc đáp lại tình yêu của Thiên Chúa,
hay từ chối dấn thân theo đức mến. Tội lười
biếng trong việc thiêng liêng có thể đưa tới từ
khước niềm vui Thiên Chúa ban và khinh chê mọi lợi ích
thiêng liêng. Tội oán ghét Thiên Chúa
là do kiêu ngạo, chống lại tình yêu của Người,
cho rằng Người không tốt lành và chối từ Thiên
Chúa vì Người cấm phạm tội và trừng trị
bằng hình phạt. [Back]
Ngươi phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi
Các nhân đức đối thần: tin, cậy, mến, định hình và đem lại sức sống cho các đức tính luân lý. Đức mến đòi buộc chúng ta là thụ tạo phải cảm tạ ơn Thiên Chúa cho xứng đáng, vì đã mang ơn Người. Nhân đức thờ phượng giúp chúng ta sống tâm tình này. [Back]
2096
Thờ lạy
Hành vi đầu tiên của
nhân đức thờ phượng là thờ lạy Thiên Chúa, nghĩa
là nhận biết Người là Thiên Chúa, là Đấng Sáng Tạo
và Cứu Chuộc, là Chúa và Thầy của mọi loài, là
Tình Yêu vô biên và giàu lòng thương xót. Dựa vào sách Đệ
Nhị Luật (Đnl 6, 13), Đức
Giê-su nói: Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa, là Chúa của
ngươi, và phải thờ phượng. [Back]
2097
Thờ lạy Thiên Chúa là
tôn kính và tuyệt đối thần phục Người vì
nhận biết "tính hư không của thụ tạo",
biết sự hiện hữu của chúng hoàn toàn nằm trong
tay Người. Như Đức Ma-ri-a trong kinh Magnificat, chúng ta thờ
lạy Thiên Chúa bằng cách ca ngợi, chúc tụng Người,
khiêm tốn tuyên xưng với lòng biết ơn rằng Thiên
Chúa đã làm những việc trọng đại và Danh Người
chí thánh (Lc 1,46-49). Việc
thờ lạy Thiên Chúa duy nhất, giải thoát con người
khỏi thái độ khép kín, khỏi nô lệ tội lỗi
và sự sùng bái thế giới như ngẫu tượng. [Back]
2098
Cầu nguyện
Các hành vi tin cậy mến,
như điều răn thứ nhất đòi buộc, được hoàn
tất trong kinh nguyện. Nâng tâm hồn lên tới Thiên Chúa
để chúc tụng, tạ ơn, chuyển cầu và van xin là một
cách thờ lạy Người. Cầu nguyện là điều kiện
thiết yếu, giúp ta tuân giữ giới răn của Thiên
Chúa: "Phải cầu nguyện luôn, không được nản
chí." (Lc 18,1) [Back]
2099
Lễ tế
Con người phải dâng
lên Thiên Chúa những lễ tế để tỏ lòng thờ
phượng, tạ ơn, khẩn cầu và sự hiệp thông với
Người. "Mọi hành vi con người thực hiện để
được kết hiệp với Thiên Chúa và được vinh phúc, đều
là lễ tế đích thực" (FTh.
Âu Tinh, Thành Đô Thiên Quốc 10,6 ). [Back]
2100
Con người cần phải
có tâm tình bên trong để lễ tế bên ngoài được
chân thực: Hy lễ đẹp lòng Chúa là tấm
lòng tan nát khiêm cung. Các ngôn sứ thời Cựu Ước
thường lên án các lễ tế mà người dâng thiếu tâm
tình bên trong hay không có tình thương đối với tha
nhân. Đức Giê-su nhắc lại
lời của ngôn sứ Hô-sê: "Ta muốn lòng nhân
chứ đâu cần lễ tế" (Hs
6,6). Chỉ có một lễ tế hoàn hảo duy nhất
là lễ tế Đức Ki-tô dâng trên bàn thờ thập giá, để
tận hiến cho tình yêu của Chúa Cha và để cứu
chuộc chúng ta. Kết hợp với lễ tế này,
chúng ta biến cuộc đời mình thành lễ tế
dâng lên Thiên Chúa. [Back]
2101
Lời hứa và lời
khấn
Trong nhiều hoàn cảnh,
người Ki-tô hữu được mời gọi để tuyên hứa với
Thiên Chúa. Các bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Hôn Phối và Truyền
Chức Thánh luôn kèm theo những lời hứa. Do lòng
đạo đức cá nhân, người Ki-tô hữu có thể hứa
với Chúa thực hiện một hành động, một kinh
nguyện, một việc bố thí, một cuộc hành
hương hay một điều tương tự. Việc trung thành tuân giữ
lời hứa với Chúa, chứng tỏ lòng kính trọng
Thiên Chúa uy linh và tình yêu đối với Thiên Chúa hằng
trung tín. [Back]
2102
Lời khấn là một lời hứa có suy tính và tự
do dâng lên Thiên Chúa, về một điều thiện tốt hơn
và có thể thi hành được. Vì thuộc về đức
thờ phượng, lời khấn buộc phải được
chu toàn. Lời khấn là một hành vi đạo đức, nhờ đó người
tín hữu tự hiến cho Thiên Chúa hay hứa thực hiện
một việc tốt dâng kính Người. Qua việc chu toàn lời
khấn, họ dâng lên Thiên Chúa điều họ đã hứa
và thánh hiến. Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy thánh
Phao-lô luôn lo lắng chu toàn điều đã khấn. [Back]
2103
Hội Thánh công nhận
giá trị gương mẫu của những lời khấn sống
theo các lời khuyên Phúc âm: Hội
Thánh là Mẹ chúng ta, vui mừng khi thấy trong lòng
mình có nhiều con cái nam nữ muốn theo sát gương Đấng
Cứu Thế và tỏ lộ rõ ràng hơn mầu nhiệm
tự hủy của Người. Họ chấp nhận nghèo
khó trong tự do của con cái Chúa và từ bỏ ý
riêng hơn cả mức đòi buộc của giáo luật, họ
tự nguyện tùng phục một con người, tùng phục
vì Chúa, trong những gì liên hệ tới sự trọn
lành, hầu nên giống Chúa Ki-tô vâng lời cách hoàn toàn hơn. Trong một số trường hợp, Hội Thánh
có thể miễn chuẩn những lời khấn và lời
hứa, vì những lý do chính đáng. [Back]
2104
Tự do tôn giáo
Mọi người đều
có trách nhiệm đi tìm chân lý, đặc biệt là những
gì liên quan tới Thiên Chúa và Hội Thánh của Người.
Khi đã nhận ra chân lý, họ phải tiếp nhận
và trung thành với chân lý ấy. Trách nhiệm này xuất
phát từ chính bản tính của con người, không ngăn cản
chúng ta chân thành tôn trọng các tôn giáo khác thường cũng
mang lại những tia sáng của chân lý đang chiếu
soi cho mọi người. Trách nhiệm này cũng không mâu thuẫn
với đức mến đòi hỏi các tín hữu phải
yêu thương, khôn ngoan, kiên nhẫn để tiếp xúc với những
ai còn lầm lạc hay thiếu hiểu biết về
vấn đề đức tin. [Back]
2105
Cá nhân cũng như xã
hội đều phải tôn thờ Thiên Chúa cách xứng hợp.
Đây là giáo lý truyền thống công giáo về trách nhiệm
luân lý của con người và của xã hội đối
với tôn giáo chân thực và Hội Thánh duy nhất của
Đức Ki-tô. Khi không ngừng loan báo Tin Mừng của Chúa,
Hội Thánh cố gắng đem tinh thần Ki-tô giáo thấm
nhuần não trạng, phong tục, luật lệ và cơ
cấu của cộng đoàn nơi họ sống. Người Ki-tô
hữu có trách nhiệm xã hội là khơi dậy trong
lòng mọi người tình yêu đối với chân
lý và sự thiện, và phải trân trọng tình
yêu đó. Trách nhiệm này buộc họ phải truyền bá việc
tôn thờ của tôn giáo duy nhất và chân thực, đang thể
hiện trong Hội Thánh công giáo và tông truyền. Người
Ki-tô hữu được mời gọi trở thành ánh sáng thế
gian. Nhờ đó, Hội Thánh minh chứng vương quyền của
Đức Ki-tô trên vạn vật, đặc biệt là trên
xã hội loài người. [Back]
2106
Tự do tôn giáo có nghĩa là trong phạm vi tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng như không bị ngăn trở, cách kín đáo hay công khai, để hành động theo lương tâm trong những giới hạn họ được phép, như một cá nhân đơn độc hay liên hệ với những người khác. Quyền này căn cứ trên chính bản tính con người vì nhân phẩm cho họ được tự do để thuận theo chân lý thiên linh vượt trên trật tự trần thế. Do đó, những ai không thực hiện trách nhiệm tìm kiếm và gắn bó với chân lý cũng có quyền này. [Back]
2107
Nếu như, vì những
hoàn cảnh đặc biệt, như trong một số dân tộc
hiện nay, một tôn giáo nào đó được luật pháp nhà nước
nhìn nhận, thì mọi người vẫn phải
công nhận và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của mọi
công dân cũng như của những tập thể tôn giáo khác. [Back]
2108
Quyền tự do tôn giáo
không cho phép lương tâm con người được đi theo hay phổ biến
điều sai lạc, nhưng đây là quyền tự nhiên của con
người, quyền được tự do theo dân luật nghĩa
là được chính quyền bảo vệ khỏi những áp lực
bên ngoài, để thực thi tự do tôn giáo, trong giới hạn
thích đáng. Quyền tự nhiên này phải được luật
pháp xã hội tôn trọng, phải là một quyền
công dân. [Back]
2109
Quyền tự do tôn giáo
không phải là vô hạn, cũng không thể giới hạn
hẹp do "trật tự công cộng" theo chủ nghĩa
thực nghiệm hay tự nhiên. Chính quyền phải có một
đường lối chính trị khôn ngoan để xác định những
giới hạn thích đáng của quyền tự do tôn giáo cho
mỗi hoàn cảnh xã hội, căn cứ vào những
đòi hỏi của công ích. Những giới hạn này
phải được chính quyền xác nhận theo những quy tắc
pháp lý phù hợp với trật tự luân lý khách
quan. [Back]
Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với
Ta
Điều răn thứ nhất cấm tôn thờ những thần khác ngoài Đức Chúa Độc Nhất đã tự mặc khải cho dân, cấm mê tín và vô tôn giáo. Có thể nói mê tín là một lòng đạo quá mức và sai trái. Vô tôn giáo là một thói xấu nghịch với nhân đức thờ phượng vì thiếu lòng đạo. [Back]
2111
Mê tín
Mê tín là lệch lạc trong
tâm tình tôn giáo và trong cách thể hiện tâm tình
này. Mê tín cũng có thể xảy đến khi chúng ta thờ
phượng Thiên Chúa chân thật; ví dụ như gán một ý
nghĩa ma thuật cho một số thực hành vốn
chính đáng hay cần thiết. Nếu cho rằng chỉ cần
đọc các lời kinh hay làm các dấu chỉ bí tích là có hiệu
quả, bất chấp những tâm tình phải có bên
trong, người ta rơi vào mê tín. [Back]
2112
Thờ ngẫu tượng
Điều răn thứ nhất
lên án thuyết đa thần, buộc
con người không được tin vào thần nào khác ngoài Thiên Chúa,
không được tôn kính các thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa duy nhất.
Thánh Kinh luôn nhắc lại việc từ bỏ các ngẫu
tượng bằng vàng, bằng bạc, do tay người làm ra,
có miệng mà không nói được, có mắt mà không thấy được. Các ngẫu tượng là hão huyền nên ai thờ
ngẫu tượng sẽ trở thành hão huyền, kẻ
làm ra hoặc tin ở tượng thần cũng giống như
chúng vậy. Ngược lại, Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống,
Đấng làm cho sống và can thiệp vào lịch sử. [Back]
2113
Thờ ngẫu tượng
không chỉ là sai lầm của dân ngoại, nhưng còn là
một cám dỗ thường xuyên đối với tín hữu. Thờ
ngẫu tượng là tôn thờ và kính bái một thụ tạo
thay vì Thiên Chúa, cho dù đó là thần linh hay ma quỉ (ví dụ:
giáo phái thờ Xa-tan), quyền lực, khoái lạc, chủng
tộc, tổ tiên, nhà nước, bạc tiền v.v. Đức
Giê-su dạy: "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa
làm tôi tiền của được" (Mt 6,24). Rất nhiều vị tử đạo
đã chết vì không chịu thờ phượng Con Thú
dù chỉ giả vờ thôi. Ai thờ ngẫu tượng là mặc
nhiên không nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa Tể duy nhất,
nên không thể thông hiệp với Thiên Chúa. [Back]
2114
Khi tôn thờ Thiên Chúa Duy
nhất, con người thống nhất đời sống. Điều
răn dạy tôn thờ Đức Chúa duy nhất làm cho con người
trở nên tập trung, khỏi bị phân tán. Thờ ngẫu
tượng là tình trạng cảm thức tôn giáo vốn
bẩm sinh nơi con người bị suy đồi . Kẻ thờ
ngẫu tượng gán ý niệm về Thiên Chúa bất diệt
cho bất cứ thứ gì không phải là Thiên Chúa. [Back]
2115
Bói toán và ma thuật
Thiên Chúa có thể cho các
ngôn sứ hay các thánh nhân biết về tương lai. Tuy vậy,
thái độ đúng đắn của ki-tô hữu là phó thác hoàn toàn
trong tay Chúa Quan Phòng những gì thuộc về
tương lai và từ bỏ mọi thứ tò mò thiếu
lành mạnh trong lãnh vực này. Thế nhưng, ai không tiên
liệu là người thiếu trách nhiệm. [Back]
2116
Phải loại bỏ mọi
hình thức bói toán: cậy
nhờ Xa-tan hay ma quỉ, gọi hồn người chết
hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương
lai. Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng,
xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những
hình thức che giấu ước muốn có quyền trên
thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng
như ước muốn liên kết với các thế lực huyền
bí. Điều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần
phục chỉ dành cho Thiên Chúa. [Back]
2117
Ai muốn dùng ma thuật hay phù thuỷ để chế ngự
các thế lực huyền bí, bắt chúng phục vụ
mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người
khác dù là để chữa bệnh, cũng lỗi nặng nhân
đức thờ phượng. Các việc nầy càng đáng lên án hơn
nữa khi có dụng ý hại người, hay nhờ đến
sự can thiệp của ma quỉ. Mang bùa cũng là điều
đáng trách. Chiêu hồn thường đi kèm cả bói toán hay ma thuật.
Hội Thánh cảnh giác các tín hữu phải xa lánh các điều
ấy. Khi dùng các phương thuốc gia truyền, không được
kêu cầu các thế lực ma quỉ cũng như lợi dụng
sự nhẹ dạ của người khác. [Back]
2118
Những tội nghịch
với đức thờ phượng
Điều răn thứ nhất
kết án những tội nghịch với đức thờ
phượng: thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay hành động;
phạm thánh và mại thánh. [Back]
2119
Thử thách Thiên Chúa là dùng lời nói hay hành động để thử
lòng nhân hậu và quyền toàn năng của Thiên Chúa. Đây
là điều Xa-tan muốn Đức Giê-su làm, khi xúi giục Người
gieo mình từ trên nóc Đền Thờ xuống và ép buộc
Thiên Chúa can thiệp. Đức Giê-su dùng Lời Chúa đối lại:
"Ngươi đừng thử thách Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi" (Đnl 6,16). Thách đố
như vậy là xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng chúng ta phải
cậy trông vì là Đấng Sáng Tạo và là Đức Chúa. Thử
thách Thiên Chúa luôn ẩn chứa thái độ ngờ vực
tình yêu thương, sự quan phòng và quyền năng của
Thiên Chúa. [Back]
2120
Phạm thánh là xúc phạm hay cư xử bất xứng đối
với các bí tích và các hành vi phụng vụ khác, cũng như đối
với người, đồ vật và các nơi đã thánh hiến
cho Thiên Chúa. Phạm thánh là một tội nặng, đặc
biệt khi phạm đến Thánh Thể, bởi vì trong
bí tích nầy, chính Đức Ki-tô hiện diện thực sự
với chúng ta. [Back]
2121
Mại thánh là mua hay bán những thực tại thiêng
liêng. Khi phù thủy Si-mon muốn mua quyền năng Thánh Thần
mà ông thấy đang hoạt động nơi các tông đồ, Phê-rô
đã trả lời: "Bạc của anh tiêu tan luôn với
anh cho rồi, và anh tưởng có thể lấy tiền mà mua
ân huệ của Thiên Chúa" (Cv 8,20). Như thế, vị tông đồ đã hành động
phù hợp với lời Đức Giê-su: "Anh em đã được
cho không, cũng hãy cho không" (Mt 10,8). Không thể chiếm hữu những của
cải thiêng liêng và sử dụng như chủ hay người có
toàn quyền, bởi vì những điều ấy là do
Thiên Chúa ban tặng nên con người chỉ có thể đón nhận
như quà tặng nhưng không từ Thiên Chúa. [Back]
2122
Khi ban các bí tích, thừa
tác viên không được đòi thêm cái gì khác ngoài số tiền
dâng cúng mà thẩm quyền Hội Thánh đã ấn định,
và cũng còn phải cẩn thận đừng để những
người nghèo không được lãnh nhận bí tích vì
lý do túng thiếu. Thẩm quyền Hội Thánh ấn
định các của dâng cúng này theo nguyên tắc dân Ki-tô giáo phải
cấp dưỡng cho các thừa tác viên. "Thợ thì
đáng được nuôi ăn" (Mt 10,10). [Back]
2123
Có nhiều người đương
thời với chúng ta không nhận ra hoặc công khai loại
bỏ mối liên kết mật thiết và sống động
giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, chủ
nghĩa vô thần phải được kể là một trong những
sự kiện nghiêm trọng nhất trong thời đại
này. [Back]
2124
Từ "chủ nghĩa
vô thần" chỉ nhiều hiện tượng rất khác
nhau. Hình thức thông thường là chủ nghĩa duy vật
thực hành; chủ nghĩa này giới hạn nhu cầu và
tham vọng của con người trong không gian và thời gian.
Chủ nghĩa nhân bản vô thần nhận định sai lầm,
khi coi con người là chính cùng đích cho mình, là kẻ tạo
nên và điều khiển lịch sử riêng mình. Một
hình thức khác của chủ nghĩa vô thần hiện
nay muốn giải phóng con người bằng một cuộc
giải phóng kinh tế và xã hội; hình thức
vô thần này cho rằng tự bản chất tôn giáo ngăn cản
sự giải phóng trên, vì khi gây cho con người niềm
hy vọng hão huyền vào cuộc sống mai hậu,
tôn giáo đã làm cho họ xao lãng việc xây dựng
xã hội trần thế. [Back]
2125
Chủ nghĩa vô thần
là một tội nghịch nhân đức thờ phượng,
vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu
của Thiên Chúa. Trách nhiệm tinh thần về lỗi nầy
có thể giảm bớt nhiều ít, tùy ý định và
hoàn cảnh mỗi người. Người tín hữu có thể
chịu phần trách nhiệm không phải là nhỏ trong việc
khai sinh vô thần, hoặc bởi xao lãng việc giáo dục
đức tin, hoặc trình bày sai lạc về giáo
lý, hoặc do những thiếu sót trong đời sống
tôn giáo, luân lý và xã hội. Phải nói rằng họ
che giấu hơn là bày tỏ chân dung đích thực của Thiên
Chúa và tôn giáo. [Back]
2126
Chủ nghĩa vô thần thường đặt nền tảng trên một quan niệm sai lạc về quyền tự lập của con người, đến độ phủ nhận mọi lệ thuộc vào Thiên Chúa. Hội Thánh cho rằng nhìn nhận Thiên Chúa không có gì nghịch lại với phẩm giá con người, vì phẩm giá ấy đặt nền tảng và nên hoàn hảo trong chính Thiên Chúa. "Hội Thánh biết rõ sứ điệp của mình phù hợp với những khát vọng thầm kín nhất của lòng người" (GS 21,7). [Back]
2127
Chủ nghĩa bất
khả tri
Chủ nghĩa bất khả
tri có nhiều dạng thức. Trong một số trường
hợp, người theo chủ nghĩa này không phủ nhận
Thiên Chúa, nhưng tin có một Đấng siêu việt không tự mặc
khải nên không ai nói được gì về Người. Trong những
trường hợp khác, người theo chủ nghĩa này không đề
cập đến Thiên Chúa, vì cho rằng không thể chứng
minh, xác nhận hay phủ nhận về Người. [Back]
2128
Đôi khi chủ nghĩa bất khả tri ẩn chứa một cố gắng tìm kiếm nào đó về Thiên Chúa, nhưng cũng có thể biểu hiện một thái độ thờ ơ, một cách trốn thoát trước vấn đề tối hậu của con người, và một sự lười biếng của lương tâm. Chủ nghĩa bất khả tri thường đồng nghĩa với chủ nghĩa vô thần thực hành. [Back]
Ngươi không được làm cho mình bất cứ hình tượng
nào về Thiên Chúa
Mệnh lệnh của Thiên Chúa cấm mọi hình thức tạc tượng vẽ hình Thiên Chúa. Sách Đệ Nhị Luật giải thích: "Anh em đã không thấy hình bóng nào, ngày Đức Chúa phán với anh em tại núi Kho-rép từ trong đám lửa, vì thế đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì." (Đnl 4,15-16). Chính Thiên Chúa tuyệt đối siêu phàm đã tự mặc khải cho Ít-ra-en. "Người là mọi sự" nhưng đồng thời, "vượt trên tất cả các công trình Người làm" (Hc 43,27-28). Người là "nguồn mạch mọi vẻ đẹp" (Kn 13,3). [Back]
2130
Tuy
nhiên, từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền
lệnh hay cho phép làm những hình tượng biểu
trưng ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời nhập thể: ví dụ
con rắn đồng, khám giao ước và các Kê-ru-bim. [Back]
2131
Dựa vào mầu nhiệm
Ngôi Lời Nhập Thể mà Công Đồng chung thứ bảy,
ở Nixêa (năm 787), đã biện minh cho việc tôn kính ảnh
tượng thánh, như ảnh tượng Đức Ki-tô, Mẹ Thiên
Chúa, các thiên thần và tất cả các thánh, để chống
lại chủ trương bài ảnh tượng. Khi nhập thể,
Con Thiên Chúa đã mở ra một kế hoạch mới
cho ảnh tượng. [Back]
2132
Việc các Ki-tô hữu tôn kính ảnh tượng, không nghịch lại điều răn thứ nhất cấm thờ ngẫu tượng. Thực vậy, khi tôn kính một ảnh tượng, chúng ta hướng tâm hồn lên đến nguyên ảnh và tôn kính một ảnh tượng là tôn kính chính Đấng được miêu tả. Đối với ảnh tượng thánh, chúng ta chỉ tôn kính chứ không thờ phượng như Thiên Chúa: "Chúng ta không thờ các ảnh tượng như những thực tại, nhưng như những hình ảnh đưa dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa nhập thể. Việc tôn kính không dừng lại ở ảnh tượng, nhưng vươn tới chính thực tại được biểu thị" (T.Tô-ma A-qui-nô. s.th. 2-2, 81,3 ad 3). [Back]
2133
Tóm
lược
"Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng, hết dạ, hết sức anh em" (Đnl 6,5). [Back]
2134
Điều
răn thứ nhất kêu gọi con người tin vào Thiên Chúa,
trông cậy nơi Người và yêu mến Người trên hết mọi
sự. [Back]
2135
“Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi" (Mt 4,10). Thờ lạy Thiên Chúa, kêu cầu Người, dâng lên Người việc phụng thờ xứng hợp, chu toàn các lời khấn hứa cùng Người, là những hành vi thuộc nhân đức thờ phượng theo điều răn thứ nhất. [Back]
2136
Cá
nhân cũng như xã hội đều phải tôn thờ Thiên
Chúa cách xứng hợp. [Back]
2137
Con
người "phải có quyền tự do bày tỏ tôn giáo của
mình cách thầm kín và công khai. [Back]
2138
Mê
tín là lệch lạc trong việc thờ phượng Thiên Chúa
chân thật, chẳng hạn thờ ngẫu tượng hay
trong các hình thức bói toán và ma thuật. [Back]
2139
Điều
răn thứ nhất cấm các hành vi vô đạo như thử thách
Thiên Chúa bằng lời nói hay hành động, phạm thánh và mại
thánh. [Back]
2140
Vô thần
là tội nghịch với điều răn thứ nhất,
vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu
của Thiên Chúa. [Back]
2141
Việc
tôn kính các ảnh tượng thánh đặt nền tảng trên mầu
nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa và không
nghịch lại điều răn thứ nhất. [Back]
Điều răn thứ hai
Ngươi không được kêu tên Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà làm điều bất xứng.
Anh em còn nghe luật dạy người xưa rằng: "Ngươi chớ bội thề... còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, đừng thề chi cả" (Mt 5,33-34).
Danh Thiên Chúa là Thánh
Điều răn thứ hai dạy phải tôn kính danh Thiên Chúa. Cũng như điều răn trước, điều răn này thuộc về nhân đức thờ phượng và đặc biệt quy định việc sử dụng ngôn từ để diễn đạt các sự thánh. [Back]
2143
Trong các lời mặc khải,
lời mặc khải về Danh Thiên Chúa chiếm vị
trí hàng đầu. Thiên Chúa bày tỏ Danh Người cho những kẻ
tin, mặc khải cho họ chính mầu nhiệm bản
thân Người. Điều này cho thấy Thiên Chúa tín nhiệm và
thân thiết với con người. "Danh của Thiên Chúa là
Thánh", nên con người không được lạm dụng. Họ
phải ghi nhớ Danh Thánh ấy trong kính cẩn tôn thờ
và yêu mến (Gcr 2,17). Chỉ được
kêu cầu Danh Thánh để chúc tụng, ca ngợi và tôn vinh
Thiên Chúa mà thôi. [Back]
2144
Tôn kính Danh Thiên Chúa là tôn kính chính Thiên Chúa và mọi thực tại thánh. Cảm thức về sự thánh thiêng thuộc nhân đức thờ phượng: Những tâm tình kính sợ và cảm thức về linh thánh có phải là những tâm tình Ki-tô giáo không? Không ai có thể nghi ngờ điều đó. Đó chính là tâm tình mà chúng ta phải có, và sẽ tăng lên mãnh liệt, nếu chúng ta thấy được Thiên Chúa uy linh. Đó là những tâm tình mà chúng ta phải có, nếu chúng ta nhận ra sự hiện diện của Người. Chúng ta sẽ có những tâm tình ấy, tùy mức độ chúng ta tin vào sự hiện diện của Người. Không có những tâm tình ấy, tức là không nhận ra, không tin Người hiện diện. [Back]
2145
Người tín hữu phải
làm chứng cho Danh Thiên Chúa, bằng cách can đảm tuyên xưng đức
tin. Việc rao giảng và huấn giáo phải được thực
hiện trong tinh thần thờ phượng và tôn kính đối với
Thánh Danh Đức Giê-su, Chúa chúng ta. [Back]
2146
Điều
răn thứ hai cấm lạm
dụng Danh Thiên Chúa, nghĩa là sử dụng bất
xứng đối với danh của Thiên Chúa, của Đức
Giê-su Ki-tô, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và toàn thể các thánh. [Back]
2147
Những lời hứa
với tha nhân nhân danh Thiên Chúa, đều liên hệ đến danh
dự, sự trung thành, sự chân thật và uy quyền của
Thiên Chúa, nên phải được tôn trọng theo lẽ công
bình. Thất hứa là lạm dụng danh Thiên Chúa, và
biến Thiên Chúa thành kẻ nói dối (1Ga 1,10). [Back]
2148
Lộng ngôn vi phạm trực tiếp điều răn thứ hai. Lộng ngôn là xúc phạm đến Thiên Chúa trong lòng hay ngoài miệng bằng những lời hận thù, than trách, thách thức; là nói xấu Thiên Chúa, bất kính trong lời nói, và lạm dụng Danh Thánh Thiên Chúa. Thánh Gia-cô-bê khiển trách những kẻ nói xúc phạm đến Danh Thánh cao đẹp "của Chúa Giê-su" đã được kêu khấn trên họ (Gcb 2,7). Luật cấm nói lộng ngôn, cũng cấm nói phạm đến Hội Thánh Chúa Ki-tô, các thánh và những sự thánh. Người ta cũng phạm tội lộng ngôn khi lạm dụng danh Thiên Chúa để che đậy những hành vi tội ác, để bắt các dân tộc làm nô lệ, để tra tấn hoặc giết người. Lạm dụng danh Thiên Chúa để phạm tội ác là gây cớ cho người ta ghét đạo. Lộng ngôn nghịch lại với bổn phận tôn trọng Thiên Chúa và Danh thánh Người. Lộng ngôn là một tội trọng. [Back]
2149
Kêu tên Chúa vô cớ, dù không có ý xúc phạm
cũng là thiếu tôn kính Thiên Chúa. Điều răn thứ hai cấm
sử dụng Danh Thiên Chúa vào việc ma thuật. Danh Thiên Chúa thật cao cả, khi được
kêu cầu cách tôn kính, xứng với sự vĩ đại và
uy nghi của Người. Danh của Chúa thật thánh thiện,
khi được kêu cầu với lòng sùng mộ và sợ)xúc
phạm tới Người. [Back]
Kêu danh Thiên Chúa vô cớ
Điều răn thứ hai cấm thề gian. Thề là lấy Chúa làm chứng cho điều mình xác quyết, là kêu cầu Thiên Chúa chân thật để bảo đảm mình nói thật. Lời thề là lời cam kết nhân danh Thiên Chúa Chính Thiên Chúa là Đấng anh em phải kính sợ, là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em sẽ nhân danh Người mà thề. [Back]
2151
Người tín hữu có bổn
phận phải bài trừ thói thề gian. Vì Thiên Chúa
là Đấng Sáng Tạo và là Đức Chúa, nên Người là mẫu
mực mọi sự chân thật. Lời nói của con người
có thể phù hợp hay trái nghịch với Thiên Chúa là chính
Sự Thật. Lời thề chân thật và chính đáng cho thấy
lời nói con người phù hợp với chân lý của
Thiên Chúa. Thề gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho một
lời nói dối. [Back]
2152
Bội thề là thề hứa một điều
gì, nhưng không có ý giữ hay không giữ lời thề.
Người bội thề thiếu lòng tôn kính nghiêm trọng
đối với Thiên Chúa, họ làm một việc xấu là
phạm đến thánh danh Thiên Chúa. [Back]
2153
Trong Bài Giảng Trên Núi:
Đức Giê-su đã nói đến điều răn thứ hai:
"Anh em nghe luật dạy người xưa rằng: "Chớ
bội thề nhưng hãy giữ trọn lời thề với
Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, đừng
thề chi cả... Nhưng hễ có thì phải nói có; không
thì phải nói không. Thêm thắt điều
gì là do ma quỉ." (Mt
5,33-34.37). Như thế Đức Giê-su
dạy rằng, mọi lời thề luôn qui chiếu về
Thiên Chúa, và trong mọi lời nói của ta, phải tôn trọng
sự hiện diện cũng như sự chân thật của
Thiên Chúa. Cẩn trọng khi kêu cầu danh Thiên Chúa, là cách
chúng ta tỏ lòng tôn kính sự hiện diện của
Người : lời chân thật tôn vinh sự hiện diện
của Chúa, lời nói dối xúc phạm đến Người. [Back]
2154
Theo gương thánh Phao-lô, truyền thống Hội Thánh vẫn hiểu
lời của Đức Giê-su là không cấm thề nếu có
lý do nghiêm trọng và chính đáng (ví dụ trước
tòa án) Lời thề là kêu cầu đến danh Thiên Chúa để
làm chứng cho sự thật, nên chỉ được thề khi
nói sự thật, có suy xét và theo công lý. [Back]
2155
Vì
danh Thiên Chúa là thánh, không được kêu tên Chúa vô cớ, hoặc
thề trong những hoàn cảnh có thể bị cắt nghĩa
là đồng tình nhà cầm quyền đòi hỏi một
cách không chính đáng. Khi chính quyền bất hợp pháp buộc
thề thì có quyền từ chối. Phải từ chối,
khi bị bắt buộc thề vì những mục
đích trái với nhân phẩm hay nghịch với sự hiệp
thông của Hội Thánh. [Back]
2156
Danh hiệu Kitô hữu
Chúng ta nhận bí tích Thánh Tẩy "nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28, 19). Trong bí tích này, danh Thiên Chúa thánh hóa con người và người này nhận được một tên riêng trong Hội Thánh. Tên riêng này có thể là tên của một vị thánh, nghĩa là của một môn đệ đã sống đời trung thành mẫu mực với Chúa. Vị thánh bổn mạng nêu gương sống đức mến và luôn chuyển cầu cho ta. Tên thánh cũng có thể nêu lên một mầu nhiệm Ki-tô giáo hay một nhân đức. Cha mẹ, người đỡ đầu và cha xứ cần lưu tâm đừng đặt tên không phù hợp với ý nghĩa ki-tô giáo. [Back]
2157
Người Ki-tô hữu khi
thức dậy, khi bắt đầu kinh nguyện và việc
làm, đều làm dấu Thánh Giá "Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và
Chúa Thánh Thần. A-men". Người tín hữu dâng trọn vẹn
ngày sống để tôn vinh Thiên Chúa và kêu cầu Đấng Cứu
Thế ban ân sủng giúp họ hành động trong Thánh Thần
như con thảo của Chúa Cha. Dấu Thánh Giá giúp ta mạnh sức,
để vượt qua các cơn cám dỗ và những lúc khó khăn. Thiên
Chúa gọi từng người bằng chính tên của họ. [Back]
2158
Thiên Chúa gọi từng
người bằng chính tên của họ. Tên của mỗi
người là thánh thiêng. Tên là người, nên phải được tôn
trọng như dấu chỉ nhân phẩm của người mang
tên đó. [Back]
2159
Mỗi người sẽ
mang tên của mình mãi mãi. Chỉ trong Nước
Trời, tính độc đáo và huyền nhiệm của những
ai đã được ghi dấu bằng Danh Thiên Chúa mới được
bộc lộ trọn vẹn trong ánh sáng "Ai chiến thắng
... Ta sẽ ban cho một viên sỏi trắng, trên đó có khắc
một tên mới mà chẳng ai biết được, ngoài người
lãnh nhận nó" (Kh 2,17). "Kìa Con Chiên hiện ra trước mắt
tôi, đứng trên núi Xi-on, cùng với một trăm bốn mươi bốn
ngàn người mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên ghi
trên trán" (Kh 14,1). [Back]
Tóm
lược
"Ôi
lạy Chúa, Thiên Chúa chúng con, cao cả thay danh Chúa khắp
trên hoàn cầu" (Tv 8,2). [Back]
2161
Điều răn thứ hai dạy phải
tôn kính danh Thiên Chúa. Danh Thiên Chúa là thánh. [Back]
2162
Điều
răn thứ hai cấm mọi lạm dụng danh Chúa. Lộng
ngôn là tội xúc phạm đến Danh của Thiên Chúa, của
Đức Giê-su Ki-tô, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và các thánh. [Back]
2163
Thề
gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho một lời nói dối.
Bội thề là một tội trọng xúc phạm đến
Thiên Chúa, Đấng luôn trung thành giữ lời đã hứa. [Back]
2164
Đừng thề nhân danh Đấng Sáng Tạo,
cũng đừng lấy thụ tạo mà thề, ngoại trừ
khi thề cách chân thật, vì cần thiết và với
lòng tôn kính. [Back]
2165
Qua
bí tích Thánh Tẩy, người Ki-tô hữu nhận được một
tên riêng trong Hội Thánh. Cha mẹ, người đỡ đầu
và cha xứ cần lưu tâm để đặt cho họ một tên
ki-tô giáo. Vị thánh bổn mạng nêu gương sống đức bác
ái và luôn chuyển cầu cho ta. [Back]
2166
Người
Ki-tô hữu bắt đầu các kinh nguyện và việc làm bằng
dấu Thánh Giá "nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Amen. [Back]
2167
Thiên
Chúa gọi từng người bằng chính tên của họ. [Back]
Ngày Sa-bát
Điều răn thứ ba của Thập Giới nhấn mạnh việc thánh hóa ngày sa-bát. "Ngày thứ bảy là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ hoàn toàn để dâng cho Đức Chúa" (Xh 31,15). [Back]
2169
Về
ngày Sa-bát, Thánh Kinh gợi cho Dân Chúa tưởng nhớ công trình sáng tạo.
"Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời
đất, biển khơi và muôn loài trong đó, nhưng Người đã
nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy Đức Chúa
đã chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh" (Xh 20,11). [Back]
2170
Trong ngày của Đức
Chúa, Thánh Kinh còn giúp Dân Chúa tưởng nhớ biến cố giải phóng Ít-ra-en
khỏi ách nô lệ Ai Cập. "Ngươi hãy nhớ ngươi
đã làm nô lệ tại đất Ai Cập và Đức Chúa,
Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền
đưa ngươi ra khỏi. Bởi vậy Đức Chúa, Thiên Chúa của
ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày sa-bát" (Đnl 5,15). [Back]
2171
Thiên Chúa ban cho Ít-ra-en ngày
sa-bát, để họ tuân giữ như một) dấu chỉ
giao ước vững bền. Ngày sa-bát được hiến dâng
cho Thiên Chúa, là ngày thánh dành để chúc tụng Thiên Chúa, ca ngợi
công trình sáng tạo và những kỳ công Người
đã thực hiện để cứu Ít-ra-en. [Back]
2172
Hành động của Thiên
Chúa là mẫu mực cho đời sống con người.
"Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã ngưng các việc và
nghỉ ngơi" (Xh 31,17), thì
con người cũng phải "ngưng làm việc" để
những người khác, nhất là kẻ nghèo "lấy lại
sức" (Xh 23,12). Ngày sa-bát ngắt
quãng các công việc hằng ngày và cho tạm nghỉ
ngơi. Ngày sa-bát phản kháng khía cạnh nô lệ của công
ăn việc làm và thái độ tôn thờ tiền bạc. [Back]
2173
Tin Mừng ghi lại nhiều lần Đức
Giê-su bị tố cáo đã phạm luật ngày sa-bát, nhưng
chưa bao giờ Người lỗi phạm sự thánh thiện
của ngày này. Người dùng uy quyền đưa ra ý nghĩa
đích thực của ngày này: "Ngày sa-bát được lập
ra vì loài người chứ không phải loài người
vì ngày sa-bát" (Mc 2,27). Đức
Ki-tô tuyên phán "Ngày sa-bát phải làm điều lành hơn là làm điều
dữ, cứu sống hơn là giết chết" (Mc 3,4). Ngày Sa-bát là ngày của
Đức Chúa giàu lòng thương xót và là ngày tôn vinh Thiên Chúa.
"Con người làm chủ luôn cả ngày sa-bát" (Mc 2,28). [Back]
Ngày của Chúa
"Này là ngày Thiên Chúa đã làm, ta hãy reo vui mừng rỡ" (Tv 118, 24)
Ngày Phục Sinh - Công trình sáng tạo mới
Chúa Giê-su đã sống lại từ trong kẻ chết vào ngày thứ nhất trong tuần, ngày phục sinh của Đức Ki-tô. Vì là ngày thứ nhất nên nhắc đến cuộc sáng tạo đầu tiên; vì là ngày thứ tám liền sau ngày Sa-bát, nên mang ý nghĩa một công trình sáng tạo mới đã được khai mở với biến cố Đức Ki-tô phục sinh. Đối với các Ki-tô hữu, đây là ngày thứ nhất của mọi ngày, ngày lễ quan trọng nhất trong các lễ, ngày của Đức Chúa, ngày Chúa nhật: "Tất cả chúng tôi tụ họp nhau, ngày của mặt trời, vì đó là ngày thứ nhất (liền sau ngày sa-bát Do Thái, mà cũng là ngày thứ nhất) ngày mà Thiên Chúa đưa vật chất ra khỏi tối tăm để tạo dựng vũ trụ, và cũng cùng ngày ấy, Đức Giê-su Ki-tô Đấng cứu độ chúng tôi sống lại từ trong kẻ chết" (FT.Justin, Apol 1,67) [Back]
2175
Chúa Nhật - Ngày sa-bát viên mãn
Chúa
nhật khác hẳn ngày sa-bát và được Ki-tô hữu mừng
hằng tuần thay cho ngày sa-bát. Qua cuộc phục sinh của
Đức Ki-tô, Chúa nhật hoàn tất ý nghĩa thiêng
liêng của ngày sa-bát Do Thái, và báo trước sự an nghỉ
đời đời của con người trong Thiên Chúa. Phụng tự
theo lề luật chuẩn bị cho mầu nhiệm Đức
Ki-tô, và những nghi thức của luật cũ đều
qui hướng về Chúa Ki-tô: "Những ai sống theo luật
cũ, nay đạt tới niềm hy vọng mới, họ sẽ
không còn giữ ngày sa-bát nữa, nhưng giữ ngày của
Chúa, vì trong ngày đó đời sống chúng ta được chúc
phúc nhờ Người và nhờ cuộc tử nạn của
Người." (T.Inhace d'Antioche, Magn 9,1) [Back]
2176
Việc cử hành ngày
Chúa nhật tuân theo qui định luân lý tự nhiên
đã được ghi khắc trong lòng con người, "Thờ
phượng Thiên Chúa cách hữu hình, công khai, và đều đặn,
để nhớ đến ơn huệ phổ quát Thiên Chúa ban cho
toàn thể nhân loại" (T.Tô-ma Aquinô,S th 2-2, 122,4). Việc cử hành ngày Chúa nhật chu toàn giới
luật của Cựu Ước. [Back]
2177
Thánh lễ ngày Chúa nhật
Việc giữ ngày Chúa nhật và cử hành Thánh thể, là trung tâm đời sống của Hội Thánh. Theo truyền thống các tông đồ, ngày Chúa Nhật, ngày cử hành mầu nhiệm vượt qua, phải được giữ trong toàn thể Hội Thánh như ngày lễ buộc. "Ngoài ra còn phải giữ các ngày lễ : Sinh Nhật Chúa Giê-su Ki-tô, lễ Hiển Linh, lễ Chúa Lên Trời, lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô, lễ Đức Ma-ri-a Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, lễ Đức Mẹ Lên Trời, lễ Thánh Giu-se, lễ các Thánh Phê-rô và Phao-lô tông đồ, lễ Các Thánh" (CIC, 1246,1).
2178
Từ thời các tông đồ, các Ki-tô hữu đã có thói quen tập họp ngày Chúa nhật. Thư gởi người Do Thái nhắc lại rằng: "Chúng ta đừng bỏ các buổi hội họp như vài người quen làm, trái lại phải khuyến khích nhau." (Dt 10,25)
Truyền thống còn giữ được một vài giảng huấn luôn hợp thời: Hãy tới nhà thờ sớm, lại gần Chúa và xưng thú tội lỗi, hãy sám hối bằng kinh nguyện. Tham dự vào phụng vụ thánh đến hết lời nguyện hiệp lễ và đừng ra về trước khi có lời giải tán. Như chúng tôi thường nói: ngày này được ban cho anh em để cầu nguyện và nghỉ ngơi. Đây là ngày Thiên Chúa đã tạo nên, ta hãy phấn khởi và mừng vui trong ngày ấy. [Back]
2179
Giáo xứ là một cộng đồng tín hữu nhất định được thiết lập cách bền vững, trong một Giáo Hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho linh mục chính xứ, như vị mục tử riêng của giáo xứ, dưới quyền của giám mục giáo phận. Giáo xứ là nơi mọi tín hữu có thể tập họp để cử hành Thánh Thể mỗi Chúa Nhật. Giáo xứ hướng dẫn dân Chúa vào đời sống phụng vụ, và tập họp họ để cử hành Phụng Vụ, truyền cho họ giáo lý cứu độ của Đức Ki-tô, thực thi đức ái qua các công việc từ thiện và huynh đệ: Ở nhà, bạn không thể cầu nguyện như ở nhà thờ được, vì ở nhà thờ có đông người cùng chung tấm lòng dâng lời cầu khẩn lên Thiên Chúa. Hơn nữa, còn có sự hiệp ý đồng tâm, có dây liên kết đức mến và kinh nguyện của các linh mục. [Back]
2180
Luật giữ ngày Chúa Nhật
Một điều răn của Hội Thánh xác định rõ luật của Chúa: các tín hữu buộc phải dự Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc. Ai tham dự thánh lễ theo nghi thức công giáo vào chính ngày lễ hoặc chiều hôm trước, là chu toàn luật buộc dự lễ. [Back]
2181
Thánh lễ Chúa Nhật đặt
nền tảng và xác định toàn bộ cuộc sống người
tín hữu. Do đó, mọi tín hữu phải tham dự thánh lễ
vào ngày lễ buộc, trừ khi có một lý do quan trọng
(như bệnh hoạn, chăm sóc trẻ sơ sinh) hay được cha sở
miễn chuẩn. Ai cố tình vi phạm sẽ mắc
tội trọng. [Back]
2182
Khi cùng tham dự thánh lễ
Chúa Nhật, người tín hữu minh chứng sự gắn
bó và trung thành với Đức Ki-tô và Hội Thánh, bày tỏ sự
hiệp thông trong đức tin và đức mến. Họ cùng nhau
làm chứng cho sự thánh thiện của Thiên Chúa và cho niềm
hy vọng của họ vào ơn cứu chuộc. Họ nâng đỡ
nhau dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.
[Back]
2183
Nếu như không có thừa
tác viên thánh hay vì lý do khẩn trọng mà người
tín hữu không thể tham dự thánh lễ, thì Hội
Thánh khuyên họ tham dự vào cử hành Phụng Vụ Lời
Chúa trong nhà thờ giáo xứ hay một nơi thánh khác theo qui định
của giám mục giáo phận, hoặc dành một thời
gian thích hợp để cầu nguyện cá nhân hay cùng với
cả gia đình, và nếu có thể cùng với một
nhóm gia đình. [Back]
2184
Ngày hồng ân - ngày nghỉ
Như Thiên Chúa "nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, sau khi hoàn tất cả công trình" (x. St 2,2), đời sống con người cũng theo nhịp như thế giữa lao động và nghỉ ngơi. Khi lập ra ngày Chúa Nhật, Thiên Chúa muốn mọi người có thời giờ nghỉ ngơi và giải trí, để có thể chăm lo đời sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo (GS 67,3). [Back]
2185
Ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc, các tín hữu tránh lao động và các sinh hoạt ngăn trở việc thờ phượng Thiên Chúa, việc hưởng niềm vui trong ngày của Chúa, việc bác ái và tịnh dưỡng thể xác cũng như tinh thần. Luật giữ ngày Chúa Nhật có thể được miễn chuẩn, khi có trách nhiệm gia đình hay nghĩa vụ xã hội quan trọng. Nhưng tín hữu cũng phải coi chừng, đừng để những miễn chuẩn này dẫn đến thói quen thờ ơ với việc thờ phượng, với cuộc sống gia đình hay sức khỏe của mình. "Ai yêu chuộng chân lý sẽ tìm kiếm sự nhàn rổi thánh thiện; Ai yêu mến sẽ sẵn sàng đón nhận khó nhọc chính đáng" (Âu-tinh, Thành Đô Thiên quốc 19,19). [Back]
2186
Khi hưởng những giờ
nhàn rỗi, người tín hữu nên nhớ đến anh chị
em của mình, những người cùng có nhu cầu và quyền
lợi như mình, nhưng không được nghỉ ngơi vì
nghèo khổ và túng cực. Theo truyền thống đạo đức
công giáo, ngày Chúa Nhật phải là ngày dành riêng để làm việc
lành và khiêm tốn phục vụ cho bệnh nhân, kẻ tàn tật
và già lão. Người tín hữu cũng phải thánh hiến
ngày Chúa Nhật bằng cách dành thời giờ để chú tâm
đến gia đình và thân hữu, những người mà thường
nhật họ khó chú tâm tới. Ngày Chúa Nhật cũng là thời
gian suy tư, tĩnh lặng, rèn luyện và suy niệm cần
thiết để đời sống nội tâm của tín hữu
được phát triển. [Back]
2187
Để thánh hóa ngày Chúa Nhật
và lễ trọng, phải có một nỗ lực chung. Nếu
không cần thiết, người Ki-tô hữu đừng bắt
anh em làm điều gì khiến họ không thể giữ
ngày Chúa Nhật. Nếu những tổ chức (thể thao
hay gặp gỡ) và nhu cầu xã hội (các dịch vụ
công cộng) đòi buộc một số người phải
lao động ngày Chúa Nhật, thì họ cũng phải
tìm đủ thời gian để nghỉ ngơi. Với tinh thần
điều độ và yêu thương, người tín hữu phải tránh
những bốc đồng và bạo lực thường gặp
thấy nơi các cuộc giải trí tập thể. Dù có những
nhu cầu cấp bách về kinh tế, nhà cầm quyền
phải lo cho công dân có đủ thời gian nghỉ ngơi và thờ
phượng Thiên Chúa. Chủ nhân cũng có trách nhiệm như vậy
đối với công nhân của mình. [Back]
2188
Trong tinh thần tôn trọng
sự tự do tôn giáo và thiện ích chung, người Ki-tô hữu
phải đấu tranh để các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ
của Hội Thánh được luật pháp công nhận. Họ
phải nêu gương công khai về cầu nguyện, thờ phượng
và sống vui tươi, bảo vệ truyền thống của
mình như một đóng góp quí báu cho đời sống tinh thần
của cộng đồng nhân loại. Cho dù luật lệ hiện
hành của một nước hay những lý do khác buộc
phải lao động ngày Chúa Nhật, ngày này vẫn được sống
như là ngày giải thoát và cho chúng ta tham dự vào "cộng
đoàn mừng lễ", "vào đại hội giữa các
con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ
đã được ghi tên trên trời" (Dt 12,22-23). [Back]
Tóm
lược
Ngươi
hãy giữ ngày sa-bát và thánh hóa nó." (Đnl 5,12) "Ngày thứ bảy
là ngày sa-bát, ngày nghỉ ngơi, được thánh hiến cho
Chúa." (Xh 31,15) [Back]
2190
Ngày Chúa Nhật thay thế ngày sa-bát vốn là ngày tư [Back]ởng nhớ việc hoàn tất công trình sáng tạo thứ nhất. Ngày Chúa Nhật tưởng nhớ công trình sáng tạo mới được khai mở với biến cố Đức Ki-tô phục sinh.
2191
Hội Thánh mừng kính Đức Ki-tô Phục
Sinh vào ngày thứ tám thường được gọi là ngày của
Chúa hay ngày Chúa Nhật. [Back]
2192
Theo truyền thống các tông đồ, ngày Chúa Nhật phải
được giữ trong toàn thể Hội Thánh như ngày lễ buộc. Người tín hữu buộc
phải dự thánh lễ vào ngày Chúa Nhật và các ngày lễ
buộc khác. [Back]
2193
Ngày
Chúa Nhật và các ngày lễ buộc, người tín hữu
tránh lao động và các sinh hoạt ngăn trở việc thờ
phượng Thiên Chúa, việc hưởng niềm vui và tịnh dưỡng
cần thiết cho tinh thần cũng như thể xác. [Back]
2194
Ngày
Chúa Nhật được thiết lập cho "mỗi người
có đủ thời gian nghỉ ngơi và nhàn rỗi để sống
gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo. [Back]
2195
Nếu không cần thiết, người
Ki-tô hữu đừng bắt anh em làm điều gì khiến
họ không thể giữ ngày Chúa Nhật. [Back]
Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mính
Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em." (Ga 13,34)
Ðể trả lời
câu hỏi về điều răn trọng nhất Ðức Giê-su
nói "điều răn đứng hàng đầu là: Nghe đây, hỡi
Ít-ra-en, Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Ðức Chúa duy nhất;
ngươi phải yêu mến Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngươi
hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí và hết
sức lực ngươi"; điều răn thứ hai là: "Ngươi
phải yêu người thân cận như chính mình". Chẳng
có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó." (Mc 12,29-31)
Thánh Phao-lô tông đồ cũng
nhắc: "Ai yêu người thì đã chu toàn lề luật.
Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại
tình, không được giết người, không được trộm
cắp, không được ham muốn của người khác, cũng
như các điều răn khác đều tóm lại trong lời này:
"Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình".
Ðã yêu thương thì không làm hại cho người đồng
loại; yêu thương là chu toàn lề luật vậy." (Rm 13,8-10) [Back]
2197
Ðiều răn thứ tư
mở đầu phần hai của Thập Giới, ấn định
trật tự của đức ái. Thiên Chúa muốn rằng
sau Người, chúng ta phải tôn kính cha mẹ, vì đã
sinh thành dưỡng dục, và dạy cho chúng ta biết Thiên Chúa.
Chúng ta cũng phải tôn kính những người được Thiên
Chúa trao ban quyền hành để mưu ích cho chúng ta. [Back]
2198
Ðiều răn này được
trình bày dưới hình thức tích cực, ấn định
những bổn phận phải chu toàn, và chuẩn bị
cho những điều răn tiếp theo, đòi buộc con người
phải tôn trọng sự sống, hôn nhân, của cải
trần thế và lời nói. Ðấy là một trong những
nền tảng của học thuyết xã hội của
Hội Thánh. [Back]
2199
Ðiều
răn thứ tư nói đến bổn phận con cái đối với
cha mẹ, vì đây là tương quan phổ quát nhất. Ðiều
răn này còn rộng mở tới bổn phận của
học trò đối với thầy, thợ với chủ,
kẻ thuộc cấp đối với người chỉ huy,
công dân đối với tổ quốc và với tất cả
những người điều hành, cai trị đất nước. Ðiều
răn này cũng bao hàm và hiểu ngầm những bổn phận
của cha mẹ, giám hộ, thầy cô, người lãnh đạo,
nhà cầm quyền, nghĩa là tất cả những ai có
quyền trên kẻ khác hay trên một tập thể. [Back]
2200
Ðiều răn thứ tư
có kèm theo phần thưởng: "Ngươi hãy trọng kính
cha mẹ để được sống lâu trên đất mà Ðức
Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi."
Ai tôn trọng điều răn này, ngoài những lợi ích thiêng
liêng, còn nhận được những lợi ích trần thế
là an bình và thịnh vượng. Ngược lại, vi phạm
điều răn nầy sẽ gây nhiều thiệt hại lớn
cho cộng đoàn và cho cá nhân. [Back]
2201
Gia đình trong kế hoạch của Thiên Chúa
Bản chất của gia đình
Hôn nhân
và gia đình được thiết lập trên sự ưng thuận
của đôi vợ chồng, nhằm vào lợi ích của họ
cũng như vào việc sinh sản và giáo dục con cái.
Tình yêu vợ chồng và việc sinh sản con cái tạo
ra những tương quan nhân vị và những trách nhiệm hàng đầu,
giữa những phần tử trong gia đình. [Back]
2202
Vợ chồng và con cái
tạo thành một gia đình. Gia đình tự hình
thành và có trước sự công nhận của công quyền.
Người ta xem gia đình là nền tảng để từ đó
xác định những tương quan khác trong thân tộc. [Back]
2203
Khi tạo dựng người
nam và người nữ, Thiên Chúa đã thiết lập gia
đình và đặt nền tảng cơ bản cho nó. Các phần
tử trong gia đình đều bình đẳng về nhân
phẩm. Vì lợi ích chung của các phần tử và
của xã hội, gia đình có một số trách nhiệm,
quyền lợi và bổn phận. [Back]
2204
Gia
đình Ki-tô giáo
Gia
đình Ki-tô giáo bày tỏ và thể hiện một cách đặc
biệt sự hiệp thông trong Hội Thánh vì lẽ
đó phải được coi là một
Hội Thánh tại gia, là một
cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến. Tân
Ước cho thấy gia đình có một tầm quan trọng
đặc biệt trong Hội Thánh. [Back]
2205
Gia đình Ki-tô giáo là một
hiệp thông nhân vị là dấu chỉ và hình ảnh
của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa
Thánh Thần. Việc sinh sản và giáo dục con cái phản
ánh công trình sáng tạo của Chúa Cha. Gia đình được
mời gọi tham dự vào sự cầu nguyện và hy tế
của Ðức Ki-tô. Kinh nguyện hằng ngày và chăm đọc
Lời Chúa củng cố đức mến trong gia đình.
Gia đình Ki-tô giáo mang sứ mạng loan báo Tin Mừng
truyền giáo. [Back]
2206
Những mối tương quan
trong gia đình đưa tới những cảm nghĩ, những
tình nghĩa, những sở thích, những quyền lợi
giống nhau, nhất là do việc biết tôn trọng lẫn
nhau. Gia đình là một cộng đoàn ưu việt được mời
gọi để thực hiện sự đồng tâm nhất trí
giữa vợ chồng và sự ân cần cộng tác của
cha mẹ trong việc giáo dục con cái. [Back]
2207
Gia đình và xã hội
Gia
đình là tế bào căn bản của đời sống
xã hội, là xã hội tự nhiên, nơi đó, người
nam và người nữ được mời gọi tận hiến
cho nhau trong tình yêu và trong việc thông truyền sự
sống. Quyền bính, sự ổn định và đời sống
tương giao nơi gia đình là nền tảng cho tự do, an ninh
và tình huynh đệ của xã hội. Gia đình là cộng đoàn, nơi đó từ thời
thơ ấu, con người được học biết tôn trọng
những giá trị luân lý, tôn thờ Thiên Chúa và biết
sử dụng tự do. Ðời sống gia đình chuẩn
bị cho đời sống xã hội. [Back]
2208
Gia đình phải sống
thế nào để các thành viên biết quan tâm và nhận trách
nhiệm đối với những người trẻ và những
người già, người đau yếu, tật nguyền và nghèo khổ.
Có nhiều gia đình đôi khi không đủ sức giúp nhau như vậy.
Bấy giờ, những người khác, những gia đình
khác và xã hội, phải chăm lo cho những người
này. "Thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian
truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của
thế gian là đạo đức tinh tuyền và không tì ố
trước mặt Thiên Chúa Cha" (Gcb 1,27) [Back]
2209
Gia đình phải được
xã hội giúp đỡ và bảo vệ bằng những
biện pháp thích ứng. Nơi nào các gia đình không đủ khả
năng chu toàn phận vụ, các tổ chức xã hội
khác có bổn phận trợ giúp và nâng đỡ cơ chế gia
đình. Theo nguyên tắc bổ trợ, những cộng
đoàn lớn không được lấn quyền hay xen vào đời sống
của các gia đình. [Back]
2210
Gia đình rất cần
thiết cho đời sống và phúc lợi xã hội, nên
xã hội đặc biệt có trách nhiệm nâng đỡ và
củng cố hôn nhân và gia đình. Chính quyền phải
nhìn nhận, bênh vực và phát huy bản chất đích thực
của hôn nhân và gia đình, phải bảo vệ nền
luân lý chung và giúp cho gia đình được sung túc, vì
đó là những bổn phận mà chính quyền phải coi như
một sứ mạng thiêng liêng phải chu toàn. [Back]
2211
Cộng
đoàn chính trị có bổn phận tôn trọng, trợ giúp và
nhất là bảo đảm cho gia đình có được các quyền
sau đây:
§ Quyền tự do lập gia đình, quyền
sinh con cái và giáo dục chúng theo những xác tín luân lý và
tôn giáo của mình;
§ Quyền bảo toàn dây liên kết vững
bền của hôn nhân và cơ chế gia đình;
§ Quyền tự do tuyên xưng đức tin và thông
truyền đức tin, quyền giáo dục đức tin cho con
cái bằng những phương tiện và cơ chế cần thiết;
§ Quyền tư hữu, tự do làm việc, có
việc làm, có nhà ở, tự do di cư;
§ Quyền được chăm sóc y tế trợ cấp
tuổi già, phụ cấp gia đình, tùy theo cơ chế của
các quốc gia;
§ Quyền được bảo vệ an ninh và cuộc
sống lành mạnh, tránh các nguy cơ như: xì ke ma túy, dâm ô đồi
trụy, nghiện rượu v.v....
§ Quyền tự do liên kết với các gia
đình khác để lập hội đoàn và như thế, được
đại diện bên cạnh công quyền. [Back]
2212
Ðiều răn thứ tư
cũng làm sáng tỏ các mối tương quan khác trong xã hội:
Anh chị em ruột, là con cái của cha mẹ chúng ta; anh chị
em họ, là những con cái của tổ tiên chúng ta; đồng
bào là con cái của tổ quốc; các tín hữu là con cái của
Mẹ Hội Thánh; mỗi con người là một người
con của Ðấng chúng ta gọi là Cha chúng con. Do đó, các mối
tương quan với tha nhân đều là những tương quan nhân vị.
Tha nhân không phải là một cá nhân giữa tập thể,
nhưng là một con người phải được mọi người
đặc biệt lưu tâm và tôn trọng. [Back]
2213
Con người họp thành
những cộng đồng nhân loại. Ðể quản trị
các cộng đồng một cách tốt đẹp, không những
phải bảo đảm các quyền chu toàn các bổn phận,
tuân giữ các khế ước, nhưng phải có lòng nhân hậu
của người biết mưu cầu công bình và tình huynh
đệ, nhờ đó có được quan hệ tốt đẹp giữa
chủ và thợ, giữa nhà cầm quyền và công dân. [Back]
Bổn phận của các phần tử trong gia đình
Bổn phận con cái
Tình
phụ tử của Thiên Chúa là nguồn mạch của
tình phụ tử nơi loài người (Eph 3,14). Vinh dự của cha mẹ đặt
trên nền tảng này. Lòng tôn kính của con cái
còn vị thành niên hay đã trưởng thành, phát sinh từ
lòng yêu mến tự nhiên liên kết chúng với cha mẹ.
Chính luật Chúa đòi hỏi lòng tôn kính ấy. [Back]
2215
Lòng tôn kính của
con cái đối với cha mẹ (hiếu thảo) phát xuất
từ sự biết ơn đối với những người
đã cho chúng được sống và nhờ tình yêu và công
lao của họ, giúp chúng lớn lên về tầm vóc, khôn
ngoan và ân sủng. "Hãy hết lòng tôn kính cha
con, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau.
Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy
con lấy chi đáp đền cho cân xứng" (Hc 7,27-28) [Back]
2216
Lòng
hiếu thảo được bày tỏ qua sự ngoan ngoãn
và vâng phục chân thành.
"Hỡi con, lệnh cha con truyền, hãy lo tuân giữ;
lời mẹ con dạy, chớ bỏ ngoài tai... Những lời
đó sẽ hướng dẫn con lúc con đi, sẽ giữ gìn
con khi con nằm, sẽ cùng con chuyện trò khi con thức
dậy" (Cn 6,20-22). "Con
khôn giữ lời cha nghiêm huấn, kẻ nhạo báng chẳng
nghe lời sửa dạy." (Cn
13,1) [Back]
2217
Bao lâu
còn chung sống với cha mẹ, con cái phải tuân giữ
mọi điều cha mẹ dạy, vì lợi ích của
mình và của gia đình. "Kẻ làm con hãy
vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều
đẹp lòng Chúa" (Cl
3,20). Trẻ em còn phải vâng lời thầy
cô và người giám hộ. Theo lương tâm, nếu thấy vâng theo
một lệnh truyền nào đó là làm điều xấu,
thì con cái không buộc phải vâng lời.
Khi trưởng
thành, con cái vẫn phải tôn kính cha mẹ, biết đón trước
ý muốn của các ngài, sẵn sàng bàn hỏi và chấp
nhận những lời khuyên cáo đúng đắn của cha mẹ.
Khi không còn chung sống với cha me, con cái vẫn phải
tôn kính, vì lòng tôn kính này bắt nguồn từ sự
kính sợ Thiên Chúa, một trong bảy ơn Chúa Thánh Thần. [Back]
2218
Ðiều
răn thứ tư còn cho những người con đã trưởng
thành biết trách nhiệm của họ đối với cha
me, về vật chất cũng như tinh thần, khi các ngài
già yếu, bệnh tật, cô đơn hay hoạn nạn. Chúa
Giê-su nhắc lại bổn phận biết ơn này.
"Ðức
Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho
người mẹ thêm uy quyền đối với các con. Ai tôn
kính cha thì bù đắp lỗi lầm, ai trọng kính mẹ
thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng
vì con cái, khi cầu nguyện họ sẽ được lắng
nghe. Ai trọng quí cha sẽ được trường thọ và ai
vâng lệnh Ðức Chúa sẽ làm cho mẹ an
lòng" (Hc 3,2-6).
"Con
ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già, bao
lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi.
Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ
cậy mình sung sức mà khinh dể người. Ai bỏ
rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc
giận mẹ mình, sẽ bị Ðức Chúa nguyền
rủa" (Hc 3, 12-13, 16). [Back]
2219
Lòng
hiếu thảo tạo bầu khí thuận hòa trong đời
sống gia đình, ảnh hưởng đến các)mối tương
quan giữa anh chị em. Lòng hiếu thảo sưởi ấm
bầu khí gia đình. "Con cháu là vinh quang của tuổi
già" (Cn 17,6). "Anh
em hãy ăn ở khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại.
Hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau"
(Eph 4,2). [Back]
2220
Các Ki-tô
hữu còn phải biết ơn những kẻ đã
giúp mình lãnh nhận đức tin, ân sủng bí tích
Thánh Tẩy và đời sống trong Hội Thánh. Những người
này có thể là cha mẹ, ông bà, những phần tử khác
của gia đình, các vị mục tử, giáo lý
viên, thầy cô giáo hay bạn bè. "Tôi hồi tưởng lại
lòng tin không giả hình của anh, là lòng tin
đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh và nơi bà Eu-ni- kê mẹ
anh và tôi xác tín rằng nơi anh cũng vậy" (2 Tm 1, 5). [Back]
2221
Bổn phận của
cha mẹ
Tình
yêu vợ chồng không chỉ triển nở qua việc
sinh con, mà còn qua việc giáo dục đời sống luân
lý và tâm linh cho chúng nữa. Vai trò của cha mẹ
trong việc giáo dục quan trọng đến nỗi không
gì thay thế được. Quyền và bổn phận giáo dục
con cái là quyền và bổn phận căn bản, bất khả
nhượng. [Back]
2222
Cha mẹ
phải xem con cái như những người con của Thiên Chúa và
tôn trọng chúng như những nhân vị. Họ phải dạy
cho con cái biết chu toàn luật Thiên Chúa, bằng cách chính họ
cũng cho thấy mình vâng phục thánh ý Cha trên trời.
[Back]
2223
Cha mẹ
là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục
con cái. Họ thể hiện trách nhiệm này qua việc)xây
dựng một mái ấm gia đình dựa trên tình âu
yếm, lòng tha thứ, tôn trọng lẫn nhau, chung thủy
và tinh thần phục vụ vô vị lợi. Mái ấm gia
đình là nơi thích hợp cho việc giáo dục
các đức tính, nơi đây con cái học biết hy sinh, phán đoán
lành mạnh, tự chủ, là những điều kiện cho tự
do đích thực. Cha mẹ phải dạy cho con cái biết
"oi trọng các chiều kích tâm linh hơn là những gì
thuộc thể lý và bản năng. Cha mẹ có trách nhiệm
quan trọng là phải nên gương tốt cho con cái. Khi biết
nhìn nhận những thiếu sót của mình trước
mặt con cái, cha mẹ có uy tín hơn để hướng dẫn và
sửa dạy con cái: "Thương
con cho roi cho vọt, ai biết giáo dục con sẽ được
thỏa lòng về con." (Hc
30,1-2) "Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho
con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng bằng
cách khuyên răn và sửa dạy thay mặt Chúa." (Eph 6,4) [Back]
2224
Gia
đình là môi trường tự nhiên để chuẩn bị
con người sống tình liên đới và nhận các trách
nhiệm trong cộng đồng. Cha mẹ phải dạy cho
con cái biết tránh những thái độ thỏa hiệp và sa
đọa đang đe dọa xã hội loài người. [Back]
2225
Nhờ
ơn bí tích Hôn Phối, cha mẹ nhận trách nhiệm và đặc
quyền giáo dục đức tin cho con cái. Cha mẹ là những
sứ giả đầu tiên của đức tin, khai tâm cho con về
các mầu nhiệm đức tin từ lúc chúng còn nhỏ.
Họ phải đưa con cái, hòa nhập vào đời sống
của Hội Thánh ngay từ lúc còn thơ bé. Nếp sống
gia đình có thể tạo nên những tâm tình tốt
đẹp, chuẩn bị và nâng đỡ đức tin sống động
cho con trong suốt cuộc đời. [Back]
2226
Cha mẹ
phải giáo dục đức tin cho con cái ngay từ tuổi ấu
thơ. Việc giáo dục này khởi đầu ngay khi các phần
tử trong gia đình giúp nhau lớn lên trong đức tin, nhờ
chứng từ của một đời sống đạo phù hợp
với Tin Mừng. Việc dạy giáo lý trong gia
đình đi trước, đồng hành và làm phong phú thêm các
hình thức giáo dục đức tin khác. Cha mẹ có sứ
mạng dạy cho con cái biết cầu nguyện và khám phá
ra ơn gọi làm con Thiên Chúa. Giáo xứ là cộng đồng
Thánh Thể và là trung tâm đời sống phụng vụ của
các gia đình Ki-tô giáo, nên là nơi tốt nhất để giáo dục
đức tin cho trẻ em và cha mẹ chúng. [Back]
2227
Con cái cũng
góp phần giúp cho cha mẹ sống thánh thiện. Mọi
người và mỗi người phải biết quảng đại
và sẵn sàng tha thứ cho nhau khi gặp những xúc phạm,
gây gỗ, bất công và thiếu quan tâm. Tình yêu thương lẫn
nhau và đức ái của Chúa Ki-tô đòi buộc như thế. [Back]
2228
Khi con cái còn nhỏ,
cha mẹ tôn trọng và yêu thương chúng qua việc chăm sóc và lưu
tâm dưỡng dục, đáp ứng những nhu cầu thể
xác và tâm linh của chúng. Khi chúng lớn lên, cha mẹ tôn trọng
và tận tụy giáo dục con cái biết sử dụng
lý trí và tự do. [Back]
2229
Cha mẹ
là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục
con cái, nên có quyền chọn lựa cho con cái một trường
học theo ý mình. Quyền này là quyền căn bản.
Cha mẹ phải cố gắng chọn lựa trường học
nào giúp chu toàn tốt nhất trách vụ của người
giáo dục đức tin. Nhà Nước có bổn phận bảo
đảm và giúp đỡ để cha mẹ thực thi quyền ấy.
[Back]
2230
Khi đến
tuổi trưởng thành, con cái có bổn phận và có quyền
chọn lựa nghề nghiệp và bậc sống. Con cái
có những trách nhiệm mới nhưng vẫn giữ tương quan
đầy tín nhiệm đối với cha mẹ, sẵn sàng bàn
hỏi, lắng nghe ý kiến và lời khuyên bảo của
cha mẹ. Cha mẹ phải tránh ép buộc con cái trong việc
chọn nghề, cũng như trong việc chọn người bạn
đời. Dù phải dè dặt, cha mẹ vẫn có thể giúp
đỡ con cái bằng những ý kiến khôn ngoan, nhất
là khi con cái chuẩn bị lập gia đình. [Back]
2231
Có những
người không lập gia đình để chăm sóc cha mẹ, anh
chị em, hoặc để dồn hết tâm trí vào một nghề
nghiệp hay một lý do cao đẹp khác. Họ có thể
góp phần lớn lao vào lợi ích của gia đình nhân
loại. [Back]
Gia đình và Nước Trời
Các liên
hệ gia đình rất quan trọng nhưng không tuyệt đối.
Ðứa trẻ càng lớn lên, vươn tới tuổi trưởng
thành và tự chủ về mặt nhân bản và thiêng liêng,
ơn gọi riêng do Thiên Chúa ban càng được khẳng định
rõ ràng và mạnh mẽ hơn. Cha mẹ phải tôn trọng
và cổ võ con cái đáp trả và đi theo ơn gọi ấy.
Phải xác tín rằng ơn gọi đầu tiên của Ki-tô hữu
là đi theo Ðức Giê-su. "Ai
yêu cha mẹ hơn Thầy thì không đáng làm môn đệ Thầy,
ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy thì không đáng
làm môn đệ Thầy." (Mt
10,37) [Back]
2233
Trở
thành môn đệ Ðức Giê-su, là chấp nhận lời mời
gọi thuộc về gia đình Thiên Chúa và sống như Người:
"Ai thi hành ý muốn của Cha Ta, Ðấng ngự
trên trời, người ấy là anh chị em và là mẹ
Ta" (Mt 12,49). Với tâm tình vui mừng
và biết ơn, cha mẹ phải đón nhận và tôn trọng ơn
Thiên Chúa mời gọi một trong số con cái mình đi
theo Người, trong đời sống trinh khiết vì Nước
Trời, trong đời thánh hiến, hay trong thừa tác vụ
tư tế. [Back]
2234
Quyền bính trong xã hội dân sự
Ðiều
răn thứ tư cũng dạy ta phải tôn trọng tất cả
những ai được Thiên Chúa trao ban một quyền bính trong
xã hội để mưu ích cho chúng ta. Ðiều răn này soi
sáng các bổn phận của những người thực thi
quyền bính cũng như những kẻ được phục vụ.
[Back]
2235
Bổn phận của
chính quyền dân sự
Những
người cầm quyền phải thực thi quyền bính
như người phục vụ: "Ai muốn làm lớn giữa
anh em thì phải làm đầy tớ anh em" (Mt 20, 26). Về mặt luân lý, việc
thực thi quyền bính phải căn cứ vào Thiên Chúa là Ðấng
ban quyền, vào lý trí tự nhiên và đối tượng đặc
thù của quyền này. Không ai được quyền truyền lệnh
hay thiết lập điều gì trái với nhân phẩm
và luật tự nhiên. [Back]
2236
Phải
thực thi quyền bính theo trật tự chính đáng các giá trị
giúp mọi người dễ dàng sử dụng tự do và
trách nhiệm. Cấp trên phải khôn ngoan thực thi công bằng
phân phối bằng cách quan tâm đến nhu cầu và phần
đóng góp của mỗi người, để tạo sự
hòa thuận. Họ phải lưu tâm đừng để cho các
luật lệ và các qui định được ban hành tạo ra nguy
cơ đối nghịch lợi ích cá nhân với lợi ích tập
thể. [Back]
2237
Chính quyền
phải tôn trọng các quyền căn bản của con người.
Phải thực thi công bình với lòng nhân đạo
khi tôn trọng quyền của từng người, nhất là
quyền của các gia đình và những người khốn
cùng. Các quyền chính trị gắn
liền với tư cách công dân, có thể và phải được
công nhận theo các đòi hỏi của công ích. Các quyền
ấy không thể bị công quyền đình chỉ khi
không có lý do chính đáng và tương xứng. Việc thực thi
các quyền chính trị nhằm mưu cầu lợi ích chung của
quốc gia và của cộng đồng nhân loại. [Back]
2238
Bổn phận
công dân
Những
người phục tùng quyền bính phải coi cấp trên như
người đại diện Thiên Chúa, Ðấng đã đặt
họ làm người phân phát các ân huệ của Người:
"Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế
do loài người đặt ra. Hãy hành động như những
con người tự do, không phải như những người lấy
tự do làm màn che đậy sự gian ác, nhưng như những tôi tớ
của Thiên Chúa" (1 Pr 2,13.16). Sự
cộng tác trung thực của người công dân bao hàm quyền,
đôi khi là bổn phận, phải lên tiếng phê phán những
gì họ cho là có hại cho nhân phẩm và lợi ích của
cộng đồng. [Back]
2239
Người công dân phải
góp phần với chính quyền để mưu ích cho xã hội
trong tinh thần tôn trọng chân lý, công bằng, liên đới
và tự do. Lòng yêu mến và phục vụ Tổ Quốc
phát xuất từ bổn phận tri ân và đòi hỏi của
đức ái. Nhiệm vụ tùng phục quyền bính hợp
pháp và phục vụ công ích đòi hỏi người công dân
chu toàn vai trò của mình trong đời sống của
cộng đồng chính trị. [Back]
2240
Bổn
phận tùng phục quyền bính và có trách nhiệm đối với
công ích buộc người công dân phải đóng thuế, bầu
cử và bảo vệ quê hương:
"Anh
em nợ ai cái gì, hãy trả cho người ta cái đó: nộp
sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người
đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người
phải kính" (Rm 13,7)
"Người
Ki-tô hữu cư ngụ trên quê hương mình, như những ngoại
kiều thường trú. Họ chu toàn mọi bổn phận công
dân và gánh chịu tất cả như ngoại kiều... Họ
vâng phục luật pháp hiện hành nhưng đời sống của
họ vượt trên luật pháp... Thiên Chúa đã cho họ một
địa vị cao quí đến độ họ không bỏ đi được"
(Epitre à Diognète 5,5.19; 6,10).
Thánh
Phao-lô tông đồ cũng khuyến dụ chúng ta phải cầu
nguyện và tạ ơn Chúa cho "vua chúa và tất cả những
người cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc
nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh" (1Tm 2,2). [Back]
2241
Những
quốc gia giàu hơn có bổn phận đón nhận theo khả
năng, những người nước ngoài đến tìm kiếm
an ninh và sinh kế mà họ không có được nơi chính quê hương họ.
Chính quyền phải để tâm tôn trọng luật tự
nhiên vốn đòi hỏi phải bảo vệ những
khách kiều cư. Vì công ích, chính quyền có thể quy định
một số điều kiện pháp lý cho quyền nhập
cư, nhất là đòi hỏi các người di dân phải tôn trọng
các bổn phận đối với quốc gia tiếp nhận
họ. Người dân nhập cư phải biết ơn và tôn trọng
di sản vật chất và tinh thần của xứ sở
tiếp nhận họ, tuân thủ luật pháp và chia sẻ
các trách vụ trong nước ấy. [Back]
2242
heo lương
tâm, người công dân không được tuân theo những luật lệ
của chính quyền dân sự khi chúng ngược lại các
đòi hỏi luân lý, nghịch với các quyền cơ
bản của con người hay giáo huấn của Tin Mừng.
Khi những đòi hỏi của chính quyền nghịch với
đòi hỏi của lương tâm ngay thẳng, Ki-tô hữu từ
chối vâng phục chính quyền, vì phải phân biệt
giữa việc phục vụ Thiên Chúa và việc phục vụ
cộng đồng chính trị. "Của Xê- da, trả về
Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa" (Mt 22,21). "Phải vâng lời Thiên Chúa
hơn vâng lời loài người" (Cv
5,29):
"Khi
công quyền vượt quá quyền hạn của mình mà
đàn áp công dân, thì lúc đó chính công dân cũng không nên từ
chối những gì khách quan xét thấy phù hợp với
đòi hỏi công ích. Họ được phép bênh vực các quyền
lợi riêng của mình cũng như của đồng bào,
chống lại những lạm dụng của công quyền,
nhưng phải tôn trọng các giới hạn của luật
tự nhiên cũng như luật Tin Mừng" (GS 74,5). [Back]
2243
Không
được sử dụng vũ khí chống lại một
chính quyền áp bức, trừ khi hội đủ các điều
kiện sau đây:
1. Có bằng cớ chắc
chắn chính quyền vi phạm nghiêm trọng và lâu dài các
quyền căn bản.
2. Sau khi đã dùng mọi
phương thế khác.
3. Không gây ra những xáo
trộn tệ hại hơn.
4. Có đủ cơ sở để
hy vọng thành công.
5. Nếu không tìm được
giải pháp nào khác tốt hơn. [Back]
2244
Mọi
cơ chế đều minh nhiên hay mặc nhiên dựa trên một
nhân sinh quan. Từ đó, rút ra những tiêu chuẩn để phán
đoán bậc thang các giá trị và đường lối hành động.
Ða số các xã hội xây dựng cơ chế của
mình dựa trên một điểm ưu việt nào đó của
con người so với vạn vật. Chỉ có tôn giáo được
Thiên Chúa mặc khải, mới nhận ra được nguồn
gốc và định mệnh của con người, nơi Thiên Chúa,
Ðấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc. Hội Thánh mời
gọi các chính quyền nên có những phán đoán và những quyết
định dựa trên chân lý mặ)c khải về Thiên
Chúa và con người.
Các
xã hội không biết đến hay từ khước mặc
khải này, vì không muốn lệ thuộc vào Thiên Chúa,
đều phải tìm nơi chính mình hay vay mượn ở
một ý thức hệ nào đó, những tiêu chuẩn và
cứu cánh cho mình. Khi không chấp nhận cho người
ta bảo vệ một tiêu chuẩn khách quan về thiện
ác, các xã hội ấy tự ban cho mình một quyền
lực độc tài chuyên chế trên con người và trên định
mệnh con người, cách công khai hay ngấm ngầm, như lịch
sử từng minh chứng. [Back]
2245
Do sứ
mạng và thẩm quyền của mình, Hội Thánh
không tự đồng hóa với cộng đồng chính trị,
nhưng Hội Thánh vừa là dấu chỉ, vừa là người
bảo vệ tính siêu việt của nhân vị. Hội
Thánh tôn trọng và cổ võ tự do chính trị cũng
như trách nhiệm của các công dân. [Back]
2246
Hội
Thánh có sứ mệnh nói lên nhận định luân lý của
mình cả trong những vấn đề liên quan tới
lãnh vực chính trị, khi các quyền căn bản của
con người hay phần rỗi các linh hồn đòi hỏi,
bằng cách sử dụng mọi phương tiện và chỉ những
phương tiện nào phù hợp với Tin Mừng và lợi ích của
thời đại và hoàn cảnh khác nhau. [Back]
Tóm Lược
"Hãy
thảo kính cha mẹ" (Dt
5,16, Mc 7,10).
2248
Theo điều
răn thứ tư, Thiên Chúa muốn rằng, sau Người chúng ta phải
tôn kính cha mẹ và những ai được Người trao ban quyền
hành để mưu ích cho chúng ta. [Back]
2249
Hôn nhân
được thiết lập trên giao ước và sự ưng thuận
của đôi vợ chồng. Hôn nhân và gia đình nhắm tới
lợi ích của đôi vợ chồng, cũng như việc sinh
sản và giáo dục con cái. [Back]
2250
Sự lành mạnh của
con người, của xã hội nhân loại và Ki-tô giáo
liên kết chặt chẽ với tình trạng tốt
đẹp của cộng đồng hôn nhân và gia đình. [Back]
2251
Con cái phải kính trọng, biết ơn, vâng lời, và giúp đỡ cha mẹ
mình. Sự tôn trọng nhau sẽ tạo nên ôn hoà trong cuộc sống gia đình. [Back]
2252
Cha mẹ là những người
đầu tiên có trách nhiệm giáo dục đức tin, cầu
nguyện và mọi đức tính tốt cho con cái tùy theo khả
năng, cha mẹ có bổn phận đáp ứng những nhu cầu
thể xác và tâm linh của con cái. [Back]
2253
Cha mẹ phải tôn trọng và tạo
thuận lợi cho ơn gọi của con cái mình. Họ
phải ý thức và dạy dỗ cho con biết rằng
theo Đức Giê-su là ơn gọi đầu tiên của Ki-tô hữu. [Back]
2254
Công quyền phải tôn trọng
các quyền căn bản của con người và các điều kiện
để con người thể hiện tự do. [Back]
2255
Người công dân phải cộng
tác với chính quyền để xây dựng xã hội
trong tinh thần tôn trọng chân lý, công bằng, liên đới
và tự do. [Back]
2256
Theo lương tâm, người công dân không được
tuân theo các luật lệ của chính quyền khi chúng ngược
lại đòi hỏi luân lý. "Phải vâng lời
Thiên Chúa hơn vâng lời loài người" (Cv 5,29). [Back]
2257
Mọi tập thể đều phán đoán
và hành động dựa trên một nhân sinh quan. Nếu không được
ánh sáng Tin Mừng soi dẫn về Thiên Chúa và về con người,
tập thể dễ trở thành độc tài. [Back]
Điều răn thứ năm
"Ngươi chớ giết người" (Xh 20,13)
"Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người.
Ai giết người sẽ bị đưa ra tòa. Còn Thầy,
Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình,
thì cũng đáng bị đưa ra tòa rồi" (Mt 5,21-22).
Sự sống của con người là điều linh thánh, vì từ ban đầu sự sống này nằm trong quyền lực sáng tạo của Thiên Chúa và luôn liên kết với cứu cánh duy nhất của mình là chính Đấng Sáng Tạo. Từ khởi thủy cho đến cùng tận đời người, chỉ có Thiên Chúa là chủ sự sống: trong bất cứ hoàn cảnh nào, không ai được phép trực tiếp hủy hoại mạng sống người vô tội. [Back]
2259
Tôn trọng sự sống con người
Chứng cứ trong lịch sử cứu độ
Trong trình thuật Ca-in giết em là A-ben, Thánh Kinh cho thấy ngay từ đầu lịch sử loài người, trong lòng người có sự giận dữ và ganh tị là hậu quả của nguyên tội. Con người trở thành kẻ thù của đồng loại. Thiên Chúa vạch rõ huynh đệ tương tàn là một tội ác : "Ngươi đã làm gì ? Máu của em ngươi từ mặt đất kêu thấu đến Ta. Thì bây giờ, ngươi bị nguyền rủa, bị lưu đày khỏi mặt đất đã banh miệng uống máu em ngươi, do tay ngươi làm đổ ra" (St 4,10-11). [Back]
2260
Giao ước giữa Thiên Chúa và loài ngươi đầy những lời nhắc nhở: Thiên Chúa ban hồng ân sự sống cho con người; còn con người không ngừng chém giết nhau. "Ta sẽ đòi mỗi người phải đền nợ máu của người anh em mình. Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người làm đổ ra vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 9,5-6). Cựu Ước vẫn coi máu là dấu chỉ linh thánh của sự sống. Mọi thời đại đều phải học biết tôn trọng sự sống. [Back]
2261
Thánh
Kinh giải thích điều răn thứ năm: "Ngươi không được
giết kẻ vô tội và người công chính" (Xh 23, 7). Cố ý giết một kẻ vô tội
là một lỗi nặng phạm đến phẩm giá con người,
phạm đến luật vàng của Đức Ki-tô và sự
thánh thiện của Đấng Sáng Tạo. Luật cấm giết
người có giá trị phổ quát, buộc mọi người
và mỗi người, mọi lúc và mọi nơi. [Back]
2262
Trong
Bài Giảng Trên Núi, Chúa cũng nhắc lại điều răn
này: "Chớ giết người" (Mt 5,21).
Người còn cấm giận dữ oán ghét và báo thù. Đức
Ki-tô đòi hỏi môn đệ phải đưa cả má bên kia, phải
yêu kẻ thù. Bản thân Người đã không tự vệ
và bảo Phê-rô xỏ gươm vào vỏ. [Back]
2263
Tự vệ
Quyền tự vệ chính đáng của cá nhân hay tập thể không phải là ngoại lệ của luật cấm giết người vô tội, nghĩa là cấm cố sát. Hành động tự vệ đưa đến hai hậu quả: một là cứu lấy chính mạng sống mình, hai là giết kẻ tấn công. Chỉ được phép nhắm tới điều trước, chứ không phải điều sau. [Back]
2264
Yêu bản thân là nguyên tắc căn bản của luân lý. Do đó, có quyền bắt kẻ khác tôn trọng mạng sống mình. Nếu vì phải bảo vệ mạng sống mình mà giết kẻ tấn công thì không mắc tội sát nhân. Để tự vệ, không được sử dụng bạo lực quá mức cần thiết, nhưng được ứng phó cách tương xứng. Và để được cứu rỗi, chúng ta không buộc phải từ bỏ hành động tự vệ chính đáng, để tránh giết kẻ khác, vì chúng ta có bổn phận phải giữ gìn mạng sống của mình hơn là mạng sống của kẻ khác. [Back]
2265
Tự vệ chính đáng
không những là một quyền, nhưng còn là một trọng
trách đối với người có trách nhiệm bảo vệ mạng
sống kẻ khác. Việc bảo vệ công ích đòi phải
đặt kẻ xâm phạm bất chính vào tình trạng
không thể tác hại. Vì lý do này, những nhà chức
trách hợp pháp có quyền sử dụng cả đến vũ
khí để ngăn chận những kẻ xâm phạm đến cộng
đồng dân sự được ủy thác cho mình. [Back]
2266
Bổn phận bảo vệ ích chung đòi buộc nhà nước phải nỗ lực ngăn chặn các vi phạm về nhân quyền và về những quy tắc cơ bản cho cuộc sống chung của công dân khỏi lan tràn, đáp ứng bổn phận bảo vệ ích chung đòi hỏi. Nhà hữu trách hợp pháp có quyền và bổn phận đề ra hình phạt cân xứng với tội phạm.
Mục đích đầu tiên của hình phạt là đền bù lại những thiệt hại do lỗi lầm gây ra. Nếu phạm nhân tự nguyện chấp nhận thì hình phạt có giá trị đền tội. Ngoài việc bảo vệ trật tự công cộng và an ninh cho mọi người, hình phạt còn có mục đích chữa trị, trong mức độ có thể được, hình phạt phải góp phần cải hóa phạm nhân. [Back]
2267
Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh không loại trừ án tử hình, khi đã xác minh đầy đủ căn tính và trách nhiệm của phạm nhân, nếu đây là biện pháp khả thi duy nhất để bảo vệ hữu hiệu mạng sống con người khỏi bị xâm phạm bất chính. Tuy nhiên, nếu các phương tiện nhân đạo hơn cũng đủ để bảo vệ an ninh con người khỏi bị xâm phạm, nhà cầm quyền phải dùng những phương tiện này, vì đáp ứng hơn với những hoàn cảnh cụ thể của công ích và phù hợp hơn với phẩm giá con người.
Thực ra, ngày nay, vì Nhà Nước có nhiều cách để chế ngự hữu hiệu tội ác, làm cho kẻ đã phạm tội không còn khả năng tác hại, không dứt khoát tước đoạt khả năng hối cải của họ, nên những trường hợp tuyệt đối phải khử trừ phạm nhân từ nay khá họa hiếm, nếu không muốn nói là thực tế không còn nữa. [Back]
2268
Tội cố ý giết người
Điều răn thứ năm coi việc giết người cách cố tình và trực tiếp là một tội trọng. Kẻ sát nhân và đồng lõa phạm cùng một tội "tiếng máu kêu oan đến trời." (St,10) Tội giết con cái, anh em, cha mẹ, vợ chồng là những tội ác ghê tởm vì cắt đứt liên hệ tình thân. Không thể biện minh cho bất cứ một tội sát nhân nào vì lý do bảo vệ nòi giống tốt hay y tế xã hội, dù chánh quyền có ra lệnh. [Back]
2269
Điều răn thứ năm cũng cấm những hành động cố ý gây chết người cách gián tiếp. Nếu không có lý do nghiêm trọng, luật luân lý cấm không được phép đặt một người vào chỗ nguy hiểm sinh tử, cũng như không được phép từ chối giúp đỡ một người đang lâm nguy.
Thật là một bất công tày trời và trọng tội, khi xã hội để nhân dân chết đói mà không tìm cách giúp đỡ. Các thương gia cũng gián tiếp phạm tội giết người, khi để cho đồng bào đói khổ và chết chóc vì buôn bán gian tham và hám lợi. Họ phải chịu trách nhiệm về tội này.
Về mặt luân lý, con người không phải chịu trách nhiệm về tội ngộ sát. Thế nhưng, khi không có lý do tương xứng mà hành động gây chết người, dù không cố ý, người ta vẫn mắc lỗi nặng. [Back]
2270
Phá thai
Sự sống con người phải được tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ từ lúc được thụ thai. Ngay từ giây phút bắt đầu hiện hữu, con người phải được kẻ khác nhìn nhận các quyền làm người, trong đó có quyền được sống là quyền bất khả xâm phạm của mọi người vô tội.
"Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi. Trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi" (Gr 1,5).
"Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu" (Tv 139,15)
2271
Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã xác định phá thai là một tội ác. Giáo huấn ấy bất biến, không hề thay đổi. Trực tiếp phá thai, dù là mục đích hay phương tiện, đều vi phạm nghiêm trọng luật luân lý. Không được phá thai cũng như không được giết trẻ sơ sinh. Thiên Chúa là chủ sự sống, đã trao cho con người nhiệm vụ cao cả là bảo tồn sự sống, và họ phải chu toàn bổn phận đó như chính Người đã làm. Do đó, sự sống phải được bảo vệ hết sức cẩn thận ngay từ lúc thụ thai: phá thai và giết trẻ sơ sinh là những tội ác ghê tởm. [Back]
2272
Cộng
tác vào chính việc phá thai là một lỗi nặng. Theo giáo
luật, Hội Thánh ra vạ tuyệt thông cho kẻ phạm
tội này. Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết
quả, thì mắc vạ tuyệt thông tiền kết,
do chính hành vi phạm tội và theo những điều kiện
đã được giáo luật dự liệu. Như thế Hội
Thánh không có ý giới hạn lòng thương xót của
Thiên Chúa, nhưng muốn nhấn mạnh tính cách nghiêm trọng
của tội ác đã phạm, sự thiệt hại
không sửa chữa được đã gây ra cho trẻ vô tội
bị giết chết, cho cha mẹ của em và cho toàn
xã hội. [Back]
2273
Quyền
được sống là quyền bất khả nhượng của
mọi người vô tội. Đây là một yếu tố nền tảng của xã hội
dân sự và luật pháp:
Những
quyền bất khả nhượng của con người phải
được xã hội dân sự và chính quyền nhìn nhận
và tôn trọng. Những quyền này không tùy thuộc vào các
cá nhân, không tùy thuộc vào các bậc cha mẹ, cũng không
phải là một nhân nhượng của xã hội và của
Nhà Nước, nhưng thuộc về bản tính con người và gắn
liền với con người do chính hành động Thiên Chúa sáng tạo
nên con người. Trong những quyền căn bản ấy, phải
kể đến quyền được sống và được toàn vẹn
thân thể của mọi người từ lúc được thụ
thai đến khi chết.
Khi
ra một đạo luật tước quyền được luật
pháp bảo vệ của một hạng người, thì
Nhà Nước đã phủ nhận sự bình đẳng của
mọi người trước luật pháp. Khi Nhà Nước không phục
vụ quyền của mọi công dân, đặc biệt những
kẻ yếu kém nhất, thì chính nền tảng của
một Nhà Nước pháp quyền bị đe dọa. Vì phải
tôn trọng và bảo vệ trẻ em ngay từ bào thai, luật
pháp phải dự liệu những hình phạt tương xứng
cho ai cố ý vi phạm các quyền lợi của trẻ
em. [Back]
2274
Ngay
từ lúc thành thai, phôi thai phải được đối xử như
một nhân vị, nên phải được hết sức bảo
vệ toàn vẹn, chăm sóc và chữa trị như mọi con người
khác.
Về
mặt luân lý, khám thai
là điều được phép làm, nếu nó tôn trọng sự sống
và sự toàn vẹn của phôi thai và của thai nhi, và nếu
nó được nhắm tới sự bảo tồn hay chữa
trị chính phôi thai hay thai nhi. Việc khám thai nghịch với
luật luân lý cách nghiêm trọng, khi có ý khám thai để
căn cứ vào kết quả có thể dẫn đến phá thai.
Khám thai không thể trở thành phiên tòa tuyên án tử
hình. [Back]
2275
Chỉ
được phép can thiệp trên phôi thai con người, với điều
kiện phải tôn trọng sự sống và sự toàn vẹn
của phôi thai, và không gây những rủi ro không cân xứng
cho phôi thai, nhưng phải nhằm tới việc chữa trị,
cải thiện sức khỏe, hoặc để cứu sống
chính phôi thai. Sản xuất những phôi thai con người với
dụng ý khai thác như một vật liệu sinh vật
học tiện dụng là phản đạo đức. Đã có
một vài thử nghiệm can thiệp trên bộ nhiễm-sắc-thể hoặc
gien di truyền không phải để trị liệu,
nhưng muốn tạo ra những con người được tuyển
lựa theo phái tính hoặc với những tính chất định
sẵn. Những hành vi đó nghịch lại với phẩm
giá của nhân vị, sự toàn vẹn và căn tính duy nhất,
không trùng lắp của con người. [Back]
2276
Giết chết để tránh đau
Phải
đặc biệt tôn trọng sự sống của những
người tàn tạ, yếu ớt. Những người bệnh
hoạn tật nguyền phải được nâng đỡ để
sống một cuộc sống càng bình thường càng tốt.
[Back]
2277
Với
bất cứ lý do nào và bất cứ phương thế nào,
việc trực tiếp giết chết để tránh đau vẫn
là nhằm chấm dứt sự sống của những
người tật nguyền, đau yếu hoặc hấp hối.
Về phương diện luân lý, việc này không thể chấp
nhận được. Do đó, có ý làm hoặc bỏ không làm một
việc tự nó đưa đến cái chết, để chấm dứt
sự đau đớn của một người, là một tội
cố ý giết người, tội nghiêm trọng nghịch
với phẩm giá con người và với lòng tôn kính
Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng Tạo Thành con người. Một
phán đoán sai lầm cách ngay tình không thay đổi bản chất
của hành vi sát nhân, một hành vi cần phải bài trừ
và cấm chỉ về mặt luân lý. [Back]
2278
Có
thể ngưng các phương thức trị bệnh quá tốn kém, mạo
hiểm, dị thường hoặc không tương xứng với
những kết quả mong muốn. Luân lý không
đòi buộc phải chữa bệnh với bất cứ
giá nào. Chúng ta không muốn giết người, nhưng chấp nhận
không thể ngăn cản được sự chết. Chính bệnh
nhân phải quyết định nếu họ có thẩm quyền
và khả năng; nếu không, việc quyết định phải
do những người có quyền theo luật pháp nhưng luôn phải
tôn trọng ý muốn hợp lý và các quyền lợi
chính đáng của người bệnh. [Back]
2279
Dù
bệnh nhân sắp chết, vẫn phải tiếp tục
chăm sóc bình thường. Về mặt luân lý, việc
sử dụng các loại thuốc giảm đau, để làm dịu
bớt sự đau đớn của người hấp hối,
ngay cả khi có nguy cơ rút ngắn cuộc sống vẫn được
xem là xứng hợp với nhân phẩm, miễn là không nhắm
đến cái chết như mục đích hay như phương tiện, nhưng chỉ
được tiên đoán và chấp nhận như điều không thể
tránh. Săn sóc người hấp hối là một hình thức
đặc biệt của đức bác ái vô vị lợi, cần
được khuyến khích. [Back]
2280
Tự sát
Mỗi
người chịu trách nhiệm về sự sống của
mình trước mặt Thiên Chúa là Đấng ban sự sống.
Chính Người vẫn là Chủ tối thượng của sự
sống. Chúng ta có bổn phận đón nhận với
lòng biết ơn và gìn giữ sự sống để tôn
vinh Thiên Chúa và được cứu độ. Chúng ta là người quản
lý chứ không phải là chủ của sự sống
mà Chúa đã trao ban. Chúng ta không có quyền định đoạt
về mạng sống mình. [Back]
2281
Tự
sát nghịch với khuynh hướng tự nhiên muốn bảo
tồn và kéo dài sự sống của con người. Lỗi
phạm nặng nề đến tình yêu chính đáng đối với
bản thân. Tự sát còn xúc phạm đến tình
yêu đối với người thân cận vì nó cắt đứt
một cách bất công những mối dây liên đới với
gia đình, quốc gia và nhân loại mà chúng ta có trách nhiệm.
Tự sát đối nghịch với tình yêu của Thiên
Chúa hằng sống. [Back]
2282
Nếu
tự sát với ý định nêu gương, nhất là đối với
giới trẻ, thì tội này lại càng nghiêm trọng
hơn nữa, vì là một gương xấu. Luân lý cấm
cộng tác vào việc tự sát.
Người
tự sát vì những rối loạn tâm thần trầm
trọng, quá lo âu và sợ hãi trước một thử
thách, trước đau khổ hoặc sợ bị tra tấn, có
thể được giảm bớt trách nhiệm. [Back]
2283
Ta
không được tuyệt vọng về phần rỗi đời
đời của những người tự tử. Thiên Chúa có thể
thu xếp cho họ có cơ hội sám hối để được ơn
tha thứ, bằng những đường lối mà chỉ một
mình Người biết. Hội Thánh vẫn cầu nguyện
cho những người hủy hoại mạng sống
mình. [Back]
Tôn trọng phẩm giá con người
Tôn trọng linh hồn tha nhân - gương xấu
Gương
xấu là thái độ hoặc cách sống làm cho người khác
bắt chước làm điều xấu. Kẻ làm gương xấu
cám dỗ người thân cận, làm hại đến nhân đức
và sự chính trực của họ, và có thể đưa người
anh em đến cái chết về phần linh hồn. Nếu
vì làm một điều xấu hay bỏ một điều
tốt, mà lôi kéo tha nhân đến chỗ phạm một lỗi
nặng, thì gương xấu ấy là một lỗi nặng. [Back]
2285
Gương
xấu đặc biệt nghiêm trọng khi người gây gương xấu
có uy thế hay người vấp phạm vì gương xấu
là kẻ yếu đuối. Chúa Giê-su đã chúc dữ: "Ai
làm cớ cho một trong những tín hữu của Thầy
sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô
cho chìm xuống biển còn hơn" (Mt 18,6). Gương xấu còn nghiêm trọng hơn nữa
khi do người có bổn phận dạy dỗ và giáo dục
kẻ khác gây ra. Đức Giê-su đã quở trách các kinh sư và
các Pha-ri-sêu: họ như sói đội lốt chiên. [Back]
2286
Gương xấu có thể phát sinh từ luật pháp hoặc những cơ chế, thời trang hoặc dư luận. Ai thiết lập những luật lệ hoặc những cơ cấu xã hội làm cho phong hóa suy đồi và đời sống tôn giáo hư hỏng, hoặc khiến cho những hoàn cảnh xã hội, dù cố ý hay không, làm cho việc tuân giữ các giới răn, trở nên khó khăn và trên thực tế không thể kham nổi, thì mắc tội gây gương xấu. Những chủ nhân nào đặt ra những luật lệ khuyến khích gian lận, các bậc phụ huynh làm cho con cái tức giận, hoặc những kẻ chi phối dư luận quần chúng khiến dư luận không còn tôn trọng các giá trị luân lý, cũng mắc tội làm gương xấu. [Back]
2287
Ai sử dụng quyền
mà tạo cơ hội cho kẻ xấu làm bậy, thì mang
tội gây gương xấu và chịu trách nhiệm về điều
xấu mình đã trực tiếp hoặc gián tiếp
khuyến khích. "Không thể không có những cớ làm cho
người ta vấp ngã, nhưng vô phúc thay kẻ làm cớ
cho người ta vấp ngã" (Lc 17,1). [Back]
2288
Tôn trọng sức khỏe
Sự sống và sức khỏe là những ơn quý giá Thiên Chúa ban. Chúng ta có bổn phận chăm sóc chúng cách hợp lý, dù vẫn phải lưu tâm đến những nhu cầu của tha nhân và công ích. Việc chăm sóc sức khỏe công dân phải được sự trợ giúp của xã hội để họ có những thuận lợi mà lớn lên và đạt tới mức trưởng thành: cơm ăn, áo mặc, nhà ở, việc làm chăm lo sức khỏe, giáo dục căn bản, và trợ cấp xã hội. [Back]
2289
Luân
lý đòi phải tôn trọng sự sống thể
xác, nhưng không coi đó là một giá trị tuyệt đối. Luân
lý chống lại quan niệm tân-ngoại giáo có khuynh
hướng cổ võ sự tôn
thờ thân xác, hy sinh tất cả cho thân xác, tôn thờ
sự toàn mỹ của thân thể và các thành tích thể dục
thể thao. Khi chọn người khỏe và bỏ người yếu,
quan niệm này có thể làm cho các mối tương giao của con
người xấu đi. [Back]
2290
Đức
tiết độ giúp con người tránh
mọi thái quá như: ăn uống quá độ, rượu chè, say
sưa lạm dụng thuốc lá và y dược. Những người
say rượu hoặc say mê tốc độ, gây nguy hiểm cho
tha nhân và ngay chính mình trên đường bộ, đường thủy
và đường hàng không, đều phạm tội nặng. [Back]
2291
Việc sử dụng ma túy gây tác hại nặng nề cho sức khỏe
và mạng sống con người. Chỉ trừ trường hợp
trị liệu, sử dụng ma túy là một lỗi nặng.
Bí mật sản xuất và buôn bán ma túy là tội ác, vì
cộng tác trực tiếp vào các hành vi vi phạm nghiêm trọng
luật luân lý, do hậu quả lôi cuốn người ta
phạm tội. [Back]
2292
Tôn trọng con người
và nghiên cứu khoa học
Những thí nghiệm khoa học,
y học hoặc tâm lý học, trên những con người
hoặc các nhóm người, có thể góp phần vào việc chữa
bệnh và tiến bộ của y tế công cộng. [Back]
2293
Việc nghiên cứu khoa học, lý thuyết
hay ứng dụng là một cách biểu lộ đầy
ý nghĩa quyền bá chủ của con người trên các
thụ tạo. Khoa học và kỹ thuật là những
phương tiện quí giá khi phục vụ và phát triển toàn diện
con người để mưu ích chung; nhưng khoa học kỹ thuật
không đem lại ý nghĩa cho cuộc đời và sự tiến
bộ của loài người. Khoa học và kỹ thuật qui
hướng về con người, xuất phát từ con người
và tiến bộ nhờ con người, vì thế chính con
người và các giá trị luân lý của con người là mục
đích và là những giới hạn cho khoa học kỹ thuật.
[Back]
2294
Lập
trường cho rằng việc nghiên cứu khoa học
lý thuyết và ứng dụng có giá trị trung lập
về phương diện luân lý là điều không tưởng. Cũng
thế, những tiêu chuẩn định hướng để phát
triển khoa học kỹ thuật không thể căn cứ
vào hiệu quả kỹ thuật, hay sự hữu dụng
đối với người này nhưng lại tổn hại người
khác, hoặc tệ hơn nữa, vào những ý thức hệ
đang thống trị. Từ ý nghĩa nội tại của
chúng, khoa học và kỹ thuật, phải tôn trọng vô điều
kiện các tiêu chuẩn căn bản của luân lý, phải
phục vụ con người cũng như các quyền bất khả
nhượng, lợi ích đích thực và toàn vẹn của con người,
theo đúng kế hoạch và ý muốn của Thiên Chúa. [Back]
2295
Những
nghiên cứu và thí nghiệm trên con người không thể biện
minh cho những hành vi tự chúng vẫn nghịch với phẩm
giá con người và luật luân lý. Ngay cả sự ưng
thuận của đương sự cũng không biện minh được
cho những hành vi đó. Về mặt luân lý, không được
phép thí nghiệm trên con người nếu thấy trước những
rủi ro không cân xứng hay có thể tránh được cho mạng
sống và sự toàn vẹn tâm sinh lý của đương sự.
Những thí nghiệm như thế không phù hợp với phẩm
giá của con người, nhất là khi không có sự hiểu
biết và ưng thuận của đương sự và của những
người có quyền theo pháp luật. [Back]
2296
Việc ghép các bộ phận cơ thể phù hợp
với luật luân lý nếu các nguy hiểm và rủi
ro về thể xác và tâm lý nơi người cho, cân xứng
với lợi ích của người nhận. Hiến các bộ
phận sau khi chết là điều cao quí đáng khen thưởng, và
phải được khuyến khích như một biểu lộ
tình liên đới quảng đại. Về phương diện
luân lý, không thể chấp nhận lấy bộ phận
nếu người cho, hoặc những thân nhân có quyền,
không minh thị đồng ý. Cũng vậy, về phương
diện luân lý, không thể chấp nhận việc trực
tiếp gây tàn phế hoặc cái chết cho một người,
dù nhằm mục đích kéo dài đời sống của những
người khác.
2297
Tôn trọng sự toàn vẹn của thân thể
Nạn bắt cóc và giữ làm con tin, gây kinh hoàng và tạo áp lực nặng nề cho những nạn nhân. Về phương diện luân lý, những việc này là bất chính. Dùng khủng bố để đe dọa, gây thương tích và giết người bừa bãi là đi ngược lại công bình và bác ái cách nghiêm trọng. Tra tấn thể xác hay tinh thần để điều tra, để trừng phạt tội phạm, đe dọa đối phương, để trả thù, là đều nghịch với sự tôn trọng con người và phẩm giá con người. Ngoài những trường hợp trị liệu, việc cố tình cắt bỏ, hủy hoại hoặc triệt sản, thực hiện trên những người vô tội đều nghịch với luật luân lý. [Back]
2298
Trong quá khứ các chính phủ
hợp pháp thường sử dụng những biện pháp tàn
bạo để duy trì lề luật và trật tự;
thường các mục tử của Hội Thánh chẳng những
đã không phản kháng việc đó, mà còn áp dụng các
qui định của bộ luật Rô-ma về tra tấn trong
tòa án của mình. Bên cạnh những sự kiện
đáng tiếc đó, Hội Thánh luôn luôn dạy phải nhân từ
và thương xót, lại nghiêm cấm các giáo sĩ không được gây
đổ máu. Đến nay, người ta thấy rõ là các biện
pháp tàn bạo đó không cần thiết cho trật tự công
cộng, cũng chẳng phù hợp với những quyền
chính đáng của con người. Ngược lại, những thực
hành đó lại còn đưa đến những suy thoái tệ hại
hơn. Chúng ta phải đấu tranh để hủy bỏ chúng. Phải
cầu nguyện cho những nạn nhân và các lý
hình. [Back]
2299
Tôn trọng người chết
Phải lưu tâm săn sóc những người hấp hối để giúp họ sống những giây phút cuối đời cách tốt đẹp và bình an. Thân nhân phải nâng đỡ họ bằng lời cầu nguyện và lo cho họ lãnh nhận các bí tích đúng lúc, để chuẩn bị họ gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống. [Back]
2300
Trong
niềm tin và hy vọng vào sự sống lại, người
tín hữu phải tôn trọng và bác ái đối với thi hài
của những người quá cố. Chôn xác kẻ chết là
một trong bảy mối thương xác. Việc đó tỏ
lòng quí trọng con cái Thiên Chúa mà thân xác họ là đền
thờ của Chúa Thánh Thần. [Back]
2301
Về
phương diện luân lý, được phép mổ tử thi để
điều tra pháp lý hoặc để nghiên cứu khoa học.
Việc hiến các bộ phận cơ thể sau khi chết
là việc hợp pháp và đáng khen. Hội Thánh cho phép hỏa
táng nếu việc này không phương hại tới đức tin
vào sự sống lại của thân xác. [Back]
Bảo vệ hoà bình
Hòa bình
Khi
nhắc lại giới luật "Chớ giết người"
(Mt 5,21), Chúa đòi chúng ta giữ
tâm hồn bình an. Người kết án cơn giận dữ
giết người và lòng thù ghét. Giận dữ là một ước muốn trả
thù. Ki-tô hữu không được ước muốn trả thù điều
ác của kẻ đáng trừng phạt, nhưng được phép bắt
họ làm một việc đền bù để sửa chữa
các việc xấu và bảo tồn công lý. Giận dữ
đến độ muốn giết chết, hay làm bị thương
người khác, là vi phạm nặng nề đức ái, là phạm
một tội trọng. Chúa nói: "Ai giận anh em
mình, thì cũng đáng bị đưa ra tòa rồi."
(Mt 5,22) [Back]
2303
Cố ý thù ghét người khác là điều nghịch
với đức ái. Thù ghét tha nhân là một tội khi cố
tình ước muốn điều dữ cho người ấy,
và sẽ là một tội nặng khi muốn cho họ bị
tai hại nặng nề: "Còn Thầy, Thầy bảo
anh em: phải yêu kẻ thù, và cầu nguyện cho kẻ ngược
đãi anh em, như vậy, anh em mới được trở nên con
cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời." (Mt 5,44-45) [Back]
2304
Cần
phải có hòa bình để con người được sống
và phát triển.
Hòa bình
không chỉ là vắng bóng chiến tranh và không chỉ giới
hạn ở việc giữ thế quân bình giữa
các lực lượng đối lập. Thế giới chỉ
có hòa bình khi tài sản của con người được
bảo vệ, con người được tự do giao lưu, phẩm
giá của con người và của các dân tộc được tôn trọng,
tình huynh đệ được thực thi. Hòa bình là
ổn định trật tự, là công
trình của công lý và hoa quả của đức ái.
[Back]
2305
Hòa
bình trên trần thế là hình bóng và hoa trái của
bình an của Đức
Ki-tô, "Thủ lãnh Hòa Bình" thời
Mê-si-a (Is 9,5). Nhờ máu đổ ra trên Thập
Giá, Người đã tiêu diệt sự thù hận ngay trong
thân xác Người (Ep 2,16). Người đã giao
hòa loài người với Thiên Chúa và làm cho Hội Thánh trở
thành bí tích hiệp nhất nhân loại và kết hợp nhân
loại với Thiên Chúa. "Chính Người là bình an của
chúng ta" (Eph 2,14). Người tuyên bố
"phúc thay ai xây dựng hòa bình." (Mt 5,9) [Back]
2306
Những ai khước từ
bạo lực và đổ máu, sử dụng những phương thế
tự vệ vừa tầm những kẻ yếu nhất,
để bảo vệ quyền lợi của con người là
những người làm chứng cho đức bác ái Tin Mừng, miễn
là điều này không phương hại đến các quyền và bổn
phận của những người khác cũng như các tập
thể khác. Họ ý thức được những tác hại
trầm trọng về thể lý và luân lý khi sử
dụng bạo lực để gây ra tàn phá và chết chóc. [Back]
2307
Xa lánh chiến tranh
Điều răn thứ năm cấm cố ý hủy hoại mạng sống con người. Vì chiến tranh gây ra tai hại và bất công, nên Hội Thánh khẩn thiết thúc giục chúng ta cầu nguyện và hành động để Thiên Chúa nhân lành giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ ngàn đời của chiến tranh. [Back]
2308
Mỗi công dân và mỗi
người lãnh đạo đều phải hành động để
tránh chiến tranh. Tuy nhiên, bao lâu nguy cơ chiến tranh tồn
tại, bao lâu chưa có quyền bính quốc tế nào có thẩm
quyền và có đủ sức mạnh, thì một khi
đã tận dụng mọi phương thế ôn hòa, các
chính phủ được phép sử dụng quyền tự vệ
chính đáng. [Back]
2309
Phải xem xét nghiêm ngặt các điều kiện phải có để tự vệ chính đáng bằng sức mạnh quân sự. Một quyết định như thế rất nghiêm trọng, nên phải hội đủ các điều kiện sau đây:
- Thiệt hại do kẻ xâm lược gây ra cho quốc gia hoặc cho cộng đồng các quốc gia có tính lâu dài, nghiêm trọng và chắc chắn;
- Tất cả các phương thế khác để chấm dứt tình trạng này không thể thực hành được hoặc vô hiệu;
- Phải hội đủ các điều kiện quan trọng để thành công;
- Việc sử dụng vũ khí không gây những tai hại và hỗn loạn nghiêm trọng lớn hơn những tai hại ta đang cố loại trừ.
Phải lượng định
sức mạnh tàn phá của các phương tiện chiến tranh
hiện đại khi thẩm định điều kiện nầy. Trên
đây là những yếu tố truyền thống được liệt
kê trong học thuyết chiến tranh chính đáng. Những
người có trách nhiệm bảo vệ công ích, phải thận
trọng phán đoán khi thẩm định các điều kiện cho một
cuộc chiến tự vệ chính đáng. [Back]
2310
Trong trường hợp này, Nhà Nước có quyền và bổn phận đề ra cho công dân những nghĩa vụ cần thiết để bảo vệ tổ quốc. Những người phục vụ tổ quốc trong quân đội là những kẻ phụng sự cho an ninh và tự do của các dân tộc. Khi chu toàn đúng đắn bổn phận, họ thật sự góp phần vào lợi ích chung của quốc gia và gìn giữ hòa bình. [Back]
2311
Chính quyền phải dự
liệu một cách công bằng cho trường hợp những
người, vì lý do lương tâm, không chịu sử dụng
vũ khí, nhưng vẫn có bổn phận phục vụ cộng
đồng nhân loại dưới một hình thức khác. [Back]
2312
Hội Thánh và lý trí
con người đều khẳng định rằng luật luân lý vẫn
còn nguyên hiệu lực trong thời gian chiến tranh.
Không phải vì chiến tranh đã chẳng may khai diễn,
mà các đối thủ đều được phép muốn làm gì
thì làm. [Back]
2313
Phải tôn trọng và đối xử nhân đạo với thường dân, thương binh và tù binh.
Những hành động cố ý vi phạm nhân quyền và các nguyên tắc phổ quát của nhân quyền, cũng như các lệnh truyền thi hành các hành động ấy, đều là tội ác. Chấp hành mệnh lệnh cách mù quáng không đủ để bào chữa cho những ai tuân hành các lệnh đó. Do đó, việc tiêu diệt một dân tộc, một quốc gia hoặc một nhóm thiểu số phải bị kết án như một tội trọng. Luân lý đòi chúng ta phải chống lại các mệnh lệnh diệt chủng. [Back]
2314
Mọi hành động hiếu
chiến nhằm tiêu diệt bừa bãi nguyên cả một
thành phố hoặc những vùng rộng lớn cùng với
dân cư ở đó, là một tội ác chống lại Thiên Chúa
và chính con người. Phải cực lực lên án và không ngần
ngại tố cáo tội ác đó. Nguy cơ của chiến tranh hiện
đại là tạo dịp cho những người có trong tay các vũ
khí khoa học, đặc biệt là vũ khí nguyên tử, sinh học
hoặc hóa học, phạm những thứ tội ác như thế.
[Back]
2315
Thật là nghịch
lý, nhiều người xem việc tích lũy vũ khí như một phương thế khiến
đối phương không dám gây chiến. Họ coi đó là một phương
thế hữu hiệu nhất khả dĩ bảo đảm
hòa bình giữa các quốc gia. Về mặt luân
lý, phải rất dè dặt đối với phương thức
ngăn đe này. Chạy đua vũ trang không bảo đảm được
hòa bình , thay vì loại bỏ các lý do
gây chiến, lại có nguy cơ làm cho các lý do đó trở
thành trầm trọng hơn. Việc chi tiêu những khoản
tiền khổng lồ để chế tạo vũ khí ngày
càng tối tân, ngăn cản việc trợ giúp các dân tộc
nghèo đói, ngăn trở các dân tộc phát triển. Việc vũ trang quá mức làm gia
tăng những lý do xung đột và tạo thêm nguy cơ lây lan
chiến tranh. [Back]
2316
Việc sản xuất và buôn bán vũ
khí có ảnh
hưởng đến công ích của các quốc gia và của cộng
đồng quốc tế. Do đó, các nhà cầm quyền có quyền
và bổn phận ra những qui định về vấn đề
này. Lợi nhuận trước mắt của cá nhân hoặc tập
thể không thể biện minh cho các tổ chức kinh
doanh châm ngòi bạo lực và xung đột giữa các quốc
gia, và gây nguy hại cho trật tự luật pháp quốc tế. [Back]
2317
Hòa bình không ngừng bị đe dọa và chiến tranh nổ ra vì những bất công, bất bình đẳng thái quá về kinh tế hoặc xã hội, vì lòng tham, sự ngờ vực và tính kiêu căng đang hoành hành giữa những con người và các quốc gia. Tất cả những gì được thực hiện nhằm khắc phục các tệ hại này đều góp phần vào việc kiến tạo hòa bình và xa lánh chiến tranh:
"Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa, và vẫn còn đe dọa cho đến khi Chúa Ki-tô quang lâm. Tuy nhiên, nhờ kết hiệp trong bác ái, con người thắng vượt tội lỗi, và cũng thắng vượt bạo lực cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: "Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến." (Is 2,4) [Back]
Tóm
lược
"Chính Thiên Chúa nắm trong tay, hồn của mọi sinh linh cũng như hơi thở của mọi xác phàm" (G 12,10). [Back]
2319
Từ
lúc mới được thành thai cho đến khi chết, mạng sống
con người là điều linh thánh, vì con người đã
được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, theo hình
ảnh và giống Thiên Chúa hằng sống và thánh thiện.
[Back]
2320
Giết
người là một tội trọng phạm đến phẩm
giá con người và sự thánh thiện của Đấng Sáng Tạo.
[Back]
2321
Luật
cấm giết người không loại trừ quyền làm cho
một kẻ gây hấn mất khả năng tác hại. Tự
vệ chính đáng là trọng trách của người có trách nhiệm
bảo vệ mạng sống người khác hay công ích. [Back]
2322
Ngay
từ lúc mới được thành thai, đứa bé đã có quyền
sống. Trực tiếp phá thai, như là mục đích hay phương tiện
đều là một hành vi ô nhục vi phạm nghiêm trọng luật
luân lý. Hội Thánh ra vạ tuyệt thông cho kẻ phạm
tội này. [Back]
2323
Ngay
từ lúc thành thai, phôi thai phải được đối xử như
một con người, nên phải được che chở cho được
toàn vẹn, được chăm sóc và chữa trị như mọi con
người khác. [Back]
2324
Cố
ý giết chết để tránh đau dù dưới bất cứ
hình thức và lý do nào, vẫn là tội giết
người. Một tội phạm nghiêm trọng nghịch với
phẩm giá con người và với lòng tôn kính Thiên Chúa hằng
sống, Đấng Tạo Thành con người. [Back]
2325
Tự sát là lỗi phạm nặng nề
đến sự công bình, đức cậy và đức mến.
Điều răn thứ
năm cấm tự sát. [Back]
2326
Gương
xấu là một lỗi nặng nếu vì làm một
điều xấu hay bỏ một điều tốt, mà lôi kéo
tha nhân đến chỗ cố ý phạm lỗi nặng.
[Back]
2327
Vì
cuộc chiến tranh nào cũng gây ra tai họa và bất
công, chúng ta phải làm hết khả năng để ngăn chặn,
Hội Thánh cầu nguyện : Xin Chúa cứu chữa chúng
con khỏi nạn đói, ôn dịch và chiến tranh. [Back]
2328
Hội
Thánh và lý trí con người đều khẳng định rằng
: luật luân lý vẫn còn nguyên hiệu lực
trong thời gian chiến tranh. Những thực hành cố
ý nghịch với quyền các dân tộc và với các
nguyên tắc phổ quát của quyền đó đều là tội
ác. [Back]
2329
"Chạy
đua vũ trang là một tai họa hết sức trầm trọng
cho nhân loại và xúc phạm đến người nghèo một
cách không thể tha thứ được" (GS 81,3). [Back]
2330
"Phúc
thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được
gọi là con Thiên Chúa." (Mt 5,9) [Back]
Điều
răn thứ sáu
"Ngươi không được ngoại tình" (Xh 20,14, Đnl 5,17).
"Anh em nghe luật dạy người xưa rằng: "Chớ ngoại tình". Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,27-28).
Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ
Thiên Chúa là tình yêu, Người sống mầu nhiệm hiệp thông và tình yêu nơi chính bản thân. Khi tạo dựng con người theo hình ảnh mình. Thiên Chúa trao ban cho người nam và người nữ một thiên chức; do đó họ có khả năng và trách nhiệm sống yêu thương và hiệp thông.
"Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình ... Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ" (St 1,27). "Hãy sinh sôi nảy nở thât nhiều" (St 1,28); ngày Thiên Chúa sáng tạo con người, Chúa làm ra con người giống như Thiên Chúa. Chúa sáng tạo con người có nam có nữ: Chúa chúc phúc cho họ và đặt tên cho họ và gọi họ là người, ngày họ được sáng tạo (St 5,1-2) [Back]
2332
Phái tính ảnh hưởng trên toàn bộ con người,
cả xác và hồn. Phái tính đặc biệt liên quan đến đời
sống tình cảm, khả năng yêu thương và truyền
sinh, nói chung mọi tương quan với người khác. [Back]
2333
Mỗi
người, nam cũng như nữ, phải nhìn nhận và
chấp nhận phái tính của mình. Sự khác biệt
và bổ sung cho nhau về thể xác, tinh thần và tâm linh
hướng đến đời sống hôn nhân và gia đình. Sự
hòa hợp của đôi vợ chồng và của xã
hội tùy thuộc phần nào vào việc hai bên nam nữ bổ
túc, đáp ứng và nâng đỡ lẫn nhau. [Back]
2334
Khi tạo dựng con người
có nam có nữ, Thiên Chúa cho họ bình đẳng về
nhân phẩm. Con người là một nhân vị, vì thế
người nam và người nữ bình đẳng với nhau,
cả hai được tạo dựng theo hình ảnh và giống
Thiên Chúa. [Back]
2335
Người nam và người nữ
bình đẳng về phẩm giá, dù cách thức khác nhau, cả
hai là hình ảnh của Thiên Chúa quyền năng và yêu
thương. Sự kết hợp
giữa người nam và người nữ trong hôn nhân mô phỏng
nơi thân xác con người sự quảng đại và sung mãn
của Đấng Sáng Tạo: "Người đàn ông lìa cha mẹ
mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một
xương một thịt" (St 2,24). Sự kết hợp này là nguồn gốc
mọi thế hệ loài người (St 4, 1-2.25-26; 5,1). [Back]
2336
Đức Giê-su đã đến trả lại cho thụ tạo tình trạng tinh tuyền nguyên thủy của chúng. Trong Bài Giảng Trên Núi, Người đã giải thích chính xác ý định của Thiên Chúa: "Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: "Chớ ngoại tình". Còn Thầy, Thầy bảo anh em: "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì ngoại tình trong lòng với người ấy rồi" (Mt 5,27-28). "Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly" (Mt 19,6). Truyền thống của Hội Thánh hiểu điều răn thứ sáu đề cập đến mọi lãnh vực về phái tính của con người. [Back]
Ơn gọi sống khiết tịnh
Sống khiết tịnh là làm chủ phái tính, nhờ đó thống nhất được đời sống thể lý và tinh thần. Phái tính cho thấy con người thuộc về thế giới vật chất và sinh học, nhưng khi được hội nhập vào tương quan giữa người với người, trong đó người nam và người nữ hiến thân cho nhau trọn vẹn và vĩnh viễn, phái tính mới có giá trị thực sự nhân linh. Như vậy, đức khiết tịnh liên quan đến toàn thể nhân vị và đòi hiến thân trọn vẹn. [Back]
2338
Toàn thể nhân vị
Người khiết tịnh giữ được toàn bộ sức mạnh của sự sống và tình yêu có nơi mình; nhờ đó thống nhất được nhân vị và tránh được mọi thái độ làm tổn thương đến sự thống nhất này. Người khiết tịnh không chấp nhận cuộc sống hai mặt, cách nói hai ý (Mt 5,37). [Back]
2339
Đức khiết tịnh
đòi hỏi phải học biết tự chủ, để
sống như một con người. Rõ ràng con người phải
chọn lựa: hoặc chế ngự các đam mê và được
bình an; hoặc làm nô lệ chúng và trở nên bất hạnh
(Hc
1,22). Phẩm giá con người
đòi họ phải hành động theo một sự lựa
chọn ý thức và tự do, được tác động và quyết
định bởi một xác tín cá nhân chứ không phải chỉ
dưới hiệu quả các thôi thúc của bản năng hoặc
của một sự cưỡng chế bên ngoài. Con người đạt
đến phẩm cách đó khi tự giải thoát khỏi mọi
nô dịch của các đam mê, nhờ tự do chọn lấy
điều thiện, con người theo đuổi cùng đích của
mình và khôn khéo thực sự tạo cho mình những
phương tiện thích ứng. [Back]
2340
Ai muốn trung thành với
những lời hứa khi được rửa tội và chống
lại các cơn cám dỗ, phải dùng những)phương thế
sau: phải biết mình, khổ chế tùy theo hoàn cảnh,
tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa, thực hành các đức
tính luân lý và chuyên cần cầu nguyện. Khiết tịnh
giúp chúng ta tìm lại được sự thống nhất bản
thân đã đánh mất khi để cho mình bị phân tán. [Back]
2341
Muốn
sống khiết tịnh phải giữ đức tiết độ,
vì nhân đức này dùng lý trí để hướng dẫn
các đam mê và những thèm muốn giác quan của con người. [Back]
2342
Muốn tự chủ phải
luyện tập lâu dài và công phu. Không bao giờ có thể coi
như đã tập xong, phải cố gắng suốt đời,
ở mọi lứa tuổi, phải đặc biệt cố
gắng vào một số giai đoạn hình thành nhân cách,
như tuổi nhi đồng và thiếu niên. [Back]
2343
Đời sống khiết
tịnh cũng có những qui luật tăng trưởng, phải
kinh qua những bất toàn và có khi cả tội lỗi nữa.
Ngày qua ngày, con người đức độ và khiết tịnh được
hình thành bằng nhiều lựa chọn tự do. Nhờ
đó, họ nhận biết, yêu mến và chu toàn điều thiện
luân lý qua những giai đoạn tăng trưởng. [Back]
2344
Sống
khiết tịnh là nhiệm vụ của mỗi người,
nhưng cũng là một nỗ lực về văn hóa, vì sự
thăng tiến của nhân vị và sự phát triển của
xã hội lệ thuộc nhau. Người ta chỉ sống
khiết tịnh được, khi các quyền của con người
được tôn trọng, đặc biệt quyền được thông
tin và giáo dục để biết tôn trọng các giá trị
luân lý và tâm linh của đời sống con người. [Back]
2345
Đức
khiết tịnh là một nhân đức luân lý. Nhưng đó cũng
là hồng ân của Thiên Chúa, một ân sủng, một hoa
trái của Thánh Thần. Chúa Thánh Thần ban cho người tín
hữu sức mạnh để noi theo sự thanh khiết của
Đức Ki-tô. [Back]
2346
Hiến thân trọn vẹn
Đức mến là linh hồn của mọi nhân đức. Dưới ảnh hưởng của đức mến, đức khiết tịnh là trường dạy tự hiến. Tự chủ là để tự hiến. Người sống khiết tịnh trở thành nhân chứng của Thiên Chúa trung tín và yêu thương. [Back]
2347
Đức khiết tịnh nảy nở trong tình bằng hữu, giúp người môn đệ bước theo và bắt chước Đấng đã chọn chúng ta làm bạn hữu của Người, đã hiến thân trọn vẹn cho chúng ta và cho ta thông phần thiên tính của Người. Thiên Chúa hứa ban cuộc sống bất diệt cho người sống khiết tịnh. Đức khiết tịnh bộc lộ rõ ràng qua tình thân với những người xung quanh. Tình thân hữu phát triển giữa những người cùng phái, khác phái là điều tốt đẹp cho mọi người, dẫn đến sự hiệp thông tinh thần. [Back]
2348
Những cách sống khiết tịnh
Mọi tín hữu đều được mời gọi sống khiết tịnh. Ki-tô hữu là người đã "mặc lấy Đức Ki-tô" (Gl 3,27), khuôn mẫu của đời sống khiết tịnh. Ai tin vào Đức Ki-tô đều được mời gọi sống đời khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình. Khi nhận bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu cam kết giữ đức khiết tịnh trong đời sống tình cảm. [Back]
2349
Mỗi người giữ đức khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình: người này trong bậc trinh khiết hay độc thân của đời thánh hiến, một cách thức dễ dàng tận hiến trọn vẹn tâm hồn cho Thiên Chúa; kẻ khác trong bậc gia đình hay độc thân, tùy theo luật luân lý xác định. Người có gia đình được mời gọi giữ đức khiết tịnh trong đời sống vợ chồng; người độc thân giữ đức khiết tịnh khi sống tiết dục. Có ba hình thức sống khiết tịnh: khiết tịnh của bậc hôn nhân, khiết tịnh của người góa bụa và khiết tịnh của kẻ đồng trinh. Chúng ta không ca tụng lối sống này mà loại bỏ lối sống khác. Về điều này, kỷ luật của Hội Thánh rất rộng rãi. [Back]
2350
Những
người đã đính hôn cũng được mời gọi tiết
dục để giữ khiết tịnh. Trong thời gian thử
thách này, họ học biết tôn trọng lẫn nhau, tập
chung thủy và hy vọng được đón nhận nhau như quà tặng
của Thiên Chúa. Họ sẽ dành những hành động biểu
lộ tình yêu vợ chồng cho sau ngày thành hôn. Họ phải giúp nhau sống khiết tịnh. [Back]
2351
Những lỗi phạm đến đức khiết tịnh
Dâm ô là ham muốn sai trái hay hưởng thụ vô độ khoái lạc tình dục. Khoái lạc tình dục trở thành sai trái, khi con người chỉ tìm hưởng thụ để thỏa mãn chính mình, chứ không nhằm mục đích truyền sinh và kết hợp trong tình yêu. [Back]
2352
Thủ dâm là cố tình kích thích cơ quan sinh dục nhằm gây khoái lạc tình dục. Dựa theo truyền thống ngàn đời và bất biến, huấn quyền cũng như cảm thức luân lý của các tín hữu không ngần ngại khẳng định rằng, thủ dâm tự bản chất là một hành động sai trái nghiêm trọng, vì tự ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ vợ chồng bình thường, dù với động lực nào đi nữa, cũng là sai mục đích. Làm như vậy, người ta hưởng thụ khoái lạc tình dục bên ngoài quan hệ tình dục hợp luật luân lý là quan hệ thực hiện một sự hiến thân trọn vẹn cho nhau và thực hiện việc truyền sinh trong khuôn khổ của tình yêu đích thực.
Để phán đoán đúng đắn về trách nhiện luân lý của đương sự, cũng như đưa ra một đường hướng mục vụ, chúng ta cần lưu ý đến tình trạng thiếu trưởng thành tình cảm, áp lực của các thói quen, tâm trạng lo âu cũng như những yếu tố khác về tâm lý xã hội. Các nhân tố này có thể làm trách nhiệm luân lý của đương sự được giảm khinh ngay cả đến mức tối thiểu. [Back]
2353
Tà dâm là quan hệ xác thịt
ngoài hôn nhân giữa một người nam và một người nữ.
Đây là lỗi nặng, xúc phạm đến nhân phẩm và phái
tính của con người, vốn qui về lợi ích của
đôi vợ chồng, cũng như sinh sản và giáo dục con
cái. Ngoài ra, tà dâm còn là một gương xấu nghiêm trọng
khi làm băng hoại giới trẻ. [Back]
2354
Sách báo và tranh ảnh
khiêu dâm, cố ý phơi bày những hành vi tình dục
thầm kín thực sự hay mô phỏng ấn phẩm khiêu
dâm, xúc phạm đến đức khiết tịnh vì làm biến
chất hành vi ái ân là việc trao ban thầm kín của vợ
chồng với nhau; chúng làm tổn thương nặng nề đến
phẩm giá của những người dự phần (diễn
viên, kẻ kinh doanh, khán giả), vì người này trở
thành đối tượng cho một thú vui thô lỗ và là nguồn
lợi nhuận bất chính cho người kia. Ấn phẩm
khiêu dâm đưa tất cả những người tham gia vào thế
giới ảo tưởng. Đó là một lỗi nặng. Chính
quyền phải ngăn cấm việc sản xuất và phổ
biến những ấn phẩm khiêu dâm này. [Back]
2355
Mại dâm xúc phạm đến
phẩm giá của người bán dâm vì họ biến
mình thành trò vui xác thịt cho người mua dâm. Kẻ
mua dâm phạm tội nặng nơi bản thân: họ vi phạm
đức khiết tịnh đã cam kết khi lãnh nhận
bí tích Thánh Tẩy, và làm ô uế thân xác là đền thờ Chúa
Thánh Thần. Mại dâm là một đại họa cho xã
hội, thường là phụ nữ hành nghề, nhưng cũng
có đàn ông, trẻ em cũng như thiếu niên (trong hai trường
hợp cuối, tội thêm nặng vì gây gương mù, gương xấu).
Mại dâm bao giờ cũng là tội trọng; nhưng trách nhiệm
của kẻ mại dâm có thể giảm khinh vì túng bấn,
bị hăm dọa hay áp lực xã hội. [Back]
2356
Hiếp dâm là dùng bạo
lực bắt kẻ khác quan hệ nhục dục với
mình. Đây là tội phạm đến công bằng và bác ái.
Hiếp dâm xúc phạm nặng nề đến quyền được
tôn trọng, quyền tự do và toàn vẹn thể lý
cũng như tinh thần của nạn nhân, gây thương tổn
nghiêm trọng có thể kéo dài cả cuộc đời của
nạn nhân. Hiếp dâm tự nó là một hành vi xấu xa, tội
này lại càng nặng nề hơn nữa, khi cha mẹ hay người
giáo dục lạm dụng thân xác các em được ủy thác
cho họ. [Back]
2357
Đức khiết tịnh và sự đồng tính luyến ái
Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người nam hay nữ cảm thấy bị lôi cuốn tính dục với người đồng phái nhiều hơn với người khác phái. Đồng tính luyến ái xuất hiện trong nhiều thời đại và văn hóa, với nhiều hình thức khác nhau. Cho đến nay, người ta vẫn chưa giải thích được nguyên nhân tâm thần của hiện tượng này. Căn cứ vào Kinh Thánh vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng, truyền thống HộiThánh luôn tuyên bố: Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là thác loạn. Các hành vi này nghịch với luật tự nhiên vì loại bỏ chủ đích truyền sinh của hành vi tính dục, cũng không xuất phát từ nhu cầu bổ túc thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào. [Back]
2358
Đừng quên một số
người đã có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm
căn. Đối với đa số những người này, khuynh hướng
lệch lạc ấy là một thử thách. Chúng ta phải
đón nhận họ với lòng tôn trọng, thông cảm
và tế nhị, tránh đối xử bất công. Cả những
người này cũng được mời gọi thực hiện
ý Chúa trong cuộc sống và, nếu là Kitô hữu, phối hợp sự hy sinh
Thánh Giá của Đức Kitô vào trong những thử thách của cuộc sống của
người đồng tính luyến ái. [Back]
2359
Những người đồng
tính luyến ái cũng được mời gọi sống khiết
tịnh. Họ có thể và phải cương quyết tiến dần
đến sự toàn thiện Ki-tô giáo nhờ kinh nguyện và
ân sủng bí tích, nhờ biết tự chủ để củng
cố tự do nội tâm và nhờ sự nâng đỡ của
một tình bạn vô vị lợi. [Back]
Tình yêu vợ chồng
Theo ý định của Thiên Chúa, phái tính hướng về tình yêu vợ chồng. Trong hôn nhân, ái ân trở thành dấu chỉ và bảo đảm của sự hiệp thông tinh thần. Giữa hai tín hữu, dây liên kết hôn nhân được thánh hóa bằng bí tích. [Back]
2361
Nhờ
khả năng tính dục, người nam và người nữ hiến
thân cho nhau qua những hành vi dành riêng cho vợ chồng. Tính
dục không chỉ là hành vi sinh lý, nhưng liên can đến
những điều thâm sâu nhất của nhân vị. Tính dục
chỉ thực sự xứng đáng với con người, khi nó
là thành phần không thể thiếu của tình yêu giữa
người nam và người nữ đã cam kết hiến thân
cho nhau trọn vẹn suốt đời.
Tô-bi-a chỗi dậy, ra khỏi giường và nói với
Sa-ra: "Đứng lên em, chúng ta hãy cầu nguyện nài
xin Đức Chúa xót thương và phù hộ chúng ta". Cô đứng
lên, rồi cả hai bắt đầu cầu nguyện và nài
xin cho mình được an lành. Tô-bi-a bắt đầu như sau:
"Lạy Thiên Chúa của tổ tiên chúng con, xin chúc tụng
Chúa.... Chính Chúa đã dựng nên ông A-đam, dựng nên cho ông
một người trợ thủ và nâng đỡ là bà E-và vợ
ông. Và loài người đã sinh ra từ hai ông bà. Chính Chúa
đã nói: "Con người ở một mình thì
không tốt, Ta sẽ làm cho nó một người trợ thủ
giống như nó". Giờ đây, không phải vì lòng
dục mà con lấy em con đây, nhưng vì lòng chân thành.
Xin Chúa đoái thương con và em con, cho chúng con được sống bên
nhau đến tuổi già." Rồi họ đồng thanh nói: "A-men, A-men!" Sau
đó, họ ngủ luôn cho đến sáng" (Tb 8, 4-9). [Back]
2362
Những hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng đều cao quý và chính đáng. Được thi hành cách thực sự nhân linh, những hành vi ấy biểu hiện và khích lệ sự hiến thân cho nhau nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong hoan lạc và biết ơn. Chính Đấng Sáng Tạo đã muốn rằng trong nhiệm vụ truyền sinh đôi vợ chồng cảm thấy một sự vui thú và thỏa mãn nơi thân xác và tinh thần. Vì vậy, vợ chồng chẳng làm điều gì xấu khi tìm kiếm và tận hưởng sự khoái lạc đó. Họ đón nhận những gì Đấng Sáng Tạo đã ban cho. Tuy nhiên, họ phải biết giữ tiết độ. [Back]
2363
Nhờ sự kết hợp của vợ chồng, hai mục đích của hôn nhân được thực hiện: lợi ích của chính đôi vợ chồng và lưu truyền sự sống. Không thể tách rời hai ý nghĩa hoặc hai giá trị này của hôn nhân mà không làm biến chất đời sống tinh thần của vợ chồng cũng như phương hại đến lợi ích của hôn nhân và tương lai của gia đình. Như thế tình yêu vợ chồng đòi hỏi người nam và người nữ vừa phải chung thủy vừa phải sẵn sàng đón nhận con cái. [Back]
2364
Sự thủy chung của vợ chồng
Đấng Sáng Tạo đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và yêu thương của đôi vợ chồng. Đời sống chung này được gầy dựng do giao ước hôn nhân nghĩa là sự ưng thuận cá nhân và không thể rút lại. Cả hai hiến thân cho nhau vĩnh viễn và trọn vẹn. Họ không còn là hai, nhưng đã trở thành một thân thể duy nhất. Khi đã tự do cam kết, hôn ước buộc đôi vợ chồng không được tiêu hủy hoặc lập một hôn ước khác. "Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, thì loài người không được phân ly." (Mc 10,9) [Back]
2365
Thiên Chúa là Đấng trung tín vì Người kiên trì giữ lời thề hứa. Bí tích Hôn Phối làm cho hai vợ chồng tham dự vào sự trung tín của Đức Ki-tô đối với Hội Thánh. Nhờ sống khiết tịnh trong hôn nhân, họ minh chứng mầu nhiệm đó trước mặt thế gian.
Thánh Gio-an Kim Khẩu gợi ý cho các tân lang tâm sự với tân nương: anh yêu em, anh quí em hơn cả mạng sống mình. Cuộc sống này chẳng là gì hết, anh chỉ mơ ước được sống bên em ở đời này và hy vọng không bao giờ chia lìa ở đời sau. Anh yêu em hơn mọi sự, và không gì làm cho anh khổ tâm bằng anh không có được những tâm tình như em (Bài giảng Eph. 20,8). [Back]
2366
Chức năng truyền sinh
Truyền sinh là một ân huệ, một mục tiêu của hôn nhân, vì tình yêu vợ chồng tự nhiên hướng về việc sinh sản con cái. Con cái là hoa quả và thành tựu của tình yêu vợ chồng, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau, chứ không phải một cái gì từ bên ngoài được ghép vào. Vì thế Hội Thánh bảo vệ sự sống và dạy rằng "ọi hành vi ân ái phải tự nó mở ngỏ cho việc truyền sinh. Giáo lý này đã được Huấn Quyền trình bày nhiều lần, nền tảng của giáo lý này là sự liên kết bất khả phân ly giữa hai ý nghĩa của hành vi ân ái: kết hợp và truyền sinh. Đây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và con người không được tách rời. [Back]
2367
Vì được mời gọi
thông truyền sự sống, đôi vợ chồng tham dự
vào quyền năng sáng tạo và tư cách làm cha làm mẹ cùng với
Thiên Chúa. Trong khi thi hành bổn phận truyền sinh và giáo dục
(điều phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của
vợ chồng), đôi vợ chồng biết rằng
mình cộng tác với
tình yêu của Thiên Chúa sáng tạo và như trở
thành những người diễn đạt tình yêu của
Người. Do đó, họ sẽ chu toàn bổn phận trong tinh
thần trách nhiệm của một con người và của
Ki-tô hữu. [Back]
2368
Một khía cạnh đặc biệt của trách nhiệm đó là điều hòa truyền sinh. Khi có lý do chính đáng, đôi vợ chồng có quyền kéo dài khoảng cách giữa các lần sinh nở. Chính họ phải chứng thực rằng ước muốn đó không do ích kỷ, nhưng xứng hợp với lòng quảng đại chính đáng của bậc làm cha mẹ có trách nhiệm. Ngoài ra, họ phải xử sự theo những tiêu chuẩn khách quan của luân lý. Khi cần hòa hợp tình yêu vợ chồng với việc sinh sản con cái có trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn thành thực và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan suy diễn từ bản tính nhân vị và của hành động nơi nhân vị, những tiêu chuẩn ấy tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực. Đó là điều không thể thực hiện được nếu không thực tâm vun trồng đức khiết tịnh trong bậc vợ chồng. [Back]
2369
Khi duy trì hai khía cạnh
thiết yếu là kết hợp và truyền sinh, hành vi ân
ái giữ được toàn vẹn ý nghĩa của
tình yêu hỗ tương và chân thực, qui hướng về ơn
gọi vô cùng cao cả của con người là được làm cha
làm mẹ. [Back]
2370
Tiết dục định kỳ cũng như những phương pháp điều hòa sinh sản đặt nền tảng trên việc tự quan sát và sử dụng những thời gian không thể thụ thai (x. HV 16), đều phù hợp với các tiêu chuẩn khách quan của luân lý. Những phương pháp này tôn trọng thân thể của vợ chồng, khuyến khích họ âu yếm và giúp nhau hướng đến tự do chân chính. Ngược lại, "mọi hành động nhằm mục đích hay tạo phương thế ngăn cản sự truyền sinh trước, hoặc trong khi giao hợp, hoặc trong diễn tiến các hiệu quả tự nhiên của việc giao hợp, tự bản chất là xấu" (HV 14).
Trong hôn nhân, hai vợ chồng hiến thân trọn vẹn cho nhau. Việc ngừa thai đi ngược lại vì họ không còn trao tặng cho nhau trọn vẹn nữa. Chẳng những họ không cộng tác vào công cuộc trao ban sự sống mà còn làm sai lạc chân lý nội tại của tình yêu vợ chồng là hiến thân trọn vẹn cho nhau. Về mặt nhân học và luân lý, sự khác biệt giữa ngừa thai và việc sử dụng các chu kỳ thụ thai bắt nguồn từ hai quan niệm không thể giản lược với nhau về con người và về tính dục của con người. [Back]
2371
Ngoài ra, mọi người
đều phải ý thức rằng sự sống con người,
và trách nhiệm lưu truyền sự sống, không chỉ giới
hạn ở đời này, cũng như không thể hiểu và đo
lường được trọn vẹn ý nghĩa ở đời
này, nhưng luôn qui chiếu về
định mệnh vĩnh cửu của con người. [Back]
2372
Nhà
Nước có trách nhiệm mang lại lợi ích cho các công dân,
nên có quyền can thiệp để định hướng việc
gia tăng dân số. Tuy nhiên, chỉ được làm qua những
thông tin khách quan và tôn trọng tự do, chứ không bao giờ
được dùng biện pháp quyền lực và cưỡng bách. Nhà
Nước không được tước bỏ quyền quyết định
của các đôi vợ chồng, vì chính họ là những
người đầu tiên có trách nhiệm về việc sinh sản
và giáo dục các con cái. Trong lãnh vực này, Nhà Nước
không có quyền can thiệp bằng những phương thế
trái với luật luân lý. [Back]
2373
Con cái là quà tặng của Thiên Chúa
Thánh Kinh và Thánh Truyền coi những gia đình đông con là một dấu chỉ phúc lành của Thiên Chúa và lòng quảng đại của cha mẹ. [Back]
2374
Thật
đau khổ cho những đôi vợ chồng không con. "Ông
Áp-ra-ham thưa: Lạy Đức Chúa, Chúa sẽ ban cho con cái
gì? Con ra đi mà không con cái" (St 15, 2).
Ra-khen nói với chồng mình là Gia-cóp: "Xin cho tôi được
có con, không thì tôi chết mất" (St 30,1) [Back]
2375
Những
nghiên cứu nhằm giải quyết chứng vô sinh rất
đáng khuyến khích, với điều kiện chúng phải
"phục vụ con người, phục vụ các quyền
bất khả nhượng cũng như lợi ích đích thực và
toàn vẹn của con người, đúng theo dự định và
ý muốn của Thiên Chúa. [Back]
2376
Những kỹ thuật
phá vỡ liên hệ phụ mẫu qua sự can thiệp của
một người thứ ba (cho tinh dịch hoặc noãn
bào, cho mượn tử cung) là những hành vi phải bị
loại bỏ. Những kỹ thuật này (thụ tinh nhân
tạo và thụ thai nhân tạo khác nguồn) vi phạm quyền
của đứa trẻ phải được sinh ra do cha mẹ
đã chính thức kết hôn và quyền được biết
cha mẹ là ai. Những kỹ thuật này vi phạm độc
quyền làm cha làm mẹ của đôi vợ chồng. [Back]
2377
Nếu được thực
hiện cho đôi vợ chồng, những kỹ thuật thụ
tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo cùng nguồn, có lẽ
sẽ ít tổn hại hơn; nhưng về mặt luân lý,
chúng vẫn không thể được chấp nhận, vì
tách rời hành vi tính dục với việc truyền sinh.
Sinh sản con cái không còn là một hành vi của hai con
người hiến thân cho nhau, nhưng sự sống và căn tính của
phôi thai bị trao vào tay các bác sĩ và các nhà sinh học, và để
kỹ thuật thống trị trên nguồn gốc và vận
mệnh của con người. Một mối quan hệ thống
trị như thế tự bản chất đi ngược với
phẩm giá và sự bình đẳng chung của cả cha
mẹ lẫn con cái. Về phương diện luân lý, việc
truyền sinh mất đi sự hoàn thiện đặc thù của
nó, khi không còn là kết quả của hành vi ân ái, nghĩa
là quan hệ vợ chồng. Để cho việc truyền
sinh xứng với phẩm giá con người, chúng ta phải
tôn trọng mối dây liên hệ giữa những ý nghĩa
của hành vi ân ái và sự tôn trọng tính thống nhất
của bản tính con người. [Back]
2378
Đứa trẻ không phải
là một của nợ,
nhưng là một hồng ân.
Hồng ân ưu việt của hôn nhân là một con người.
Không được coi đứa trẻ như một vật sở hữu,
như người ta thường nghĩ là mình có quyền trên
con cái. Trong lãnh vực nầy, đứa trẻ thực
sự có những quyền: quyền được sinh ra trong
tình yêu của cha mẹ, và quyền được tôn trọng
như một con người ngay từ lúc mới thành thai. [Back]
2379
Tin Mừng cho thấy vô
sinh thể lý không phải là một điều dữ tuyệt
đối. Đôi vợ chồng nào, sau khi đã tận dụng
mọi trợ giúp chính đáng của y khoa, vẫn phải chịu
nỗi đau khổ vô sinh, được mời gọi liên kết
với Thập Giá của Chúa là nguồn mạch mọi
phong phú thiêng liêng. Họ có thể sống quảng đại
bằng cách nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ
rơi hoặc tham gia những công tác phục vụ tha nhân. [Back]
Những xúc phạm đến phẩm giá hôn nhân
Ngoại tình là thất tín của vợ chồng. Khi hai người nam nữ có quan hệ tính dục với nhau, dù là nhất thời mà trong đó có ít nhất một người đã kết hôn thì cả hai phạm tội ngoại tình. Đức Ki-tô lên án tội này ngay cả khi chỉ là một ước muốn. Điều răn thứ sáu và Tân Ước tuyệt đối cấm tội ngoại tình. Các ngôn sứ tố giác tội ngoại tình là một tội trọng vì là một trong các hình thức thờ ngẫu tượng. [Back]
2381
Ngoại
tình là điều bất công. Người phạm tội đó bỏ
không thực hiện những cam kết của mình,
làm tổn hại đến dây liên kết hôn nhân là dấu chỉ
của sự giao ước, vi phạm quyền của người
phối ngẫu và xâm phạm định chế hôn nhân khi lỗi
phạm hôn ước. Người ấy làm phương hại đến lợi
ích của việc sinh sản và của con cái vốn cần
đến sự kết hợp bền vững của cha mẹ. [Back]
2382
Ly hôn
Chúa Giê-su nhấn mạnh đến ý định ban đầu của Đấng Sáng Tạo là hôn nhân bất khả phân ly. Người bãi bỏ những khoan nhượng trong luật cũ. Giữa hai người đã chịu Bí Tích Thánh Tẩy, hôn nhân đã ký kết và hoàn hợp thì không thể bị tháo gỡ bởi bất cứ quyền lực nhân loại nào, bất cứ vì lý do gì, ngoại trừ cái chết. [Back]
2383
Trong một số trường hợp đã được Giáo Luật dự liệu, đôi vợ chồng có thể được phép ly thân nhưng vẫn còn duy trì dây liên kết hôn nhân. Nếu việc ly hôn về phần đời là phương cách duy nhất còn lại để bảo đảm một số quyền lợi chính đáng, chăm sóc con cái hoặc bảo vệ gia sản, thì có thể tạm chấp nhận mà không lỗi về luân lý. [Back]
2384
Ly dị vi phạm nghiêm trọng luật tự nhiên, phế bỏ khế ước mà vợ chồng đã tự do ưng thuận để sống với nhau cho đến chết. Ly dị làm tổn hại giao ước cứu độ mà bí tích Hôn Phối là dấu chỉ. Tái hôn dù được luật đời công nhận càng làm cho tình trạng đỗ vỡ thêm tệ hại người tái hôn, sau khi ly dị, phạm tội ngoại tình công khai và thường xuyên. Nếu người chồng, sau khi đã chia ly với vợ mình, ăn ở với một người phụ nữ khác, thì phạm tội ngoại tình, vì làm cho phụ nữ đó cũng phạm tội ngoại tình; người phụ nữ ăn ở với người đàn ông đó phạm tội ngoại tình vì đã dụ dỗ chồng của người khác. [Back]
2385
Ly
dị là phi luân vì làm xáo trộn gia đình và xã
hội. Việc xáo trộn này kéo theo nhiều tổn hại
nghiêm trọng: cho người phối ngẫu vì bị ruồng
bỏ; cho con cái phải đau khổ vì cha mẹ phân ly,
và lắm khi còn bị dằng co không biết theo ai;
cho xã hội vì hiệu quả lây lan của nó, nó
thực sự là một tai ương cho xã hội. [Back]
2386
Nếu
một trong đôi vợ chồng là nạn nhân vô tội của
phán quyết ly dị do tòa án dân sự, người này
không vi phạm luật luân lý. Có sự phân biệt
rõ ràng giữa người phối ngẫu thành thật cố
gắng trung thành với bí tích Hôn Phối và bị ruồng
bỏ bất công, với người phá hủy hôn nhân thành sự
theo Giáo Luật do phạm lỗi nặng. [Back]
2387
Những xúc phạm khác đến phẩm giá hôn nhân
Chúng ta hiểu được bi kịch của một người, vì muốn hoán cải theo Tin Mừng buộc phải từ bỏ một hoặc nhiều người vợ đã chung sống nhiều năm. Tuy nhiên, đa thê không phù hợp với luật luân lý, tuyệt đối nghịch lại với sự hiệp thông giữa vợ chồng, trực tiếp chối bỏ kế hoạch của Thiên Chúa đã được mặc khải cho ta từ buổi đầu, nghịch với phẩm giá bình đẳng của người nữ và người nam, cả hai hiến thân cho nhau trong một tình yêu trọn vẹn, duy nhất và độc hữu. Theo đức công bình, người đa thê khi trở thành ki-tô hữu phải chu toàn những trách vụ tài trợ cho các bà vợ trước và con cái của mình. [Back]
2388
Tội loạn luân là quan hệ tính dục giữa
những người họ hàng cùng huyết tộc hoặc hôn
thuộc, mà luật cấm kết hôn với nhau. Thánh
Phao-lô lên án trọng tội này: "Đi đâu cũng chỉ nghe
nói đến chuyện dâm ô xảy ra giữa anh em... có kẻ
ăn ở với thê thiếp của cha mình! ... Nhân danh
Chúa Giê-su, chúng ta phải nộp con người đó cho Xa-tan để
xác thịt nó bị hủy diệt." (1 Cr 5,1.4-5) Tội loạn luân phá vỡ
quan hệ gia đình và cho thấy một sự thoái hóa trở
về thú tính. [Back]
2389
Có
thể gọi là loạn luân, những lạm dụng tính dục
do những người trưởng thành đối với trẻ con
hoặc thiếu niên đã được ủy thác cho họ.
Người phạm tội này phải chịu trách nhiệm gấp
đôi: một mặt vì gây gương xấu xâm phạm đến
sự toàn vẹn thể lý và luân lý của các người
trẻ, và để lại hậu quả tai hại suốt đời,
mặt khác vì họ lỗi trách nhiệm giáo dục của
mình. [Back]
2390
Tự do sống chung là khi một
người nam và một người nữ sống như vợ chồng
nhưng không chịu tiến hành hôn nhân chính thức theo luật. Kiểu nói tự do sống
chung là dối trá, vì có nghĩa gì một sự kết
hợp trong đó hai con người không cam kết với nhau và do
đó cũng chứng tỏ rằng họ không tín nhiệm nơi
người kia, nơi chính mình, hoặc ở tương lai.
Kiểu nói này chỉ nhiều hoàn cảnh khác nhau: ăn ở với nhau không cưới xin, từ chối kết hôn theo đúng tính chất của hôn nhân, không thể ràng buộc nhau bằng những cam kết dài lâu. Tất cả những trường hợp này xúc phạm phẩm giá của hôn nhân, phá hủy ý niệm về gia đình, làm suy giảm cảm thức về lòng thủy chung. Chúng nghịch với luật luân lý: hành vi tính dục chỉ được chấp nhận trong hôn nhân; ngoài hôn nhân, luôn luôn đó là một tội trọng và không được hiệp thông các bí tích. [Back]
2391
Ngày nay, nhiều người
đòi hỏi quyền thử nghiệm, khi có ý định
kết hôn. Dù những người quan hệ tính dục tiền
hôn nhân có quyết tâm kết hôn, cũng không thể bảo
đảm quan hệ liên vị giữa họ là chân thật và
thủy chung, và nhất là giữ cho quan hệ này khỏi
những ý muốn ngông cuồng và nông nổi. Về
phương diện luân lý, sự kết hợp xác thịt
chỉ hợp pháp khi đã chính thức kết hôn.
Tình yêu không chấp nhận thử nghiệm; nhưng
đòi hỏi hiến thân cho nhau trọn vẹn và dứt
khoát. [Back]
2392
Tóm
lược
Tình
yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi con người. [Back]
2393
Khi sáng tạo con người có nam có
nữ, Thiên Chúa cho họ bình đẳng về nhân phẩm.
Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhìn nhận
và chấp nhận phái tính của mình. [Back]
2394
Đức Ki-tô là khuôn mẫu của
đời sống khiết tịnh. Mỗi tín hữu đều
được mời gọi sống đời khiết tịnh tùy
theo bậc sống của mình. [Back]
2395
Sống khiết tịnh là làm chủ
phái tính, giúp ta làm chủ bản thân. [Back]
2396
Các tội trọng nghịch với
đức khiết tịnh là : thủ dâm, tà dâm, sản xuất
và phổ biến ấn phẩm khiêu dâm, đồng tính luyến
ái. [Back]
2397
Giao ước đôi vợ chồng
đã tự do ký kết bao hàm một tình yêu
chung thủy, buộc vợ chồng bất khả phân ly. [Back]
2398
Con cái là phúc lành, quà tặng,
cứu cánh của hôn nhân. Khi thông truyền sự sống,
đôi vợ chồng tham dự vào tư cách làm cha làm mẹ cùng với
Thiên Chúa. [Back]
2399
Việc điều hòa sinh sản
là một trong những khía cạnh thể hiện tư cách làm
cha làm mẹ có trách nhiệm. Nhưng ý hướng chính đáng của
vợ chồng không đủ để biện minh cho việc sử
dụng các phương thế không thể chấp nhận về
phương diện luân lý (thí dụ trực tiếp triệt
sản hoặc ngừa thai). [Back]
2400
Ngoại
tình và ly dị, đa thê và tự do sống chung là những
xúc phạm nặng nề đến phẩm giá của hôn nhân. [Back]
Điều răn thứ
bảy
"Ngươi không được trộm cắp" (Xh 20, 15; Đnl 5,19) (Mt 19,18).
Điều răn thứ bảy cấm lấy hoặc giữ tài sản của kẻ khác cách bất công, cấm làm hại của cải họ bất cứ bằng cách nào. Điều răn này dạy phải giữ công bằng và bác ái trong việc quản lý những của cải trần thế và thành quả lao động của con người. Vì công ích, điều răn này đòi phải tôn trọng quyền chung hưởng các của cải trần thế và quyền tư hữu. Người Ki-tô hữu cố gắng sử dụng mọi của cải trần thế để phụng sự Thiên Chúa và thực thi bác ái huynh đệ. [Back]
2402
Quyền chung hưởng của cải trần thế và quyền tư hữu
Từ khởi thủy, Thiên Chúa trao địa cầu và các tài nguyên cho nhân loại chung sức quản lý, để con người chăm sóc, chế ngự chúng bằng lao động và hưởng dùng hoa trái của địa cầu. Của cải trong trần gian được dành cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn cho cuộc sống con người khỏi nghèo đói và bị bạo lực đe dọa, Thiên Chúa chia trái đất thành nhiều phần. Cho con người quyền sở hữu của cải là chính đáng để bảo đảm tự do và phẩm giá con người, để mỗi người đáp ứng được các nhu cầu căn bản của họ và của những ai họ có trách nhiệm coi sóc. Quyền này cũng phải nói lên tình liên đới tự nhiên giữa người với người. [Back]
2403
Quyền tư hữu của cải do mình
làm ra hay nhận được một cách chính đáng, không hủy bỏ
việc Thiên Chúa đã ban địa cầu cho toàn thể nhân
loại ngay từ nguyên thủy. Quyền chung hưởng của cải vẫn ưu
tiên, cho dù sự thăng tiến công ích đòi phải tôn trọng
tư sản, quyền tư hữu và việc hành sử quyền
này. [Back]
2404
Khi
sử dụng của cải, con người phải coi của
cải vật chất mà mình sở hữu cách chính
đáng không chỉ như của riêng mình, nhưng còn là của
chung nữa, nghĩa là của cải đó có thể sinh ích
không những cho riêng mình mà còn cho cả người
khác nữa. Người sở hữu một tài sản là người
được Thiên Chúa quan phòng trao cho nhiệm vụ quản
lý, để làm cho của cải này sinh hoa lợi và thông
phần lợi ích cho người khác, trước tiên là cho những
người thân của mình. [Back]
2405
Chủ
nhân của những tư liệu sản xuất, vật chất
hoặc phi vật chất, như đất đai hoặc cơ xưởng,
những kỹ năng hay nghệ thuật, phải biết
chăm lo để lợi tức của chúng đem lại ích lợi
cho nhiều người hơn. Những người sở hữu các
sản phẩm tiêu dùng, phải sử dụng chừng mực,
dành phần tốt đẹp hơn cho người khách, người đau ốm,
người nghèo khổ. [Back]
2406
Vì
công ích, chính quyền có quyền và bổn phận điều
tiết, việc hành sử chính đáng quyền sở hữu. [Back]
Tôn trọng con người và tài sản
Trong lãnh vực kinh tế, việc tôn trọng nhân phẩm đòi chúng ta phải sống tiết độ, biết tiết chế lòng ham muốn của cải trần gian; sống công bằng, biết tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của tha nhân; và sống liên đới, theo quy luật vàng và theo lòng hào phóng của Chúa. "Người vốn giàu sang phú quý đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có." (2Cr 8,9) [Back]
2408
Tôn trọng tài sản tha nhân
Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, nghĩa là cấm chiếm đoạt tài sản tha nhân bất chấp ý muốn chính đáng của sở hữu chủ. Nếu có thể đoán trước được sự ưng thuận của chủ hoặc sự khước từ của họ nghịch với lẽ phải và với quyền chung hưởng của cải trần thế thì việc chiếm hữu tài sản không còn là tội ăn cắp. Như thế, trong trường hợp khẩn cấp và rõ ràng, và không còn cách nào để đáp ứng cho các nhu cầu cấp thời và thiết yếu (thức ăn, chỗ ở, áo quần...), thì được quyền sử dụng tài sản tha nhân. [Back]
2409
Mọi hình thức chiếm đoạt và cầm giữ cách bất công tài sản tha nhân, dù không nghịch với dân luật, vẫn nghịch với điều răn thứ bảy, như cố tình không trả của đã mượn, giữ lại của rơi, buôn gian bán lận, trả lương thiếu công bằng, lợi dụng sự không biết và khó khăn của tha nhân để tăng giá.
Về phương diện luân lý, những việc sau đây bất hợp pháp: đầu cơ, làm biến động giá cả cách giả tạo với mục đích trục lợi cho mình nhưng làm thiệt hại cho tha nhân; hối lộ, làm sai lệch phán đoán của những người có bổn phận quyết định theo luật pháp; chiếm đoạt và sử dụng tài sản tập thể làm của riêng; làm ăn thiếu trách nhiệm, lậu thuế, giả mạo các chi phiếu và hóa đơn, chi tiêu quá mức, lãng phí. Cố ý gây thiệt hại tài sản tư nhân hoặc công cộng là nghịch với luật luân lý và phải bồi thường. [Back]
2410
Phải
giữ lời hứa,
và thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã cam kết trong mức độ
công bằng và hợp lý. Đời sống kinh tế và
xã hội tùy thuộc rất nhiều vào các hợp đồng
thương mại, những giao kèo thuê mướn hoặc lao động.
Mọi hợp đồng đều phải được thỏa thuận
và thi hành với thiện ý. [Back]
2411
Các hợp đồng phải tuân theo công bằng giao hoán quy định những sự
trao đổi giữa các cá nhân và giữa các tổ chức
trong sự tôn trọng đúng mức các quyền lợi của
nhau. Công bằng giao hoán phải được triệt để tôn
trọng, vì nó buộc con người bảo toàn các quyền
tư hữu, hoàn trả nợ nần và tuân giữ các nghĩa
vụ đã tự do giao kết. Không có công bằng giao
hoán thì không thể có một hình thức công bằng
nào khác.
Cần phân biệt công
bằng giao hoán với công bằng pháp lý quy định
những bổn phận công bình của ngưòi công
dân đối với cộng đồng, và với công bằng
phân phối qui định việc cộng đồng phải thực
hiện cho người công dân tương xứng với những đóng
góp và những nhu cầu của họ. [Back]
2412
Công bằng giao hoán đòi chúng ta
phải đền bù điều bất
công đã làm bằng cách hoàn lại của cải
đã lấy cắp cho sở hữu chủ.
Đức Giê-su khen Da-kêu vì lời hứa của
ông: "Nếu tôi đã lường gạt ai cái gì, tôi
xin đền gấp bốn" (Lc 19,8). Những ai đã trực tiếp hoặc gián tiếp
chiếm đoạt tài sản tha nhân, buộc phải hoàn lại,
hoặc nếu đồ vật đó không còn nữa, phải
trả lại bằng hiện vật hay tiền mặt
tương đương, kèm theo tiền lời và các lợi lộc khác mà sở
hữu chủ của nó đã có thể hưởng được
cách chính đáng. Tất cả những người đã tham gia
vào việc trộm cắp một cách nào đó, hoặc đã
thừa hưởng mà biết rõ là của phi pháp, đều
phải hoàn trả cân xứng theo trách nhiệm và lợi lộc
đã hưởng, ví dụ những người đã truyền
lệnh hoặc giúp đỡ, hoặc tàng trữ, che giấu. [Back]
2413
Các trò đỏ đen (cờ bạc
v.v...) hoặc cá cược,
tự chúng không nghịch với phép công bằng, nhưng về
phương diện luân lý, không thể chấp nhận được
khi chúng cướp đi những cái cần thiết để nuôi sống
bản thân và người khác. Cờ bạc biến kẻ ham
mê thành nô lệ. Cờ gian bạc lận là một lỗi
nặng, trừ khi gây thiệt hại rất nhẹ đến
độ người bị thiệt thấy việc đó không đáng kể. [Back]
2414
Điều răn thứ bảy nghiêm cấm bất cứ
hành vi hoặc dịch vụ nào - vì bất cứ một
lý do gì, vì ích kỷ hoặc vì ý thức
hệ, lợi nhuận hoặc độc tài - dẫn tới
việc nô lệ hóa con
người, không nhìn nhận nhân phẩm của họ,
mua bán hoặc trao đổi họ như hàng hóa. Tội này xúc phạm
đến nhân phẩm và những quyền căn bản của
con người vì dùng bạo lực biến họ thành một
vật dụng hoặc nguồn lợi. Thánh Phao-lô đã
ra lệnh cho một chủ nhân Ki-tô hữu phải đối
xử với người nô lệ đồng đạo "không như
một nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến...như
một con người, trong Đức Chúa." (Plm 16) [Back]
2415
Tôn trọng sự toàn vẹn của các thụ tạo
Điều răn thứ bảy dạy phải tôn trọng
sự toàn vẹn của vạn vật. Thiên Chúa đã ban
thú vật, thực vật và những vật vô tri, nhằm
phục vụ lợi ích chung của nhân loại trong quá khứ,
hiện nay và tương lai. Khi sử dụng các nguồn tài nguyên
khoáng chất, thực vật và động vật trong vũ
trụ, con người phải tôn trọng các đòi hỏi
của luân lý: Đấng Sáng Tạo đã ban cho con người
quyền bá chủ trên các vật vô tri và những sinh vật
khác, nhưng không phải quyền tuyệt đối, vì phải
để ý đến ảnh hưởng trên đời sống của
tha nhân, kể cả những thế hệ tương lai; quyền
này đòi chúng ta phải trân trọng sự toàn vẹn của
vạn vật. [Back]
2416
Thú vật là những thụ
tạo của Thiên Chúa và được Người ân cần chăm sóc (Mt 6,2). Chúng hiện hữu để ca tụng và
tôn vinh Người. Do đó, con người phải biết thương
chúng. Các thánh như Phan-xi-cô Át-xi-di hoặc Phi-lip-phê Nê-ri đều
đối xử dịu hiền với thú vật. [Back]
2417
Thiên
Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh
Người và trao phó quyền quản lý các thú vật. Do
đó con người được phép ăn thịt thú vật và lấy da
làm y phục, có thể thuần hóa chúng để trợ lực
con người trong lao động và giải trí. Những thí nghiệm
y học và khoa học trên thú vật có thể chấp nhận
được về phương diện luân lý, miễn là ở
trong những giới hạn hợp lý và góp phần
vào việc chữa bệnh hoặc cứu lấy mạng
sống con người. [Back]
2418
Hành
hạ hay giết hại thú vật cách vô ích là điều trái
với phẩm giá con người. Cũng thế, chi phí những
số tiền quá đáng cho thú vật, lẽ ra phải ưu tiên
làm giảm bớt sự khốn cùng của con người,
thì cũng là một việc bất xứng. Người
ta có thể thương thú vật, nhưng không được dành cho chúng
tình yêu, chỉ xứng với con người. [Back]
Học thuyết xã hội của Hội Thánh
Mặc khải Ki-tô giáo đưa ta đến sự hiểu biết sâu xa hơn về những luật lệ của đời sống xã hội. Qua Tin Mừng, Hội Thánh nhận được mặc khải trọn vẹn chân lý về con người. Khi chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng, Hội Thánh nhân danh Đức Ki-tô, xác nhận cho con người biết phẩm giá riêng và ơn gọi hiệp thông của con người. Hội Thánh dạy cho con người biết các yêu sách của công lý và hòa bình, hợp với ý định khôn ngoan của Thiên Chúa. [Back]
2420
Trong
lãnh vực kinh tế và xã hội, Hội Thánh chỉ
đưa ra một phán đoán luân lý khi các quyền căn bản của
con người hoặc phần rỗi các linh hồn đòi hỏi.
Về mặt luân lý, Hội Thánh có sứ mạng khác
với chính quyền: Hội Thánh quan tâm đến các khía cạnh
trần thế của công ích vì chúng qui hướng về
Sự Thiện tối thượng, là cứu cánh tối hậu
của chúng ta. Hội Thánh cố gắng phổ biến những
lập trường đúng đắn đối với của cải
trần thế và với các quan hệ kinh tế xã hội. [Back]
2421
Học
thuyết xã hội của Hội Thánh được phát triển
vào thế kỷ thứ XIX khi Tin Mừng tiếp xúc với
xã hội kỹ nghệ tân tiến, với các cơ cấu
mới để sản xuất các sản phẩm tiêu thụ,
với khái niệm mới về xã hội, về quốc
gia và quyền bính, với các hình thức mới của
lao động và quyền sở hữu. Sự phát triển học
thuyết kinh tế và xã hội của Hội Thánh,
xác nhận giá trị vững bền của quyền giáo huấn,
cũng như cho thấy ý nghĩa đích thực của Truyền
Thống luôn luôn sống động và tích cực. [Back]
2422
Học
thuyết xã hội của Hội Thánh là tập hợp
các lời dạy của Hội Thánh về các biến cố
lịch sử, dưới ánh sáng mặc khải của toàn bộ
Lời Chúa, và sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Những
người thiện chí dễ dàng chấp nhận giáo thuyết
này, khi chúng được các Ki-tô hữu thể hiện trong đời
sống. [Back]
2423
Học
thuyết xã hội của Hội Thánh đề ra những
nguyên tắc suy tư, những tiêu chuẩn phán đoán, những đường
hướng hành động. Bất kỳ thể chế nào chỉ
căn cứ vào các yếu tố kinh tế để quyết định
những mối tương quan xã hội, đều nghịch với
bản chất của con người và của các hành vi nhân
linh. [Back]
2424
Về
mặt luân lý, không thể chấp nhận một
lý thuyết coi lợi nhuận là qui luật tuyệt
đối và mục đích tối hậu của sinh hoạt kinh
tế. Sự ham mê tiền của quá độ đưa đến những
hậu quả tai hại. Đây là một trong những nguyên
nhân gây rối loạn trật tự xã hội. Những
thể chế đòi hy sinh những quyền lợi căn bản
của cá nhân và đoàn thể cho tổ chức sản xuất
tập thể đều đi ngược với phẩm giá con người.
Những gì biến con người thành phương tiện thuần
túy để trục lợi, đều nô lệ hóa con người,
đưa tới việc tôn thờ tiền bạc và góp phần
truyền bá chủ nghĩa vô thần. Anh em không thể vừa
làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được. [Back]
2425
Hội
Thánh phi bác các ý thức hệ chuyên chế và vô thần
đang hoạt động dưới hình thức chủ nghĩa
cộng sản hoặc chủ nghĩa xã hội. Mặt
khác, Hội Thánh cũng phi bác chủ nghĩa cá nhân và việc
coi luật thị trường là qui luật tối thượng
trên lao động của con người, trong cách thực hành của
chủ nghĩa tư bản. Điều hành kinh tế chỉ dựa
trên kế hoạch tập trung sẽ phá hủy tận gốc
các mối liên hệ xã hội; điều hành chỉ dựa
theo qui luật thị trường sẽ vi phạm công bằng
xã hội. Thị trường không thể thỏa
mãn được những nhu cầu muôn mặt của con
người. Người tín hữu phải tác động vào thị
trường và các sáng kiến kinh tế, để có được một
điều hành hợp lý dựa trên một bậc thang
giá trị đúng đắn và vì công ích. [Back]
Hoạt động kinh tế và công bằng xã hội
Phát triển kinh tế và gia tăng sản xuất đều nhằm phục vụ những nhu cầu của con người. Đời sống kinh tế không chỉ nhằm vào việc gia tăng các sản phẩm, lợi nhuận hoặc quyền lực, nhưng trước tiên là để phục vụ con người : con người toàn diện và toàn thể cộng đồng nhân loại. Hoạt động kinh tế được điều hành theo những phương pháp riêng nhưng phải tôn trọng các khuôn khổ luân lý và công bằng xã hội, để đáp ứng ý định của Thiên Chúa về con người.
2427
Lao động là công trình trực tiếp
của những con người được sáng tạo theo
hình ảnh của Thiên Chúa, và được mời gọi
cùng nhau tiếp nối công trình sáng tạo khi làm chủ
địa cầu. Do đó, lao động là một bổn phận.
"Ai không chịu làm việc thì cũng đừng
ăn" (x. 2 Th 3,1-10;1 Th 4,11). Khi lao động, con
người biểu dương các ân huệ của Đấng Sáng Tạo
và những tài năng Chúa ban. Lao động còn có giá trị cứu
chuộc. Khi kết hợp với Đức Giê-su, người thợ
làng Na-da-rét và cũng là Đấng chịu đóng đinh trên Đồi Sọ,
con người qua những vất vả lao động được cộng
tác với Con Thiên Chúa trong công trình cứu độ. Họ
chứng tỏ mình là môn đệ của Đức Ki-tô khi
vác thập giá hằng ngày, qua việc chu toàn những bổn
phận trong sinh hoạt. Lao động có thể là một
phương thế thánh hóa và thấm nhuần các thực tại
trần thế bằng thần khí của Đức Ki-tô. [Back]
2428
Trong lao động, con người sử dụng và thể
hiện một phần các khả năng tự nhiên của
mình. Giá trị hàng đầu của lao động hệ tại
ở chính con người, là tác giả và là người thụ hưởng
nó. Lao động vì con người, chớ không phải con
người vì lao động. Mỗi người có quyền nhờ lao động mà có được
các phương thế để nuôi sống bản thân và những người
thân, cũng như phục vụ cộng đồng nhân loại. [Back]
2429
Mỗi
người có quyền có sáng kiến trong sinh hoạt kinh tế, sử dụng chính đáng các
tài năng của mình để góp phần làm ra nhiều của
cải cho mọi người được hưởng, và gặt hái những
hiệu quả chính đáng do các nỗ lực của
mình. Họ phải để tâm tuân theo các qui định do
chính quyền hợp pháp đề ra vì công ích. [Back]
2430
Đời sống kinh tế liên can đến
nhiều quyền lợi khác nhau, thường đối nghịch
nhau, nên thường xảy ra các xung đột. Phải cố gắng
giải quyết các xung đột bằng thương lượng, dựa
trên sự tôn trọng các quyền lợi và bổn phận
của mọi thành phần xã hội: ban điều hành
các xí nghiệp, đại diện công nhân, thí dụ các tổ
chức nghiệp đoàn, và đại diện chính quyền. [Back]
2431
Trách nhiệm của Nhà Nước. Hoạt động kinh
tế, đặc biệt là nền kinh tế thị trường,
cần đến những định chế, pháp luật và chính
sách. Hoạt động kinh tế phải được bảo đảm
bằng tự do cá nhân và quyền tư hữu, ngoài ra phải
có hệ thống tiền tệ ổn định và các dịch
vụ công cộng hữu hiệu. Nhiệm vụ chính yếu
của Nhà Nước là bảo đảm sự an toàn để người
lao động có thể hưởng hiệu quả công việc
làm của họ và do đó họ sẽ cảm thấy được
khuyến khích làm việc cách hiệu quả và lương thiện.
Nhà Nước cũng có bổn phận giám sát và hướng dẫn
việc thực thi nhân quyền trong lãnh vực kinh tế.
Tuy nhiên trong lãnh vực này trách nhiệm đầu tiên
không phải của nhà nước nhưng của các cá nhân, các đoàn
nhóm khác nhau và các hiệp hội là thành viên của xã hội. [Back]
2432
Những người lãnh đạo xí
nghiệp chịu
trách nhiệm trước xã hội về mặt kinh tế
và sinh-thái của công việc làm ăn của mình. Họ
quan tâm đến lợi ích của con người chứ không lo
gia tăng lợi nhuận.
Dĩ nhiên, lợi nhuận cần thiết vì giúp thực
hiện những đầu tư bảo đảm tương lai của xí
nghiệp và bảo đảm công ăn việc làm của công nhân. [Back]
2433
Mọi
người phải được quyền làm việc và chọn nghề,
không bị kỳ thị bất công, nam hay nữ, người
khỏe mạnh hay tàn tật, người địa phương hay người
nơi khác. Tùy hoàn cảnh xã hội phải giúp đỡ để
các công dân có công ăn việc làm. [Back]
2434
Người
lao động có quyền hưởng đồng lương công bằng. Không trả hoặc giữ
tiền lương lại, là một tội bất công nghiêm trọng.
Để định giá tiền lương cho công bằng, phải lưu
ý đến các nhu cầu và đóng góp của mỗi người.
Tùy theo nhiệm vụ và năng suất của mỗi người,
tình trạng của xí nghiệp và công ích, việc làm
phải được trả lương sao cho con người có đủ khả
năng xây dựng cho mình một đời sống xứng hợp
về phương diện vật chất, xã hội, văn hóa
và tinh thần. Về phương diện luân lý, sự thỏa
thuận giữa chủ và thợ không đủ đễ định
mức lương. [Back]
2435
Về
mặt luân lý, đình công là việc chính đáng, khi đó là một
phương thế không tránh được hoặc cần thiết, để
đạt được lợi ích tương xứng. Đình công không thể
chấp nhận được về mặt luân lý, khi kèm
theo bạo động hoặc khi chỉ được dùng nhằm
những mục tiêu không trực tiếp liên hệ đến
các điều kiện làm việc hay trái nghịch với công
ích. [Back]
2436
Không đóng góp lệ phí cho những cơ quan an ninh xã hội do chính quyền hợp pháp qui định là điều bất công. Tình trạng thất nghiệp, đối với nạn nhân, luôn xúc phạm đến phẩm giá của họ và là một đe dọa cho thế quân bình của đời sống. Ngoài sự thiệt hại mà cá nhân người đó phải gánh chịu, thất nghiệp còn đem lại nhiều mối nguy cho gia đình của họ. [Back]
Công bằng và tình liên đới giữa các quốc gia
Trên bình diện quốc tế, tình trạng các nguồn tài nguyên và các phương tiện kinh tế không được phân bố đồng đều, đến độ gây nên một "hố sâu" giữa các quốc gia. Một bên là những quốc gia có được và phát triển các phương tiện tăng trưởng; bên kia là những quốc gia nợ nần chồng chất. [Back]
2438
Ngày nay, vấn đề
xã hội mang một chiều kích quốc tế,
vì nhiều nguyên do khác nhau như tôn giáo, chính trị, kinh tế
và tài chánh. Giữa các quốc gia vốn có liên hệ chính trị,
cần phải liên đới với nhau. Tình liên đới
này lại còn khẩn thiết hơn nữa khi phải loại
trừ những guồng máy kinh tế tàn nhẫn ngăn chặn
quá trình phát triển của các quốc gia yếu kém.
Thay vì các hệ thống kinh tài đầy lạm dụng
hoặc bóc lột, những trao đổi thương mại bất
công giữa các quốc gia, chạy đua vũ trang, chúng ta phải
có một cố gắng chung để huy động các nguồn
tài nguyên vào những mục tiêu phát triển luân lý, văn
hóa và kinh tế nhờ xác định lại những quyền
ưu tiên và các bậc thang giá trị. [Back]
2439
Các nước giàu phải có trách nhiệm
đối với những quốc gia không có những phương thế
phát triển hoặc không phát triển được vì những
biến cố lịch sử bi đát. Đây là một bổn phận
của tình liên đới và bác ái. Đó cũng là một
đòi hỏi của công bình, nếu sự sung túc của
các nước giàu là do những tài nguyên của các nước
nghèo, nhưng chưa được trả giá đúng mức. [Back]
2440
Viện trợ trực tiếp chỉ là phản
ứng nhất thời đáp ứng những nhu cầu trước
mắt và đột xuất, chẳng hạn do thiên tai hay dịch
tễ. Nhưng viện trợ này không đủ để bù đắp
những thiệt hại nặng nề sau tai biến, cũng
không thể trường kỳ thỏa mãn các nhu cầu
được. Phải cải tổ
các thể chế kinh tế và tài chánh quốc tế,
để có thể có được những trao đổi công bằng
hơn với các nước chậm phát triển. Phải nâng đỡ
cố gắng của các nước nghèo đang phấn đấu để
phát triển và giải phóng. Điều này phải được áp dụng
đặc biệt trên bình diện nông nghiệp. Nông dân là
thành phần nghèo đói đông đảo, nhất là ở thế giới
thứ ba. [Back]
2441
Nền tảng cho mọi
phát triển trọn vẹn
xã hội loài người đòi buộc phải
nâng cao cảm thức về Thiên Chúa và nhận thức về
mình. Sự phát triển này làm gia tăng gấp bội tài
sản vật chất để phục vụ con người và
tự do, giảm bớt sự cùng khổ và bóc lột kinh
tế, tôn trọng bản sắc văn hóa và khai mở chiều
kích siêu việt. [Back]
2442
Các mục tử của
Hội Thánh không có trách nhiệm nhúng tay trực tiếp vào
cơ cấu chính trị cũng như việc tổ chức đời
sống xã hội. Trách nhiệm này là ơn gọi của giáo dân; họ cộng
tác với đồng bào theo sáng kiến riêng mình. Có nhiều
đường lối cụ thể rộng mở cho việc
tham gia chính trị của họ; nhưng phải luôn nhắm tới
công ích và thích ứng với sứ điệp Tin Mừng cũng
như giáo huấn Hội Thánh. Người tín hữu có bổn phận
"tham gia vào lãnh vực trần thế với sự
nhiệt tình của người Ki-tô hữu và sống như
những người kiến tạo hòa bình và công
lý. [Back]
Yêu thương người nghèo
Thiên Chúa chúc phúc cho ai giúp
đỡ người nghèo và kết án ai lãnh đạm với họ.
"Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn,
thì đừng ngoảnh mặt đi" (Mt 5,42) "Anh em đã được cho không, thì cũng
phải cho không như vậy" (Mt 10,8). Đức Giê-su Ki-tô nhận ra kẻ được
Người tuyển chọn qua việc họ đã làm cho
người nghèo. Dấu chỉ sự hiện diện của
Đức Ki-tô là "kẻ nghèo được nghe Tin Mừng." (Mt 11,5) [Back]
2444
Hội Thánh vẫn luôn
yêu thương người nghèo. Đây là truyền thống ngàn đời của
Hội Thánh. Hội Thánh đã múc nguồn cảm hứng
cho tình yêu này từ Tin Mừng của Bát Phúc, từ chính sự nghèo khó của Đức
Giê-su và từ lòng thương xót của Người đối với
kẻ nghèo. Tình yêu đối với người nghèo phải
trở thành một trong những động lực thúc đẩy
tín hữu hoạt động và "làm ăn, để có gì chia
sẻ với người túng thiếu" (Eph 4,28). Điều này không phải chỉ giới hạn
ở sự nghèo khó về vật chất nhưng còn hướng
tới nhiều hình thức nghèo đói văn hóa và tôn giáo. [Back]
2445
Tình yêu đối với kẻ nghèo không thể đi đôi với lòng ham muốn giàu sang quá độ cũng như sử dụng của cải quá ích kỷ. "Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các ngươi hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi đã bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các ngươi; nó sẽ thiêu hủy xác thịt các ngươi như lửa. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các ngươi, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa Tể càn khôn. Trên cõi đời này, các ngươi đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các ngươi đã được no đầy thỏa mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người" (Gcb 5,1-6). [Back]
2446
Thánh Gio-an Kim Khẩu nhắc lại trách nhiêm này với những lời khẩn thiết : "Không cho kẻ nghèo được chia sẻ của cải thuộc về họ là ăn cắp và cướp lấy mạng sống của họ. Của cải chúng ta đang nắm giữ, không phải là của chúng ta, nhưng là của họ" (Laz 1,6). Phải thỏa mãn những đòi hỏi công bình trước đã, kẻo những tặng phẩm đem cho, tưởng là vì bác ái, mà thật ra là vì đức công bằng phải đền trả. Khi tặng những thứ cần thiết cho người nghèo, chúng ta không làm vì lòng quảng đại cá nhân, nhưng là hoàn trả cho họ những gì thuộc về họ. Qua đó, chúng ta chu toàn một trách nhiệm công bằng hơn là thực hiện một hành vi bác ái. [Back]
2447
Các việc từ thiện là những hành vi bác ái, qua đó chúng ta giúp đỡ tha nhân những gì cần thiết cho thể xác và tinh thần. Dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ, cũng như tha thứ, nhẫn nhục, chịu đựng là những hành vi bác ái về mặt tinh thần. Công việc từ thiện về mặt vật chất phải kể : cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết. Trong các hành vi đó, bố thí là một trong những chứng cứ chính yếu của tình bác ái huynh đệ; đó cũng là hành động đẹp lòng Thiên Chúa (Mt 6,2-4).
"Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy" (Lc 3,11). "Tốt hơn, hãy bố thí những gì các ngươi có, rồi thì mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các ngươi" (Lc 11,41). "Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?" (Gcb 2,15-16; 1 Ga 3,17). [Back]
2448
Sự khốn cùng của con người xuất hiện dưới
nhiều hình thức: thiếu thốn vật chất,
bất công và đàn áp, bệnh hoạn thể xác và tâm thần,
cuối cùng là cái chết. Sự khốn cùng này là dấu chỉ
cho thấy con người sau nguyên tội yếu đuối từ
bẩm sinh và cần đến ơn cứu độ. Vì thế,
Đức Ki-tô đã chạnh lòng thương xót và mang lấy
thân phận khốn cùng của con người và tự đồng
hóa với người bé nhỏ trong các anh em. Ngay từ đầu,
Hội Thánh ưu ái đặc biệt những người cùng khổ
để nâng đỡ, bảo vệ và giải phóng họ, mặc
dù vẫn có nhiều phần tử đã không làm như vậy.
Hội Thánh đã thực hiện điều này qua vô số
công cuộc từ thiện mà thời nào và ở đâu cũng
không thể thiếu. [Back]
2449
Sách Đệ Nhị Luật
khuyến cáo: "Người nghèo không bao giờ vắng bóng
trên đất nước. Vì thế, ta truyền cho ngươi: phải
mở rộng bàn tay cho người anh em nghèo đói, cùng khổ
đang sống trên đất nước của ngươi" (Đnl 15,11). Đáp lại lời khuyến cáo này Cựu Ước
đã có những luật như năm toàn xá, cấm lấy
lãi và xiết nợ, nộp thuế thập phân, trả
lương công nhật, quyền được mót ở ruộng lúa và vườn
nho. Đức Giê-su cũng tuyên bố: "Người nghèo
thì anh em luôn có bên cạnh; còn Thầy, anh em không
có luôn mãi đâu" (Ga 12,8). Và như vậy,
Đức Giê-su không giảm nhẹ lời các ngôn sứ xưa
kia: "Chúng dùng tiền để mua người cô thân, mua kẻ
nghèo bằng giá một đôi dép" (Am 8,6), nhưng mời gọi chúng ta nhận ra Người
trong những kẻ nghèo đói là anh em của Người (Mt 25,40).
Khi thánh Rô-sa thành Li-ma bị
mẹ trách vì đã đem những kẻ nghèo, những
bệnh nhân vào nhà, thánh nữ trả lời: Khi chúng ta phục
vụ người nghèo và người bệnh là chúng ta phục vụ
chính Đức Giê-su. Chúng ta không được lơ là trong việc giúp đỡ
tha nhân, vì chúng ta phục vụ Chúa Giê-su trong anh em. [Back]
2450
Tóm lược
Ngươi chớ trộm cắp (Đnl 5,19). Những kẻ trộm cắp, tham lam... cướp bóc sẽ
không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp (1 Cr 6,10). [Back]
2451
Điều răn thứ bảy truyền
phải thực thi công bằng và bác ái khi quản lý của
cải trần thế và thành quả lao động. [Back]
2452
Thiên Chúa sáng tạo vạn vật
cho toàn thể nhân loại. Quyền tư hữu không hủy bỏ
quyền chung hưởng những của cải này. [Back]
2453
Điều răn thứ bảy cấm
trộm cắp. Trộm cắp là chiếm đoạt tài sản
của kẻ khác nghịch lại ý muốn chính đáng của
sở hữu chủ. [Back]
2454
Mọi hình thức chiếm
đoạt hay sử dụng tài sản của kẻ khác cách bất
công, đều vi phạm điều răn thứ bảy. Bất
công đòi buộc phải đền bù. Công bằng giao hoán
buộc phải hoàn trả lại tài sản đã bị
chiếm đoạt. [Back]
2455
Luật luân lý nghiêm cấm mọi
hành vi nô lệ hóa con người vì lợi nhuận hay độc
tài, hoặc mua bán, trao đổi họ như hàng hóa. [Back]
2456
Đấng Sáng Tạo đã ban cho
con người quyền sử dụng tài nguyên khoáng sản, thực
vật và động vật trên thế giới. Nhưng họ phải
tôn trọng những trách nhiệm luân lý, đối với
cả những thế hệ tương lai. [Back]
2457
Thiên Chúa trao cho con người quyền
trên các thú vật. Con người phải chăm sóc chúng. Và được
sử dụng để đáp ứng những nhu cầu chính đáng
của con người. [Back]
2458
Trong lãnh vực
kinh tế và xã hội, Hội Thánh có quyền lên tiếng
khi những quyền căn bản của con người hay ơn cứu
độ đòi buộc. Hội Thánh quan tâm đến công ích thuộc
lãnh vực trần thế của loài người, bao lâu
công ích này qui hướng vào sự thiện hảo tối cao
là cùng đích của chúng ta. [Back]
2459
Con người là tác giả, trung tâm
và cứu cánh của toàn bộ đời sống kinh tế và
xã hội. Mấu chốt của vấn đề
xã hội là làm thế nào để của cải Thiên
Chúa sáng tạo cho mọi người hưởng dùng, được đến
tận tay mọi người theo lẽ công bằng và tương trợ
bác ái. [Back]
2460
Vì con người vừa là tác giả,
vừa là mục tiêu của lao động, nên con người là yếu
tố quyết định cho giá trị chính yếu của lao
động. Qua lao động, con người tham gia vào chương
trình sáng tạo của Thiên Chúa. Lao động có thể
có giá trị cứu độ, nếu con người biết kết
hợp với Đức Ki-tô. [Back]
2461
Phát triển đích thực là phát triển
con người toàn vẹn, giúp họ thêm khả năng đáp lại
ơn gọi làm người, nghĩa là đáp lại lời mời gọi
của Thiên Chúa. [Back]
2462
Bố thí là bằng chứng của
bác ái huynh đệ và là hành vi công bằng đẹp lòng Thiên
Chúa. [Back]
2463
Chẳng lẽ chúng ta không nhận ra
La-da-rô, người hành khất đói khổ trong dụ ngôn của
Đức Giê-su, giữa bao người không cơm áo, không nhà cửa?
Chẳng lẽ chúng ta không nghe được tiếng của Đức
Giê-su : "Các ngươi đã không làm cho chính Ta." (Mt 25, 45) [Back]
Điều
răn thứ tám
"Ngươi không được làm chứng gian hại người (Xh 20, 16).
Các ngươi còn nghe luật
dạy người xưa rằng : "Chớ bội thề, nhưng
hãy trọn lời thề đối với Chúa" (Mt 5,33)
Điều răn thứ tám cấm
xuyên tạc chân lý trong khi giao tiếp với tha nhân.
Qui định luân lý này bắt nguồn từ ơn gọi của
Dân Thánh làm chứng nhân cho Thiên Chúa của mình, Đấng
là chân lý và muốn có chân lý. Khi nói hoặc
làm điều gì xâm phạm đến chân lý, con người
từ chối sống ngay thẳng về luân lý. Làm
như vậy là bất trung nặng nề với Thiên Chúa và do
đó phá hủy nền tảng của Giao Ước. [Back]
2465
Sống trong chân lý
Cựu Ước chứng nhận: Thiên Chúa là nguồn mạch chân lý. Lời Người là chân lý. Luật Người là chân lý. Lòng tín trung Người tồn tại đến muôn đời. Bởi vì Thiên Chúa là "Đấng Chân Thật" (Rm 3,4), nên mọi thành phần Dân Người được mời gọi sống trong chân lý. [Back]
2466
Nơi
Đức Giê-su Ki-tô, chân lý của Thiên Chúa được bày tỏ
toàn vẹn. Đức Giê-su tràn đầy ân sủng và chân lý
(Ga 1,14), là " ánh sáng thế
gian" (Ga 8,12), là sự thật. "Ai
tin vào Người thì không còn ở trong bóng tối"
(Ga 12, 46). Môn đệ của Đức
Giê-su ở trong lời Người, nhờ đó nhận biết
"chân lý giải thoát" (Ga 8, 32) và thánh hóa. Bước theo Đức Giê-su là sống nhờ
"Thánh Thần chân lý" (Ga 14,17) mà Cha gởi đến nhân danh Người và Thánh Thần sẽ
dẫn đưa đến "chân lý toàn vẹn" (Ga 16,13). Đức Giê-su dạy các môn đệ phải
yêu mến chân lý vô điều kiện: Trong lời ăn tiếng
nói của anh em, "hễ có thì phải nói có",
"không thì phải nói không" (Mt 5, 37). [Back]
2467
Tự
nhiên, con người hướng đến chân lý. Con người biết
mình phải tôn trọng và làm chứng cho sự thật:
"Vì có phẩm giá, mọi người được thôi thúc
và có bổn phận tìm kiếm chân lý, trước
tiên là chân lý về tôn giáo. Họ thấy mình phải
tha thiết với sự thật ngay khi nhận biết sự
thật và điều chỉnh toàn bộ đời sống theo
các đòi hỏi của sự thật" (Ga 14,26). [Back]
2468
Khi chân lý được thể hiện trong hành động
và lời nói, chúng ta gọi là chân chính, thành thật hoặc
thẳng thắn. Chân lý hoặc chân thật là nhân đức
giúp con người thành thật trong các hành vi và lời nói, không
gian dối, giả vờ, đạo đức giả. [Back]
2469
Người
ta sẽ không thể sống chung với nhau được nếu
không tín nhiệm nhau, nghĩa
là nếu không cho nhau biết sự thật. Đức tính chân
thật đòi chúng ta cho người khác biết sự thật
họ có quyền biết. Người chân thật vừa lương
thiện, vừa cẩn mật : nói điều phải nói và
giữ kín điều phải giữ kín. Theo đức công
bình, "người ta phải sống thành thật với
nhau" (T. Tô-ma A-qui-nô, s. th 2-2,
109,3). [Back]
2470
Người môn đệ Đức
Ki-tô chấp nhận "sống trong chân lý", nghĩa
là sống đơn sơ và thành thật theo gương mẫu của Chúa.
"Nếu chúng ta nói là chúng ta được hiệp thông với
Người,mà lại sống trong tối tăm, thì chúng ta
nói dối, và không hành động theo sự thật" (1Ga 1,6). [Back]
Làm chứng cho chân lý
Trước mặt Phi-la-tô, Đức Ki-tô tuyên bố: "Tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật" (Ga 18, 37). Người Ki-tô hữu, "đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa" (2Tm 1,8). Trong những hoàn cảnh cần phải làm chứng cho đức tin, người Ki-tô hữu phải tuyên xưng không úp mở, theo gương thánh Phao-lô trước mặt các thẩm phán. Người Ki-tô hữu phải cố gắng để "lương tâm không có gì đáng chê trách trước mặt Thiên Chúa và người ta" (Cv 24,16). [Back]
2472
Bổn phận tham gia vào đời sống của Hội thánh, thúc đẩy người Ki-tô hữu hành động như những chứng nhân của Tin Mừng và chu toàn những trách vụ phát xuất từ bổn phận ấy. Làm chứng nhân là truyền đạt đức tin bằng lời nói và việc làm. Làm chứng cho đức tin là một việc làm chính đáng để khẳng định hoặc làm cho kẻ khác nhận biết chân lý. Mọi Ki-tô hữu dù sống ở đâu, đều phải lấy gương mẫu đời sống và chứng từ lời nói để biểu dương con người mới mà họ đã mặc lấy nhờ bí tích Thánh Tẩy, và sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà họ đã được củng cố nhờ bí tích Thêm Sức. [Back]
2473
Tử đạo là chết để làm chứng cho chân lý đức tin,
nên là lời chứng cao quí nhất. Sống kết hợp
với Đức Ki-tô, khi chịu chết, vị tử đạo
làm chứng cho Đấng đã chết và đã sống lại.
Những vị tử đạo làm chứng cho chân lý đức
tin và đạo lý Ki-tô giáo bằng cái chết anh hùng.
"Hãy để tôi trở nên mồi ngon cho ác thú. Chính nhờ
chúng mà tôi sẽ được về với Thiên Chúa" (T. Inhaxiô thành Antiôkia, Rom. 4,1). [Back]
2474
Hội
Thánh hết sức cẩn thận thu thập kỷ niệm
về những người đã đi đến tận cùng để
làm chứng cho đức tin. Truyện các vị tử đạo
là văn khố của Chân Lý được viết bằng máu.
"Những quyến rũ của thế
gian và các vương quốc thế trần sẽ chẳng ích
gì cho tôi. Đối với tôi, chết (để được kết
hợp) với Đức Ki-tô Giê-su, còn hơn được thống
trị cả mặt đất này. Chính Người là Đấng tôi
tìm kiếm, Đấng đã chết cho chúng ta. Chính Người
là Đấng tôi khao khát, Đấng đã sống lại
vì chúng ta. Giờ phút tôi chào đời đã gần kề
(T. Inhaxiô thành Antiôkia, Rom 6,1-2).
"Con
chúc tụng Chúa vì Chúa cho con được hưởng ngày này và
giờ này, được kể vào số các vị tử đạo
của Chúa... Lạy Thiên Chúa trung tín và chân thật, Chúa
đã giữ lời Chúa hứa. Vì ân huệ này và
vì tất cả mọi sự, con ngợi khen Chúa, con
chúc tụng Chúa, con tôn vinh Chúa nhờ vị Thượng Tế
vĩnh hằng trên trời là Đức Giê-su Ki-tô, Con rất
yêu dấu của Chúa. Nhờ Người, Đấng luôn ở với
Cha và Chúa Thánh Thần, con xin tôn vinh Cha bây giờ và cho đến
muôn muôn đời A-men (T. Pôlycapô,
mart. 14, 2-3) [Back]
Những xúc phạm đến chân lý
Là môn đệ của Đức Ki-tô, chúng ta đã "mặc lấy con người mới, là con người sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để sống thật sự công chính và thánh thiện" (Ep 4, 24). Một khi đã cởi bỏ sự gian dối (Ep 4, 25) chúng ta phải "từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói gièm pha" (1 Pr 2,1). [Back]
2476
Chứng dối và thề gian. Công khai nói nghịch
với sự thật là một lỗi nặng. Trước
tòa án, lời nói như thế là chứng dối. Khi nói dối
mà còn thề, thì đó là thề gian. Chứng dối
và thề gian sẽ dẫn đến một người vô tội
bị kết án hoặc can phạm được gỡ tội
hoặc gia tăng hình phạt cho bị cáo, làm cho các thẩm
phán đi đến những phán quyết lệch lạc. [Back]
2477
Vì phải tôn trọng thanh danh của người khác, chúng ta không được có thái độ và lời nói có thể gây hại cho họ. Chúng ta có lỗi khi:
- Phán đoán hồ đồ, nghĩa là khi không có đủ cơ sở mà minh nhiên hoặc mặc nhiên cho rằng một người có lỗi về luân lý;
- Nói xấu nghĩa là khi không có lý do khách quan chính đáng mà lại tiết lộ những tật xấu và những lỗi lầm của kẻ khác cho những người chưa biết;
- Vu khống tức là khi dùng những lời ngược với sự thật mà làm hại thanh danh kẻ khác và tạo cớ cho người ta phán đoán sai lầm về người ấy. [Back]
2478
Để tránh phán đoán hồ đồ, chúng ta phải cố gắng cắt nghĩa tốt cho ý nghĩ, lời nói và việc làm của tha nhân:
"Mọi Ki-tô hữu tốt phải sẵn sàng bào chữa cho người khác hơn là lên án. Nếu không bàu chữa được, thì phải hỏi xem người ấy có ý nói gì, nếu người ấy nói sai, thì hãy lấy tình thương mà sửa chữa; và nếu chưa đủ thì tìm mọi phương thế thích hợp để giúp người ấy hiểu được và thoát được sai lầm (T.I-nhã Linh Thao, 22). [Back]
2479
Nói
xấu và vu khống làm mất thanh danh và danh dự của người khác. Danh dự
là bằng chứng xã hội tôn trọng phẩm giá
con người, và mọi người tự nhiên có quyền được
tôn trọng thanh danh. Do đó, nói xấu và vu khống là phạm
đến công bình và bác ái. [Back]
2480
Phải loại trừ
mọi lời nói hoặc thái độ như nịnh hót, a dua,
tâng bốc hoặc lấy lòng để thúc đẩy kẻ
khác làm điều xấu và ăn ở đồi bại. Tâng bốc
là một lỗi nặng nếu đồng lõa với các
thói xấu hoặc các tội nặng. Ý muốn giúp đỡ
hoặc tình bạn không biện minh được cho lời
nói giả dối. Tâng bốc là một tội nhẹ khi chỉ
vì muốn làm vui lòng người khác, tránh một điều
xấu, thoát khỏi một tình thế khó khăn hay để
đạt được những lợi ích chính đáng. [Back]
2481
Khoe
khoang hoặc khoác lác là một lỗi
nghịch với sự thật. Mỉa mai cũng là tội
khi có ý châm biếm
một cách cư xử nào đó của người khác để hạ
giá họ. [Back]
2482
Nói dối là nói sai sự thật, với
ý định đánh lừa kẻ khác. Chúa Giê-su kết án nói
dối như một công việc của ma quỉ "Cha các
ngươi là ma quỉ ... vì sự thật không ở trong nó.
Khi nói dối là nó nói theo bản tính của nó, vì nó là kẻ
nói dối và là cha sự gian dối" (Ga 8,44). [Back]
2483
Khi nói dối người ta
trực tiếp xúc phạm đến chân lý. Nói dối là
nói hay hành động nghịch với chân lý để lừa
gạt. Nói dối làm hại đến tương quan giữa con người
với chân lý và con người với nhau, nên kẻ nói dối
xúc phạm đến tương quan nguyên thủy giữa con người
và lời nói của con người với Chúa. [Back]
2484
Tội
nói dối nặng hay nhẹ tùy theo mức độ làm sai lạc
chân lý, tùy theo các hoàn cảnh và ý định của kẻ
nói dối, tùy theo những thiệt hại mà nạn nhân của
nó phải hứng chịu. Ngay cả khi nói dối chỉ
là tội nhẹ, cũng trở thành tội trọng nếu
vi phạm nặng nề đến công bình và bác ái. [Back]
2485
Tội
nói dối bao giờ cũng là điều phải lên án,
vì làm mất giá trị lời nói trong khi lời nói có
nhiệm vụ truyền thông cho kẻ khác chân lý
mình đã biết. Lời nói cố ý lừa gạt
kẻ khác, là lỗi phạm đến công bằng và bác ái. Tội
này càng nặng hơn khi có nguy cơ gây ra những hậu quả
tai hại cho người bị lừa gạt. [Back]
2486
Nói
dối vì xúc phạm đến đức tính chân thật, thực
sự là một hành vi thô bạo đối với kẻ khác,
xâm phạm đến khả năng nhận thức là điều kiện
để họ phán đoán và quyết định. Nói dối gây chia rẽ
giữa người với người và mọi tệ hại do
chia rẽ mà ra. Nói dối là tai họa cho mọi xã hội,
làm cho người ta không còn tin tưởng nhau và phá hoại
những mối tương giao trong xã hội. [Back]
2487
Ai
lỗi phạm đến công bình và chân lý, đều phải đền bù, dù đã
được thứ tha. Khi không thể đền bù cách công khai,
thì phải làm kín đáo; nếu không thể đền bù cách
trực tiếp cho người bị hại, thì phải
đền bù về tinh thần vì đức bác ái. Ai lỗi
phạm đến thanh danh kẻ khác, cũng phải đền
bù như thế. Phải đền bù tinh thần và đôi khi về mặt
vật chất, tương xứng với thiệt hại
đã gây ra. Đây là nghĩa vụ lương tâm. [Back]
Tôn trọng chân lý
Con người có quyền được thông truyền chân lý nhưng không phải vô điều kiện. Ai cũng phải sống phù hợp với luật bác ái huynh đệ của Tin Mừng. Vì thế, trong những hoàn cảnh cụ thể, giới luật này đòi hỏi mỗi người phải suy xét xem có nên hay không nên tỏ bày sự thật theo yêu cầu. [Back]
2489
Vừa phải giữ đức
ái huynh đệ vừa phải tôn trọng chân lý, nên
chúng ta phải thận trọng trước những yêu cầu trình bày sự thật.
Vì lợi ích và an toàn của tha nhân, vì tôn trọng
đời tư và công ích, chúng ta có thể giữ bí mật hay nói
tránh đi. Bổn phận tránh gây gương xấu buộc chúng ta phải
hết sức thận trọng. Không ai bị bắt buộc
phải nói sự thật cho người không có quyền được
biết. [Back]
2490
Bí mật toà giải tội là thánh thiêng và không được
tiết lộ vì bất kỳ lý do nào. Bí mật
toà giải tội là bất khả vi phạm; do đó tuyệt
đối cấm linh mục giải tội tiết lộ về
hối nhân bất cứ điều gì, bằng lời
nói hoặc một cách nào khác, và vì bất cứ
lý do gì. [Back]
2491
Những
bí mật nghề nghiệp - ví dụ
của các nhà chính trị, quân nhân, y sĩ, luật gia - hoặc
chuyện tâm sự được yêu cầu giữ kín, phải được
giữ bí mật trừ trường hợp ngoại lệ nếu
việc giữ bí mật sẽ gây ra cho người đã nói
ra, hoặc cho người đã tiếp nhận hoặc cho một
đệ tam nhân, những thiệt hại nặng nề và chỉ
có thể tránh được khi nói sự thật. Dù không buộc
phải giữ kín, không được tiết lộ những chuyện
riêng tư có thể gây tổn hại cho tha nhân, trừ khi có
lý do hệ trọng và tương xứng. [Back]
2492
Chúng ta phải tôn trọng
bí mật đời tư của người khác. Ai có trách nhiệm về
các phương tiện thông tin khi phục vụ công ích vẫn phải
tôn trọng cách tương xứng các quyền lợi của cá
nhân. Phải lên án việc ngành thông tin xen vào đòi tư của
những người hoạt động chính trị hoặc được
công chúng biết đến, nếu xâm phạm đến cuộc
sống riêng tư và sự tự do của họ. [Back]
Sử dụng những phương tiện truyền
thông xã hội
Trong xã hội hiện đại, các phương tiện truyền thông xã hội giữ một vai trò quan trọng trong lãnh vực thông tin, phát huy văn hóa và đào tạo con người. Vai trò này lớn dần theo các tiến bộ kỹ thuật theo lượng thông tin phong phú và đa dạng cũng như theo ảnh hưởng trên công luận. [Back]
2494
Các phương tiện truyền thông phải phục vụ công ích. Xã hội có quyền được biết những tin tức phổ biến dựa trên sự thật và tự do, công bằng và tình liên đới.
Việc thực thi đúng đắn quyền nầy đòi việc truyền thông phải luôn xác thực khi trình bày nội dung và phải đầy đủ mà vẫn giữ được công bình và bác ái; ngoài ra, cách thức truyền thông cũng phải lương thiện và thích hợp, nghĩa là cả trong việc săn tin và loan tin, tuyệt đối phải tuân giữ các luật luân lý, các quyền lợi chính đáng và phẩm giá của con người. [Back]
2495
Mọi
thành phần của xã hội cần phải chu toàn bổn
phận công bình và bác ái của mình, ngay cả
trong lãnh vực này; do đó, họ phải sử dụng
các phương tiện truyền thông xã hội để cố
gắng tạo ra và truyền bá những dư luận lành mạnh.
Tình liên đới phải là thành quả của một nền
thông tin chân thật và công bình, và của việc tự
do trao đổi ý kiến, nhờ đó người ta hiểu
biết và tôn trọng nhau hơn. [Back]
2496
Những
phương tiện truyền thông xã hội (đặc biệt
những phương tiện thông tin đại chúng) có thể làm cho
những người tiếp nhận trở nên thụ động,
thiếu cảnh giác đối với nội dung và hình ảnh
được phổ biến. Bởi vậy, những người
tiếp nhận phải giữ điều độ và kỷ luật
đối với những nguồn thông tin đại chúng. Họ
phải tạo cho mình một lương tâm sáng suốt và
ngay thẳng, để có thể chống lại những ảnh
hưởng thiếu lương thiện. [Back]
2497
Vì
bổn phận nghề nghiệp, những người có trách
nhiệm thông tin, khi phổ biến tin tức phải phục
vụ chân lý nhưng không được lỗi phạm đức
bác ái. Họ cũng phải để tâm vừa tôn trọng bản
chất các sự kiện vừa tôn trọng những giới
hạn khi phê bình người khác. Không
bao giờ được bôi nhọ người khác. [Back]
2498
Vì
công ích, chính quyền có trách nhiệm đặc biệt đối
với những phương tiện truyền thông. Chính quyền
phải bênh vực và bảo vệ sự tự do đích thực
và đúng đắn trong việc thông tin. Bằng cách ban hành luật
lệ và thi hành nghiêm chỉnh, chính quyền phải bảo
đảm rằng các phương tiện truyền thông không bị lạm
dụng để gây thiệt hại nặng nề cho thuần
phong mỹ tục và cho những tiến bộ của
xã hội. Chính quyền phải trừng phạt kẻ
vi phạm thanh danh và bí mật đời tư của người
khác. Chính quyền phải thông báo kịp thời và đúng đắn
những thông tin liên hệ đến lợi ích của đại
chúng hoặc giải đáp những bận tâm chính đáng của
dân chúng. Không gì có thể biện minh cho việc dùng những
phương tiện truyền thông đưa ra những thông tin sai lạc
để lèo lái dư luận; làm như vậy là xâm phạm đến tự
do của cá nhân và các nhóm. [Back]
2499
Luân
lý kết án các nhà nước độc tài xuyên tạc chân
lý một cách có hệ thống, dùng các phương tiện
truyền thông để khống chế dư luận về chính
trị, giật dây những bị cáo và nhân chứng trong
các vụ án công khai, tưởng rằng có thể củng cố
ách chuyên chế bằng cách ngăn chặn và đàn áp những người
bất đồng quan điểm. [Back]
2500
Chân lý, thẩm mỹ và nghệ thuật Thánh
Khi làm điều thiện, con người có được niềm vui tinh thần và nét đẹp luân lý. Cũng thế, chân lý đem lại niềm vui và cái đẹp tinh thần. Chân lý tự mình đã đẹp. Lời nói chân thật là cách diễn tả theo lý trí của nhận thức về thực tại được Thiên Chúa sáng tạo cũng như về chính Thiên Chúa; sự chân thật này rất cần thiết cho con người có lý trí. Con người diễn tả chân lý bằng nhiều hình thức khác nhau, bổ túc cho nhau, nhất là khi phải nói lên điều không thể diễn tả bằng lời: những gì sâu thẳm của lòng người, những tâm tình siêu vượt của linh hồn và mầu nhiệm Thiên Chúa. Trước khi tự mặc khải cho con người bằng lời chân lý, Thiên Chúa đã tỏ mình qua ngôn ngữ phổ quát của công trình sáng tạo lao động, tác phẩm của Lời và Đức Khôn Ngoan của Người, qua trật tự và sự hài hòa của vũ trụ mà cả trẻ thơ lẫn nhà khoa học đều khám phá được (Kn 13,5) "vì các thụ tạo càng lớn lao đẹp đẽ thì càng giúp ta nhận ra Đấng Tạo Thành" (Kn 13, 3). "Vì chính Đấng Sáng Tạo mọi loài là tác giả của muôn vẻ đẹp" (Kn 13,3).
“Đức Khôn Ngoan tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố. Đức Khôn Ngoan phản chiếu Ánh Sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người" (Kn 7,25-26). "Đức Khôn Ngoan rực rỡ hơn mặt trời, trổi vượt muôn tinh tú, so với Đức Khôn Ngoan, ánh sáng còn kém xa, bởi trước màn đêm, ánh sáng đành phải lui bước, còn Đức Khôn Ngoan, chẳng gian tà nào thắng nổi" (Kn 7,29-30). "Vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan làm tôi say đắm" (Kn 8,2). [Back]
2501
"Được tạo dựng
giống hình ảnh Thiên Chúa" (St 1, 26), con người diễn tả chân lý về
tương quan của mình với Thiên Chúa Sáng Tạo bằng
vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật là một
hình thức diễn tả đặc trưng của con người,
vượt lên trên nhu cầu kiếm sống mà con người có
chung với các sinh vật khác. Nghệ thuật là sự
tràn đầy thoải mái của những nội tâm phong phú,
phát sinh từ một tài năng được Đấng Sáng Tạo phú
ban, và từ cố gắng của chính con người. Nghệ
thuật là một dạng thức khôn ngoan thực tiễn,
kết hợp trí thức với kỹ năng (Kn 7, 17) để tạo dáng cho chân lý của một
thực tại, bằng ngôn ngữ phù hợp với giác
quan. Nghệ thuật có phần giống như hoạt động
của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, bao lâu được
khởi hứng từ sự thật về vạn vật
và tình yêu đối với chúng. Như mọi hoạt động
khác của con người, nghệ thuật không tìm cứu
cánh tuyệt đối nơi chính mình, nhưng được định
hướng và trở nên cao quí nhờ cùng đích của con người. [Back]
2502
Nghệ thuật thánh sẽ chân thật và đẹp
đẽ, khi hình dạng thích ứng với chủ đích:
đó là nhắc nhở chúng ta dùng đức tin và tâm tình thờ
phượng để tôn vinh Thiên Chúa siêu việt, Đấng Tuyệt
Mỹ vô hình vì là chân lý và tình yêu,
đã xuất hiện trong Đức Ki-tô, "Người là phản
ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản
thể Thiên Chúa" (Dt 1,3), "Nơi Người tất
cả sự viên mãn của thần tính hiện diện
cách cụ thể" (Cl 2, 9). Vẻ đẹp thần
linh đã được phản chiếu nơi Đức Trinh Nữ Mẹ
Thiên Chúa, nơi các thiên thần và các thánh. Nghệ thuật thánh
đích thực đưa con người đến tâm tình thờ phượng,
cầu nguyện và yêu mến Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo
và Cứu Chuộc, Đấng Thánh Thiện và Thánh Hóa con người. [Back]
2503
Vì thế, chính các
giám mục, hoặc qua các đại diện, phải lưu tâm cổ
võ nghệ thuật thánh, dưới mọi dạng thức
cổ truyền cũng như hiện đại, thận trọng,
loại trừ khỏi phụng vụ và những nơi thờ
phượng những gì không thích hợp với chân
lý đức tin và cái đẹp đích thực của nghệ
thuật thánh. [Back]
Tóm
lược
"Ngươi
không được làm chứng gian hại người" (Xh 20,16). Các
môn đệ của Đức Ki-tô phải "mặc lấy con
người mới là con người được sáng tạo theo
hình ảnh Thiên Chúa để sống thật sự công
chính và thánh thiện" (Ep 4,24) [Back]
2505
Chân
lý hoặc chân thật là nhân đức giúp con người
thành thật trong hành vi và lời nói, không gian dối, giả
vờ và đạo đức giả. [Back]
2506
Người
Ki-tô hữu đừng hổ thẹn vì phải làm chứng
cho Chúa (2Tm 1,8) bằng lời nói cũng
như việc làm. Tử đạo là lời chứng cao quý
nhất về chân lý đức tin. [Back]
2507
Vì
phải tôn trọng thanh danh và danh dự của người
khác, chúng ta không được nói xấu hay vu khống ai bằng
thái độ hay bằng lời nói. [Back]
2508
Nói dối
là nói sai sự thật với ý định đánh lừa. [Back]
2509
Ai lỗi
phạm đến chân lý thì buộc phải đền
bù. [Back]
2510
Khuôn
vàng thước ngọc" giúp chúng ta nhận định trong những
trường hợp cụ thể xem có nên hay không nên tiết lộ
sự thật cho người muốn biết. [Back]
2511
Bí mật tòa giải tội là bất
khả vi phạm. Các bí mật nghề nghiệp
phải được giữ kín. Không được tiết lộ những
chuyện tâm sự có thể gây hại cho người khác. [Back]
2512
Xã
hội có quyền được biết những tin tức phổ
biến dựa trên chân lý, tự do và công bằng. Khi sử
dụng các phương tiện truyền thông xã hội, những
người tiếp nhận phải biết giữ điều độ
và kỷ luật. [Back]
2513
Mỹ
thuật và nhất là nghệ thuật thánh, tự bản
tính, nhằm diễn tả một cách nào đó, vẻ đẹp
vô biên của Thiên Chúa qua những tác phẩm nhân loại;
nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và
tôn vinh hơn, một khi những tác phẩm đó không nhằm chủ
đích nào khác ngoài sự tích cực góp phần hướng tâm trí
con người sốt sắng về cùng Chúa. [Back]
Điều răn thứ chín
"Ngươi không được ham muốn nhà người ta. Ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi nam tớ nữ, con bò, con lừa hay bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17) "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,28). [Back]
2515
Theo nguyên ngữ, dục
vọng có thể chỉ mọi hình thức thèm muốn
mãnh liệt của con người. Thần học Ki-tô
giáo dùng từ này với ý nghĩa đặc biệt là
cơn ham muốn của giác quan đi ngược với lý trí.
Thánh tông đồ Phao-lô đồng hóa nó với sự nổi loạn
của xác thịt chống lại tinh thần. Dục vọng
là hậu quả của tội đầu tiên, khi con người
không vâng phục Thiên Chúa. Dục vọng làm hỗn loạn
các năng lực luân lý con người. Dục vọng tự
nó không phải là một tội, nhưng nó hướng con người
đến chỗ phạm tội. [Back]
2516
Con người là một tổng hợp gồm tinh thần
và thể xác, nên trong con người đã sẵn có một
sự căng thẳng nào đó, một cuộc chiến đấu giữa
các khuynh hướng của tinh thần và của xác thịt.
Nhưng thật ra, cuộc chiến đó là di sản của tội
lỗi, vừa là hậu quả vừa là một bằng
chứng của tội. Đây là kinh nghiệm hằng ngày của
chúng ta về cuộc chiến thiêng liêng.
"Đối với thánh Tông Đồ, vấn đề không phải là khinh thường hay kết án thân xác, vì cùng với linh hồn thiêng liêng, thân xác tạo nên bản tính của con người và nhân cách của mỗi người. Trái lại thánh Tông Đồ nói đến những công việc, hay nói đúng hơn, về những khuynh hướng ổn định tốt hoặc xấu về mặt luân lý là nhân đức hay thói xấu - đây là kết quả của sự tùng phục (trong trường hợp thứ nhất) hoặc trái lại của sự chống đối (trong trường hợp thứ hai) tác động cứu độ của Chúa Thánh Thần. Vì thế, ngài viết: "Nếu chúng ta sống nhờ Chúa Thánh Thần thì hãy để Chúa Thánh Thần hướng dẫn đời ta." (Gl 5,25) [Back]
2517
Thanh luyện tâm hồn
Tâm hồn là trung tâm của nhân cách luân lý: "Từ trong lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình và tà dâm" (Mt 15,19). Muốn chiến đấu chống lại nhục dục chúng ta phải thanh luyện tâm hồn và sống tiết độ: "Hãy sống đơn sơ, trong trắng bạn sẽ nên như trẻ thơ không biết đến điều ác đang hủy hoại cuộc sống con người" (Hermas, mand.2,1). [Back]
2518
Trong mối phúc thứ sáu, Đức Giê-su dạy: "Phúc thay ai có lòng trong sạch ngay thẳng vì họ sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa" (Mt 5,8). Những người có lòng trong sạch ngay thẳng là những người biết dùng trí khôn và ý chí để sống thánh thiện như Thiên Chúa đòi hỏi, đặc biệt trong ba lãnh vực: sống bác ái, sống khiết tịnh nghĩa là sử dụng tính dục cách ngay chính, yêu mến chân lý và giữ đức tin chính truyền. Sự tinh tuyền trong tâm hồn, trong thân xác, và trong đức tin gắn liền với nhau. Người tín hữu phải tin các điều trong kinh Tin Kính; để nhờ tin, họ vâng phục Thiên Chúa; nhờ vâng phục, họ sống tốt lành; nhờ sống tốt lành, họ thanh luyện tâm hồn và nhờ thanh luyện tâm hồn họ hiểu điều mình tin. [Back]
2519
Thiên Chúa cho những người
có lòng trong sạch ngay thẳng được ngắm
nhìn Thiên Chúa tận mắt và trở nên giống Người.
Sự trong sạch của tâm lòng là điều kiện
tiên quyết để được thấy Thiên Chúa. Ngay từ bây
giờ, người có lòng trong sạch biết nhìn mọi
sự)theo cái nhìn của Thiên Chúa, biết đón nhận
tha nhân như người thân cận, biết nhận ra thân xác của
mình cũng như của người khác, là đền thờ của
Chúa Thánh Thần, là phản ánh của Thiên Chúa tuyệt mỹ. [Back]
Chiến đấu để sống trong sạch
Bí tích Thánh Tẩy thanh luyện chúng ta khỏi mọi tội lỗi. Nhưng người tín hữu còn phải tiếp tục chiến đấu chống lại nhục dục và những thèm muốn bất chính. Với ân sủng của Chúa, họ sẽ chiến thắng:
- Nhờ nhân đức và ơn khiết tịnh, vì đức khiết tịnh giúp họ biết yêu thương với tấm lòng ngay thẳng và không san sẻ.
- Nhờ ý hướng trong sạch luôn nhắm đến cứu cánh đích thực của con người, nghĩa là, với cái nhìn đơn sơ, họ lo tìm kiếm.
- Nhờ cái nhìn trong sáng, bên ngoài và trong lòng, nhờ kiểm soát được tình cảm và trí tưởng tượng, nhờ khước từ mọi vui thú trong những tư tưởng dâm ô lôi kéo ta lìa xa các giới răn của Chúa: "Thấy điều xấu, kẻ ngu si động lòng ham muốn" (Kn 15,5)
- Nhờ kinh nguyện.
Con cứ tưởng: tự sức mình có thể sống tiết dục được nhưng thực ra con đâu có sức. Con khờ dại nên không biết rằng nếu Chúa không ban ơn, không sống tiết dục được. Con chắc chắn Chúa sẽ ban, nếu con tha thiết kêu cầu và vững tin phó thác nơi Chúa. [Back]
2521
Người có tâm hồn
trong sạch biết giữ nết na. Đây là
một thành phần của đức tiết độ. Người
nết na biết giữ gìn những gì thầm
kín của con người, không phơi bày những gì phải
giữ kín. Nết na hướng về đức khiết tịnh
và diễn tả nét tinh tế của khiết tịnh. Người
nết na biết giữ cái nhìn và cử chỉ hợp
với phẩm giá của con người và của những
tương giao giữa con người với nhau. [Back]
2522
Sống nết na, chúng
ta bảo vệ được điều huyền nhiệm về
con người và tình yêu. Người nết na biết nhẫn
nại và điều độ trong quan hệ yêu đương, lo thực
hiện đầy đủ các điều kiện của sự dâng
hiến và dấn thân vĩnh viễn giữa người nam và
người nữ. Nết na chính là đoan trang. Người nết
na cẩn thận trong cách ăn mặc, biết im lặng hay
dè dặt tránh những tò mò thiếu lành mạnh.
Người nết na cũng là người kín đáo. [Back]
2523
Chúng ta phải giữ nết
na trong tình cảm cũng như thể xác. Chẳng hạn
người nết na chống lại việc phơi bày thân xác con
người để thỏa mãn thị dục trong quảng
cáo, hoặc chống lại việc khai thác bí mật đời
tư trên phương tiện truyền thông. Người nết na không chạy
theo những quyến rũ của thời trang và các trào lưu
tư tưởng thời thượng. [Back]
2524
Cách thức giữ nết
na thay đổi theo từng nền văn hóa. Tuy nhiên bất cứ
ở đâu, nết na vẫn là một linh cảm về phẩm
giá thiêng liêng đặc thù của con người. Nết na phát
sinh từ ý thức của con người về phẩm
giá của mình. Dạy cho trẻ em và thiếu niên nam nữ
biết giữ nết na là khơi dậy ý thức tôn trọng
nhân phẩm. [Back]
2525
Đức
thanh sạch ki-tô giáo đòi chúng ta góp phần thanh luyện
bầu khí xã hội, phải tôn trọng con người
và thận trọng khi sử dụng các phương tiện truyền
thông xã hội. Người có tâm hồn trong sạch được
giải thoát khỏi tệ nạn dâm ô đang lan tràn và tránh xa
những màn trình diễn nhằm thỏa mãn thị
dục và trí tưởng tượng không lành mạnh. [Back]
2526
Chủ
trương sống phóng túng phát xuất từ quan niệm sai lạc
về tự do. Muốn có tự do đích thực, điều
tiên quyết là con người phải được giáo dục; phải
dạy cho người trẻ biết tôn trọng sự thật,
các đức tính, phẩm giá luân lý và thiêng liêng của con
người. [Back]
2527
"Tin
Mừng của Đức Ki-tô không ngừng đổi mới cuộc
sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống
lại và khử trừ những sai lầm và tai họa do
sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi
luôn luôn đe dọa. Tin Mừng không ngừng thanh luyện và
nâng cao phong hóa các dân tộc. Những đức tính của mọi
thời như được Tin Mừng làm cho phong phú từ bên trong,
được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Đức
Ki-tô nhờ những ân huệ bởi Trời" (GS 58,4). [Back]
2528
Tóm lược
"Ai
nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong
lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,28).
2529
Điều
răn thứ chín dạy chúng ta đừng chiều theo những
ham muốn xác thịt hay nhục dục. [Back]
2530
Muốn
chiến đấu chống lại nhục dục, chúng ta phải
thanh luyện tâm hồn và sống tiết độ. [Back]
2531
Người
có lòng trong sạch ngay thẳng sẽ được ngắm
nhìn Thiên Chúa, ngay từ bây giờ, họ biết
nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa. [Back]
2532
Để
thanh luyện tâm hồn, chúng ta phải cầu nguyện, sống
khiết tịnh, có ý hướng và cái nhìn trong sáng. [Back]
2533
Người
có tâm hồn trong sạch, biết giữ nết na, nghĩa
là nhẫn nại, đoan trang và kín đáo. Người nết na biết
giữ kín những điều thầm kín của mình và của
người khác. [Back]
Điề răn thứ
mười
"Ngươi không được ham muốn... bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17). "Ngươi không được ước ao nhà cửa, đồng ruộng tôi tớ nam nữ, con bò, con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta" (Đnl 5,21). "Của cải anh ở đâu thì lòng anh ở đó" (Mt 6,21).
Điều răn thứ mười được tách ra và bổ túc điều răn thứ chín về lòng ham muốn nhục dục, điều răn thứ mười cấm tham của người. Lòng tham là nguồn gốc của trộm cắp, cướp đoạt và gian lận mà điều răn thứ bảy đã cấm. "thèm muốn của con mắt" (1Ga 2,16) đưa đến bạo lực và bất công mà điều răn thứ năm đã cấm. Tham lam cũng như tà dâm bắt nguồn từ việc sùng bái ngẫu tượng mà ba điều răn đầu đã cấm. Điều răn thứ mười nhắm vào ý hướng trong lòng, và cùng với điều răn thứ chín, tóm kết tất cả các giới răn trong luật Cựu Ước. [Back]
2535
Các ham muốn bất chính
Khi đói chúng ta thèm ăn, khi lạnh chúng ta mong được sưởi ấm, những ham muốn giác quan này thúc đẩy chúng ta tìm thỏa mãn. Những ham muốn này tự chúng là tốt, nhưng chúng ta thường không giữ mức độ hợp lý nên tham của người. [Back]
2536
Điều
răn thứ mười cấm ham
muốn và ước ao chiếm hữu thái quá của cải
thế trần, cấm tham lam vì ham mê của cải
và thế lực do của cải đem lại, điều răn này
còn cấm ước muốn làm điều bất công hại
đến tài sản người khác. Khi lề luật dạy: Chớ
tham của người, có nghĩa là đừng ham muốn những
gì không thuộc về mình. Vì lòng tham của
người không đáy, như sách giảng viên nói: "Người thích
tiền bạc có bao nhiêu cũng không lấy làm đủ" (Gv 5,9) [Back]
2537
Điều răn này không cấm chúng ta ước ao có được những gì của người khác, bằng những phương thế chính đáng. Huấn giáo cổ truyền cho thấy, trong thực tế, những người phải chiến đấu nhiều nhất để chống lại những ham muốn tội lỗi này và cần được nhắc nhở phải giữ điều răn này nhất: Đó là những nhà buôn bán mong hàng hóa khan hiếm và đắt đỏ, buồn phiền vì không được độc quyền để mặc sức mua rẻ bán đắt; những kẻ muốn người khác gặp hoạn nạn để thừa cơ thu lợi. Những thầy thuốc mong cho người ta bệnh tật, những luật gia mong cho có nhiều vụ kiện cáo quan trọng. [Back]
2538
Điều răn thứ mười dạy chúng ta không được ganh tị. Khi muốn khuyến giục vua Đa-vít hối lỗi, ngôn sứ Na-than đã thuật chuyện một người nghèo chỉ có một con chiên và thương yêu nó như con mình, và một người giàu tuy có vô số chiên cừu, nhưng tham lam và bắt con chiên của người nghèo. Tham lam và ganh tị có thể đưa tới những việc làm tệ hại nhất chính vì quỉ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian (Kn 2,24)
"Chúng ta đấm đá nhau, chỉ vì ganh tị ... nếu mọi người đều xâu xé nhau như vậy thì thân thể của Đức Ki-tô sẽ ra sao? Chúng ta đang làm tan nát thân thể của Đức Ki-tô ... chúng ta đang tự xưng là những chi thể của cùng một thân thể, vậy mà chúng ta lại cấu xé nhau như thú rừng.” (T. Gio-an Kim Khẩu hom. in 2 Cr 28, 3-4) [Back]
2539
Ganh tị là một trong bảy mối tội đầu. Người ganh tị buồn phiền khi thấy kẻ khác có của cải và ước ao chiếm đoạt. Nếu ai, vì ganh tị, muốn cho người khác gặp hoạn nạn nặng nề, thì mắc tội trọng: Thánh Âu-Tinh coi ganh tị là tội quỷ quái nhất. "Ganh tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành" (T.Ghê-gô-ri-ô Cả, 31,45). [Back]
2540
Kẻ ganh tị thường hay buồn bực nên thiếu đức bác ái, người tín hữu phải nhân hậu thay vì ganh tị. Ganh tị thường do kiêu ngạo, nên người tín hữu phải tập sống khiêm nhường. "Anh em không muốn Thiên Chúa được tôn vinh nơi anh em sao? Vậy, hãy vui mừng khi người khác thành công, lúc đó Thiên Chúa sẽ được tôn vinh nơi anh em. Mọi người sẽ nói rằng Thiên Chúa được ca ngợi vì tôi tớ của Người đã thắng được tính ganh tị khi biết vui mừng thấy người khác thành công (T. Gio-an Kim khẩu 7,3) [Back]
Ước muốn những điều hợp ý Chúa
Thánh Thần
Thiên Chúa ban lề luật và ân sủng để giúp con người thoát khỏi tính tham lam và ganh tị, khi dạy con người ước ao sự toàn thiện, biết ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh Thần, Đấng làm no thỏa lòng người. Thiên Chúa luôn nhắc nhở con người đề phòng sự quyến rũ của những thứ "ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quí vì làm cho mình được tinh khôn" (St 3,6) [Back]
2542
Luật
Cựu Ước không đủ sức công chính hóa những người
tuân giữ, mà còn đã trở thành công cụ cho dục
vọng. Thực tế, "lực bất tòng
tâm" (Rm 7,10) cho ta thấy xung đột giữa
một bên là luật của Thiên Chúa, "luật của
lý trí", một bên là một lề luật khác
"giam hãm tôi trong Luật của tội là luật vẫn
có trong các chi thể tôi" (Rm 7,23).
2543
"Ngày nay, sự công
chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần
đến luật Mô-sê. Điều này, sách Luật và các Ngôn sứ
làm chứng. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm
cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Tất
cả những ai tin đều được như thế" (Rm 3,21-22). Từ đó, những tín hữu của Đức
Ki-tô "đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá, cùng với
các dục vọng và đam mê" (Gl 5,24). Họ được Chúa Thánh Thần hướng dẫn
(Rm
8,14) và ước muốn những điều
hợp ý Chúa Thánh Thần (Rm 8,27). [Back]
2544
Tinh thần nghèo khó
Đức Giê-su dạy các môn đệ yêu mến Người trên tất cả mọi người, đồng thời mời gọi họ từ bỏ mọi sự (Lc 14,33) vì Người và vì Tin Mừng (Mc 8,35). Ít ngày trước khi chịu tử nạn, Người đã đề cao gương bà góa nghèo ở Giê-ru-sa-lem; trong hoàn cảnh nghèo túng, bà đã cho tất cả những gì để nuôi sống mình (Lc 21,4). Muốn vào Nước Trời không được ham mê của cải. [Back]
2545
Mọi tín hữu của
Đức Ki-tô "phải lưu ý điều khiển tâm
tình mình cho đúng đắn, để việc sử dụng
của cải trần gian và lòng quyến luyến sự
giàu sang nghịch với tinh thần khó nghèo của Tin Mừng,
không cản trở họ theo đuổi đức ái trọn hảo" (LG 42). [Back]
2546
"Phúc thay ai có tâm hồn
nghèo khó" (Mt 5,3). Các mối phúc cho chúng ta biết phải sống
thế nào để được hạnh phúc, ân sủng, tốt đẹp
và bình an. Đức Giê-su tán dương niềm vui của người
nghèo vì Nước Trời đã thuộc về họ (Lc 6,20).
Ngôi Lời gọi tinh thần nghèo khó là tinh thần của người tự nguyện sống khiêm nhường và từ bỏ. Thánh tông đồ Phao-lô trình bày gương khó nghèo của Thiên Chúa khi nói: "Người đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em" (2 Cr 8,9) [Back]
2547
Chúa khóc thương những người
giàu có vì họ tìm an ủi (Lc 6,24) nhờ của cải dư dật; "kẻ
kiêu căng tìm quyền lực thế trần, còn người
có tinh thần nghèo khó, tìm kiếm Nước Trời"
(T.
Âu-Tinh 1,1.3). Ai phó thác vào sự
quan phòng của Cha trên trời, được giải thoát khỏi
những âu lo về ngày mai (Mt 6,25-34). Ai tín thác vào Chúa sẽ được hưởng hạnh
phúc Chúa hứa ban cho người nghèo.
Họ sẽ được thấy hạnh phúc. [Back]
Tôi muốn thấy Thiên Chúa
Khi ao ước hạnh phúc
đích thực, con người được giải thoát khỏi mọi
ràng buộc bất chính với của cải trần thế,
để cuối cùng được chiêm ngắm nhan thánh Chúa và hưởng
hạnh phúc bên Người. Chúng ta được Thiên Chúa hứa cho
chiêm ngắm tôn nhan, đó là hạnh phúc lớn lao nhất. Theo
Thánh kinh, thấy cũng đồng nghĩa với được. Ai
thấy Thiên Chúa cũng được mọi điều phúc lộc
mà người ta có thể nghĩ tưởng ra được. [Back]
2549
Với
ơn Chúa trợ giúp, Dân Thánh còn phải chiến đấu để
đạt tới những điều phúc lộc Chúa hứa ban. Để
được thấy và ở với Thiên Chúa, Ki-tô hữu phải
chế ngự dục vọng, và nhờ ơn Chúa, chiến thắng
các quyến rũ của lạc thú và quyền lực. [Back]
2550
Trên đường hoàn thiện, Thần Khí và Tân Nương kêu gọi những ai biết lắng nghe, hãy hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa:
"Nơi đó mới có vinh quang đích thực. Nơi đó không ai được khen ngợi vì lầm lẫn hay nịnh bợ, vinh dự đích thực sẽ không trao lầm cho người bất xứng mà bỏ qua kẻ đáng công. Không kẻ bất xứng nào có thể bước vào nơi dành cho người xứng đáng. Nơi đây bình an đích thực sẽ ngự trị, vì không ai cảm thấy bất an với chính mình hay với người khác. Chính Thiên Chúa là phần thưởng cho người đức hạnh, Người là Đấng đã ban nhân đức và hứa ban chính mình làm phần thưởng lớn nhất và cao cả nhất ..."Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân riêng của Ta" (Lv 26,12). Đây cũng là ý nghĩa của lời thánh Phao-lô: "để Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài" (1Cr 15,28). Chúng ta chiêm ngắm Người vĩnh viễn, yêu mến vô tận, ca tụng khôn nguôi vì Người thỏa mãn mọi khát vọng của chúng ta. Hồng ân này, tình mến này, công việc này, cũng như chính đời sống vĩnh cửu được dành cho mọi người. [Back]
2551
Tóm
lược
Kho
tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó" (Mt 6, 21). [Back]
2552
Điều
răn thứ mười cấm tham lam do ham mê của cải và thế
lực đồng tiền. [Back]
2553
Ganh tị là buồn phiền vì
thấy kẻ khác giàu hơn mình và muốn chiếm đoạt.
Ganh tị là
một mối tội đầu. [Back]
2554
Muốn
thắng được tính ganh tị, người tín hữu phải
sống nhân hậu, khiêm nhường và phó thác vào Chúa quan
phòng. [Back]
2555
Người
Ki-tô hữu "đã đóng đinh tính xác thịt vào thập
giá cùng với các dục vọng và đam mê" (Gl 5, 24). Họ
được Thánh Thần hướng dẫn và tuân theo ý muốn
của Người. [Back]
2556
Để được vào Nước Trời, con
người phải dứt bỏ lòng quyến luyến của
cải. "Phúc
thay ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt 5, 3). [Back]
2557
Khát
vọng đích thực của con người: "Tôi muốn thấy
Thiên Chúa". Chỉ có "mạch nước mang lại sự
sống đời đời" mới thỏa mãn được
khát vọng này (Ga 4,14). [Back]
Việc cầu nguyện Kitô giáo
Kinh nguyện trong đời sống Kitô hữu
Mầu nhiệm đức tin thật là cao cả. Hội Thánh tuyên xưng mầu nhiệm đức tin trong kinh Tin Kính và cử hành trong phụng vụ bí tích để đời sống người Ki-tô hữu nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô trong Chúa Thánh Thần nhằm tôn vinh Thiên Chúa Cha. Người tín hữu phải tin, cử hành và sống mầu nhiệm đức tin trong tương quan sống động và thân tình với Thiên Chúa hằng sống và chân thật. Cầu nguyện giúp người tín hữu sống tương quan này. [Back]
2559
Cầu
nguyện là gì?
"Đối với tôi, cầu nguyện là sự hứng khởi của tâm hồn, là cái nhìn đơn sơ hướng về trời, là lời kinh tri ân và yêu mến giữa cơn thử thách cũng như lúc hân hoan. (T. Tê-rê-xa Hài đồng, tự truyện)
Cầu nguyện như hồng ân của Thiên Chúa
Cầu nguyện là nâng
tâm hồn lên Chúa hay cầu xin Người ban cho những ơn cần
thiết. Khi cầu nguyện, chúng ta bắt đầu với
tâm tình nào? Với lòng kiêu hãnh và ý riêng
ta, hay với tâm tình khiêm nhường và thống hối
thẳm sâu (Tv130,14) Ai hạ
mình xuống sẽ được tôn lên. Khiêm nhường là tâm tình căn bản
của cầu nguyện, "vì chúng ta không biết cầu
nguyện thế nào cho phải" (Rm 8,26). Khiêm nhường là tâm tình phải có để
đón nhận được ơn cầu nguyện: trước mặt
Thiên Chúa, con người chỉ là kẻ van xin. [Back]
2560
"Nếu chị nhận
ra ân huệ Thiên Chúa ban!" (Ga 4,10). Bên bờ giếng, nơi chúng ta đến
tìm nước, Đức Ki-tô đến gặp từng người
và cho thấy điều kỳ diệu của cầu nguyện.
Đức Ki-tô tìm chúng ta, trước khi chúng ta tìm Người;
và Người xin: "cho tôi chút nước uống".
Đức Giê-su khát; lời Người xin phát xuất từ nỗi
khát khao sâu thẳm Thiên Chúa dành cho chúng ta. Dù ta biết hay
không, kinh nguyện vẫn là nơi gặp gỡ giữa Thiên
Chúa và con người, cả hai cùng đang khát. Thiên Chúa khát mong
chúng ta khao khát Người. [Back]
2561
"...
Hẳn chị đã xin và Người đã ban cho chị nước
trường sinh" (Ga 4,10). Hóa ra, lời khẩn
cầu của chúng ta lại chính là câu trả lời: đáp lại
tiếng than trách của Thiên Chúa hằng sống "chúng
đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh để làm
những hồ nứt rạn" (Gr 2,13),
tin tưởng đáp lại lời Thiên Chúa tự ý hứa
ban ơn cứu độ, yêu mến đáp lại lòng khao khát của
Con Một Thiên Chúa. [Back]
2562
Cầu nguyện là
giao ước
Kinh nguyện của con người
phát xuất từ đâu? Thưa từ chính con người toàn diện
đang cầu nguyện, dù bằng lời hay cử điệu.
Trong Thánh Kinh, có đôi chỗ nói kinh nguyện phát xuất từ
linh hồn hay tinh thần , nhưng thường cho rằng từ
trái tim. Chúng ta cầu nguyện với cả tấm lòng. Nếu lòng ta xa cách Thiên Chúa
thì cầu nguyện cũng vô ích. [Back]
2563
Theo
cách nói Híp-ri hay Thánh Kinh, trái tim là trung tâm hiện hữu của
con người. Trái tim là nơi thầm kín của riêng ta; lý
trí hay người ngoài không dò thấu được; chỉ có
Thánh Thần Thiên Chúa mới có thể thăm dò và thấu
suốt được. Vượt trên mọi khuynh hướng tâm
lý, trái tim vẫn là nơi quyết định. Trái tim là nơi
con người chân thật với mình nhất, để chọn
lựa sự sống hay sự chết. Đó cũng là nơi gặp
gỡ để sống các mối tương giao, vì chúng ta được
dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Trái tim là nơi sống
giao ước. [Back]
2564
Khi cầu nguyện, người
Ki-tô hữu sống tương quan giao ước với Thiên Chúa trong
Đức Ki-tô. Kinh nguyện vừa là hoạt động của
Thiên Chúa vừa của con người, phát xuất từ Chúa
Thánh Thần và từ con người. Kinh nguyện hoàn toàn hướng
về Chúa Cha, nhờ hiệp nhất với ý chí nhân
trần của Con Thiên Chúa làm người. [Back]
2565
Cầu nguyện là hiệp thông
Trong Giao Ước Mới, khi cầu nguyện, người tín hữu sống tương quan sinh động của con cái Thiên Chúa với Người Cha nhân lành vô cùng của mình, với Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô và với Chúa Thánh Thần. Hồng ân Nước Trời là sự kết hợp của Ba Ngôi Chí Thánh với toàn thể tâm linh con người. Sống đời cầu nguyện là luôn hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa Chí Thánh và hiệp thông với Người. Sự hiệp thông đời sống này lúc nào cũng có thể thực hiện được, vì chính nhờ bí tích Thánh Tẩy chúng ta đã được nên một với Đức Ki-tô. Lời cầu nguyện mang đặc tính Ki-tô giáo khi được hiệp thông với lời nguyện của Chúa Ki-tô và được triển khai trong Hội Thánh là Thân Thể Người. Cầu nguyện có cùng kích thước như tình yêu Chúa Ki-tô (Eph 3,18-21). [Back]
Mặc khải về cầu nguyện
Mọi người được mời gọi cầu nguyện
Con người đi tìm Thiên Chúa. Khi sáng tạo, Thiên Chúa kêu gọi vạn vật từ hư vô bước vào hiện hữu "Được ban vinh quang vinh dự làm mũ triều thiên" (x. Tv 8,6), con người có khả năng nhận biết Danh Chúa lẫy lừng trên khắp địa cầu như trước đó Thiên Chúa đã ban khả năng cho các thiên thần. Ngay cả khi đã đánh mất nét giống Thiên Chúa vì phạm tội, con người vẫn còn mang hình ảnh của Đấng Sáng Tạo, vẫn hướng về Đấng dựng nên mình. Mọi tôn giáo đều nói lên khát vọng tìm kiếm căn bản này của con người. [Back]
2567
Thiên Chúa kêu gọi con người trước. Dù con người quên
lãng Đấng Sáng Tạo hay trốn xa Nhan Người, dù họ
chạy theo các ngẫu tượng hay than trách Thiên Chúa đã
bỏ rơi mình, Thiên Chúa hằng sống và chân thật vẫn
không ngừng kêu gọi mọi người đến gặp Người
cách huyền nhiệm trong cầu nguyện. Trong cầu nguyện,
Thiên Chúa trung tín và yêu thương luôn đi bước trước; phần
con người luôn chỉ là đáp lời. Khi Thiên Chúa từng bước
tỏ mình ra và mặc khải cho con người biết
về chính họ, thì cầu nguyện như là một cuộc
trao đổi lời mời, một diễn tiến giao ước.
Qua lời nói và hành vi, diễn tiến này là cam kết của
con tim. Diễn tiến này đã diễn ra trong suốt lịch
sử cứu độ. [Back]
2568
Trong Cựu Ước
Trong Cựu Ước chúng ta gặp được mặc khải về cầu nguyện giữa biến cố con người sa ngã và được nâng dậy, giữa tiếng gọi đau thương của Thiên Chúa nói với các đứa con đầu tiên của Người: "Ngươi đang ở đâu?...Ngươi đang làm gì?" (St 3,9-13), và lời đáp trả của Người Con Một khi vào trần gian: "Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài" (Dt 10, 5-7). Như thế, cầu nguyện được gắn liền với lịch sử loài người, và là tương quan giữa con người với Thiên Chúa trong các biến cố lịch sử. [Back]
2569
Con người nhờ thụ tạo để cầu nguyện
Trước hết, việc cầu nguyện khởi đi từ các thụ tạo. Chín chương đầu của sách Sáng Thế mô tả việc cầu nguyện dưới hình thức lễ vật của A-ben "dâng cho Chúa những con đầu lòng của bầy chiên" (St 4,4); Ê-nóc kêu cầu Danh Đức Chúa và đi với Thiên Chúa. Lễ dâng của Nô-e đẹp lòng Thiên Chúa và Thiên Chúa chúc phúc cho ông; qua ông, Thiên Chúa chúc phúc cho toàn thể vạn vật, vì tâm hồn ông ngay chính và vẹn toàn: "Ông đi với Thiên Chúa" (St 6,9). Biết bao người công chính trong các tôn giáo đã từng cầu nguyện như vậy. Trong giao ước bất diệt với mọi sinh linh, Thiên Chúa luôn mời gọi con người cầu nguyện. Nhưng đặc biệt từ tổ phụ Áp-ra-ham, cầu nguyện mới thực sự được mặc khải trong Cựu Ước. [Back]
2570
Thiên Chúa hứa và con người tin tưởng cầu nguyện
Ngay khi được Thiên Chúa kêu gọi, "Áp-ra-ham ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông" (St 12,4). Tâm hồn ông luôn vâng phục Lời Chúa. Cầu nguyện thiết yếu là lắng nghe Lời Chúa và quyết định theo ý Người; các lời kinh phải giúp con người sống thái độ ấy. Thoạt đầu, Áp-ra-ham cầu nguyện bằng hành động: là con người thầm lặng, mỗi chặng dừng chân ông dựng một bàn thờ kính Chúa. Mãi về sau, ông mới cầu nguyện bằng lời: một lời than thở kín đáo nhắc Chúa nhớ đến lời hứa chưa được thực hiện (St 15,2-3). Như thế, một trong những khía cạnh đặc biệt của cầu nguyện là con người bị thử thách về lòng tin vào Thiên Chúa trung tín. [Back]
2571
Vì
Áp-ra-ham tin vào Thiên Chúa, bước đi trước tôn nhan Người và
ký kết giao ước với Người; tổ phụ
đã sẵn lòng đón mời Vị Khách huyền bí vào
lều trại của mình. Lòng hiếu khách đặc
biệt của tổ phụ tại Mam-rê đã mở đường
cho Thiên Chúa loan báo ban Người Con đích thực của lời
hứa. Từ khi Thiên Chúa ký thác ý định của
Người cho Áp-ra-ham, tâm hồn tổ phụ hòa theo
lòng thương xót của Chúa đối với loài người và tổ
phụ đã dám mạnh dạn cầu nguyện cho họ. [Back]
2572
Trong
cuộc thanh luyện cuối cùng về đức tin, Thiên Chúa
đã đòi Áp-ra-ham, "người đã nhận được
lời hứa" (Dt 10,17), phải sát tế đứa
con mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Áp-ra-ham vẫn vững tin:
"Chính Thiên Chúa sẽ lo liệu chiên làm lễ toàn
thiêu" (St 22,8), vì nghĩ rằng
Thiên Chúa có quyền năng làm cho người chết sống lại
(Dt 11,19). Như thế, vị tổ phụ
của các tín hữu đã xử sự giống như Chúa
Cha, Đấng "chẳng tha chính Người Con Một, nhưng
đã trao nộp vì hết thảy chúng ta" (Rm 8,32). Nhờ cầu nguyện, con người lại
trở nên giống Thiên Chúa và được tham dự vào quyền
năng của tình yêu Thiên Chúa là quyền năng có sức cứu
độ muôn người. [Back]
2573
Thiên Chúa đã nhắc lại
lời hứa với Gia-cóp, tổ phụ của mười
hai chi tộc Ít-ra-en. Trước khi đối phó với anh là
Ê-sau, Gia-cóp đã vật lộn suốt đêm với một
người huyền bí, người này không chịu nói tên nhưng
đã chúc phúc cho Gia-cóp trước khi bỏ đi lúc bình
minh. Truyền thống linh đạo của Hội thánh, qua
câu chuyện này, xem biểu tượng của cầu nguyện
như một cuộc chiến đức tin và chiến thắng
dành cho người kiên trì. [Back]
2574
Mô-sê và lời cầu nguyện của vị trung gian
Khi
Thiên Chúa bắt đầu thực hiện lời hứa với
các tổ phụ cuộc Vượt Qua, Xuất Hành, ban Lề
Luật, ký Giao Ước, lời cầu nguyện của
Mô-sê là hình ảnh nổi bật của lời cầu
nguyện chuyển cầu sẽ được hoàn thành trong Đấng
Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Đức
Giê-su Ki-tô (1Tm 2, 5). [Back]
2575
Ở đây cũng thế,
Thiên Chúa đã đi bước trước. Người gọi Mô-sê từ
giữa Bụi Gai đang cháy (Xh 3,1-10). Biến cố này sẽ là một trong những
hình ảnh hàng đầu về cầu nguyện trong truyền
thống linh đạo Do Thái và Ki-tô giáo. Thực vậy,
"Thiên Chúa của Áp-ra-ham, của I-xa-ác và của
Gia-cóp" kêu gọi tôi tớ Người là Mô-sê, vì Người
là Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng muốn cho con người
được sống. Người tỏ mình ra để cứu họ,
tuy nhiên, Người không muốn hành động một mình
hoặc bất chấp ý kiến con người. Vì
thế, Người gọi Mô-sê để sai ông đi, để ông cộng
tác với Thiên Chúa trong việc thương xót và cứu độ . Để
sai ông đi, gần như Thiên Chúa phải năn nỉ con người;
và sau một hồi tranh luận, Mô-sê mới thuận theo
ý của Thiên Chúa Cứu Độ. Trong cuộc đối
thoại này, Thiên Chúa tỏ lòng tín nhiệm Mô-sê,
còn ông học biết cầu nguyện: ông thoái thác, thắc
mắc, và nhất là đòi hỏi. Để đáp ứng yêu cầu
của ông, Thiên Chúa đã cho ông biết Danh Thánh, Danh sẽ
được mặc khải qua các kỳ công trong lịch sử. [Back]
2576
"ĐỨC
CHÚA đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt, như hai người
bạn với nhau" (Xh 33,11). Cách cầu nguyện
của Mô-sê là khuôn mẫu của việc cầu nguyện
chiêm niệm; nhờ đó, người tôi tớ Thiên Chúa trung thành
với sức mạnh của mình. Ông Mô-sê nói chuyện
thường xuyên và lâu giờ với Chúa: ông lên núi để lắng
nghe và cầu khẩn Người, sau đó ông xuống với dân
để nói lại cho họ những lời của Thiên Chúa
và hướng dẫn họ. "Nhưng với Mô-sê tôi tớ Ta:
tất cả nhà Ta, Ta đã trao cho nó. Ta nói với nó trực
diện, nhãn tiền" (Ds 12,
7-8), vì
"Mô-sê là người hiền lành khiêm tốn nhất đời"
(Ds 12,3). [Back]
2577
Nhờ
sống thân mật với Thiên Chúa thành tín, chậm bất
bình và giàu lòng thương xót, Mô-sê đã tìm được
sức mạnh để kiên trì chuyển cầu cho dân.
Ông không cầu xin cho mình nhưng cho dân Thiên Chúa đã cứu
chuộc. Mô-sê đã chuyển cầu cho dân khi họ chiến
đấu với quân A-ma-léc, đã cầu xin cho Mi-ri-am được
khỏi bệnh. Đặc biệt, khi dân phạm tội phản
nghịch cùng Thiên Chúa, Chúa tính chuyện sẽ tiêu diệt họ,
nếu người Chúa chọn là Mô-sê chẳng đem thân cản lối
ở ngay trước mặt Người, hầu ngăn cơn thịnh
nộ (Tv 106, 23). Các lý lẽ của ông
(chuyển cầu cũng là một cuộc chiến huyền
nhiệm) sẽ gợi hứng cho cách cầu nguyện táo
bạo của bao nhiêu tâm hồn trong dân Do Thái cũng như
trong Hội Thánh: Thiên Chúa là tình yêu, nên Người công
bình và thành tín; Người không thể mâu thuẫn với
chính mình, nên Người sẽ nhớ lại bao việc
lạ lùng đã làm; vì vinh quang của Người, Người
sẽ không thể bỏ rơi dân tộc mang danh Người. [Back]
2578
Đa-vít và lời cầu nguyện của vị vua
Kinh nguyện của Dân Chúa sẽ triển nở dưới bóng nhà Chúa: Lúc đầu là khám giao ước và sau này là Đền Thờ. Những người lãnh đạo (các mục tử và các ngôn sứ) là những người đầu tiên sẽ dạy cho dân biết cầu nguyện. Cậu bé Sa-mu-en học được nơi bà mẹ An-na cách ở trước nhan Đức Chúa (1 Sm 1,9-17), và nơi tư tế Ê-li cách lắng nghe Lời Chúa: "Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe" (1 Sm 3,9-10). Sau này, chính Sa-mu-en cũng biết đến gánh nặng và giá phải trả cho lời chuyển cầu: "Phần tôi, không đời nào tôi phạm tội nghịch cùng Đức Chúa, là thôi cầu nguyện cho anh em và dạy anh em biết đường ngay nẻo chính" (1 Sm 12, 23). [Back]
2579
Đa-vít
là vị vua đẹp lòng Thiên Chúa hơn hết, vị mục
tử cầu nguyện cho dân mình và nhân danh toàn dân.
Lòng vâng phục thánh ý Thiên Chúa, lời ca ngợi
và tâm tình sám hối của Đa-vít sẽ trở thành
gương mẫu cho sự cầu nguyện của dân chúng. Là người
được Thiên Chúa xức dầu, kinh nguyện của vua là
tâm tình gắn bó trung tín vào lời Thiên Chúa hứa, là
lòng tín thác đầy yêu mến và hân hoan trong Đấng là Đức
Vua và Đức Chúa duy nhất. Qua các Thánh Vịnh, chúng ta thấy
Đa-vít được Thánh Thần linh ứng và đã trở thành
vị ngôn sứ hàng đầu của truyền thống cầu
nguyện Do Thái và Ki-tô giáo. Kinh nguyện của Đức
Ki-tô, Đấng Mê-si-a đích thực, Con Đa-vít sẽ mặc khải
và hoàn thành ý nghĩa của kinh nguyện này. [Back]
2580
Đền
Thờ Giê-ru-sa-lem, ngôi nhà cầu nguyện Đa-vít định xây
dựng, sẽ được con vua là Sa-lô-mon thực hiện. Lời
nguyện Cung Hiến Đền Thờ dựa trên Lời Hứa
và Giao Ước của Thiên Chúa, trên sự hiện diện đầy
uy lực của Danh Thánh giữa Dân Người và nhắc lại
những kỳ công Thiên Chúa thực hiện thời Xuất
Hành. Nhà vua dang tay và khẩn cầu Đức Chúa cho chính
mình, cho toàn dân, cho các thế hệ tương lai, xin Người
tha thứ tội lỗi và ban cho họ những gì cần
thiết hằng ngày, để muôn dân nhận biết Người
là Thiên Chúa duy nhất và Dân Chúa hết lòng kính mến
Người. [Back]
2581
Ê-li-a, các ngôn sứ và việc hoán cải tâm hồn
Đối với Dân Chúa, Đền Thờ phải là nơi dạy cho họ biết cầu nguyện: các cuộc hành hương, các lễ hội, hy tế, lễ dâng ban chiều, dâng hương, bánh trưng hiến. Tất cả là những dấu chỉ về Thiên Chúa thánh thiêng và vinh quang, rất cao sang nhưng thật gần gũi với họ; đồng thời là những lời mời gọi và những con đường dẫn đến cầu nguyện. Nhưng thái độ quá chuộng nghi lễ thường dẫn dân chúng đến một cách thờ phượng quá bề ngoài. Do đó, Dân Chúa cần được giáo dục đức tin và hoán cải tâm hồn. Đây là sứ mạng của các ngôn sứ trước và sau thời lưu đày. [Back]
2582
Ê-li-a
là tổ phu của các ngôn sứ, là dòng dõi những
kẻ kiếm tìm Người, tìm Thánh nhan Thiên Chúa
nhà Gia-cóp. Danh xưng Ê-li-a có nghĩa Đức Chúa là Thiên Chúa của
tôi, tiên báo tiếng hô của dân đáp lại lời cầu
nguyện của Ê-li-a trên núi Các-men. Thánh tông đồ Gia-cô-bê
nhắc đến gương Ê-li-a để thúc giục chúng ta cầu
nguyện: "Lời cầu xin tha thiết của người
công chính rất có hiệu lực" (Gcb 5,16b-18). [Back]
2583
Sau khi học biết xót thương lúc ẩn tích tại suối Kê-rít, Ê-li-a dạy cho bà góa làng Sa-rép-ta biết tin vào lời Thiên Chúa và củng cố đức tin của bà khi khẩn nguyện xin Thiên Chúa cho con trai bà sống lại; và Người đã nhậm lời (1V 17,7-24).
Cuộc tế lễ trên núi Các-men là thử thách quyết định niềm tin của Dân Thiên Chúa. Theo lời khẩn cầu của Ê-li-a: "xin đáp lời con, lạy Chúa xin đáp lời con", Thiên Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu hủy lễ toàn thiêu, "vào giờ người ta hiến dâng của lễ ban chiều". Các nghi lễ phụng tự Đông Phương dùng lời khẩn cầu này trong "lời nguyện xin ban Thánh Thần" của thánh lễ (1 V 18,20-39).
Sau cùng, Ê-li-a trở lại hoang mạc, đến nơi Thiên Chúa hằng sống và chân thật đã tỏ mình ra cho Dân Người, để ẩn mình trong hốc đá như Mô-sê ngày xưa, cho tới khi Nhan Thánh nhiệm mầu của Thiên Chúa đi qua. Nhưng chỉ trên núi Hiển Dung, Tôn Nhan của Đấng các ngài luôn tìm kiếm mới được tỏ lộ "Ánh sáng chiếu soi lòng trí ta nhận biết Vinh Quang Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô" (2 Cr 4,6), Đấng đã chịu đóng đinh và đã sống lại. [Back]
2584
Trong những lúc một
mình trước Tôn Nhan Thiên Chúa, các ngôn sứ tìm được
ánh sáng và sức mạnh để thực hiện sứ mạng.
Khi cầu nguyện, các ngài không chạy trốn thế giới
bất trung nhưng lắng nghe Lời Thiên Chúa; đôi khi các ngài
tranh luận hay than thở với Chúa, nhưng luôn chuyển cầu
cho Dân, trong khi chờ đợi và chuẩn bị cho Thiên Chúa Cứu
Độ, can thiệp vào (Am 7, 2.5) [Back]
2585
Các Thánh Vịnh, lời cầu nguyện của cộng đoàn
Từ thời Vua Đa-vít cho đến khi Đấng Mê-si-a tới, những bản văn cầu nguyện trong Sách Thánh chứng tỏ lời cầu nguyện cho chính mình và cho tha nhân ngày càng sâu sắc hơn. Dần dần các Thánh Vịnh được thâu tập thành một bộ năm cuốn: đó là sách Thánh Vịnh (hay những bài ca ngợi), tuyệt tác cầu nguyện trong Cựu Ước. [Back]
2586
Các
Thánh Vịnh nuôi dưỡng và diễn tả tâm tình cầu
nguyện của Dân Chúa là cộng đoàn, qui tụ vào các dịp
đại lễ tại Giê-ru-sa-lem và mỗi ngày sa-bát trong các hội
đường. Kinh nguyện này vừa có tính cá nhân vừa có tính
cộng đoàn, vừa liên hệ với những người đang
cầu nguyện vừa liên hệ đến toàn thể mọi
người. Các Thánh Vịnh vang lên từ Thánh Địa và các cộng
đoàn Do Thái tản mác khắp nơi nhưng lại bao trùm toàn thể
thụ tạo; nhắc lại các biến cố cứu độ
trong quá khứ và vươn đến ngày hoàn tất lịch sử;
nhắc nhớ Thiên Chúa đã thực hiện những lời
hứa thế nào, đồng thời chờ đợi Đấng
Mê-si-a đến hoàn tất trọn vẹn. Được Đức
Ki-tô sử dụng để cầu nguyện và kiện toàn,
các Thánh Vịnh luôn luôn chiếm vị trí thiết yếu đối
với kinh nguyện của Hội Thánh. [Back]
2587
Tập
Thánh Vịnh là cuốn sách đặc biệt: Lời Chúa trở
thành lời cầu nguyện của con người. Trong các
sách khác của bộ Cựu Ước, các lời công bố
những việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử
cứu độ và giúp khám phá mầu nhiệm chứa đựng
trong các biến cố đó. Còn các lời Thánh Vịnh vừa
diễn tả vừa ca tụng những công trình cứu
độ của Thiên Chúa. Cùng một Thánh Thần đã tạo
nên công trình của Thiên Chúa và lời đáp trả của
con người. Đức Ki-tô sẽ hiệp nhất cả hai
thành một. Trong Người, các Thánh Vịnh không ngừng dạy
ta cầu nguyện. [Back]
2588
Những lời cầu
nguyện đa dạng của tập Thánh Vịnh được
hình thành từ phụng tự Đền Thờ, cũng
như từ trái tim con người. Dù là những thánh thi, lời
kêu cầu trong cơn nguy khốn hay bài ca tạ ơn, lời khẩn
cầu cá nhân hay cộng đoàn, bài ca cung đình và khúc hát hành
hương, hoặc bài suy niệm giáo huấn, các Thánh Vịnh luôn
là tấm gương phản chiếu những kỳ công Thiên Chúa
đã thực hiện trong lịch sử Dân Người và những
hoàn cảnh nhân sinh tác giả đã trải qua. Dù một
Thánh Vịnh có thể phản ánh một biến cố
đã qua, nhưng vẫn bình dị đến nỗi con người
mọi thời, mọi hoàn cảnh, đều có thể dùng để
cầu nguyện. [Back]
2589
Qua các Thánh Vịnh, chúng
ta gặp thấy những đặc điểm: lời cầu
nguyện đơn sơ và tự phát, lòng khao khát Thiên Chúa qua và với
tất cả những gì tốt đẹp trong vũ trụ,
hoàn cảnh khó khăn của người tín hữu muốn yêu mến
Thiên Chúa trên hết mọi sự nhưng phải đối diện
với bao thử thách và địch thù nhưng vẫn chờ đợi
Thiên Chúa trung tín ra tay hành động, lòng xác tín vào
tình yêu Thiên Chúa và phó thác theo thánh ý Người. Lời
cầu nguyện trong tập Thánh Vịnh luôn sinh động nhờ
tâm tình ca ngợi nên tập sách này có một tên gọi
rất thích hợp với nội dung: Những bài ca ngợi.
Được sưu tập để dùng trong phụng vụ của Cộng
đoàn, các Thánh Vịnh vang lên lời mời gọi cầu
nguyện đồng thời hát lên lời đáp: Halleluia, hãy ngợi khen Chúa.
"Còn gì tốt đẹp hơn một Thánh vịnh?
Bởi vậy vua Đa-vít đã nói rất đúng rằng:
Hãy ngợi khen Chúa vì Thánh Vịnh thật tuyệt
vời: hãy dâng lời ngợi khen êm dịu và hân hoan
lên Thiên Chúa chúng ta. Đúng thế, Thánh Vịnh là lời chúc tụng
trên môi Dân Chúa, là lời cộng đoàn ngợi khen Thiên Chúa, lời
tung hô của muôn người, lời của muôn loài, tiếng
nói của Hội Thánh, lời tuyên xưng đức tin đầy
giai điệu..." (T.Am-rô-xi-ô, Luận về Thánh vịnh 1,9).
[Back]
2590
Tóm
lược
Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên
Chúa hay cầu xin Người ban cho những ơn cần thiết (T. Gio-an Đa-mát-xa)
2591
Thiên
Chúa không ngừng kêu gọi mỗi người đến gặp
Người cách huyền nhiệm trong cầu nguyện. Suốt
dòng lịch sử cứu độ, chúng ta thấy cầu
nguyện như lời Thiên Chúa và con người mời gọi
nhau. [Back]
2592
Thánh
Kinh trình bày việc Áp-ra-ham và Gia-cóp cầu nguyện
như một cuộc chiến đức tin để giữ
lòng tín thác vào Thiên Chúa trung thành và xác tín rằng Người
sẽ ban chiến thắng cho kẻ kiên trì. [Back]
2593
Lời
nguyện của Mô-sê đáp lại sáng kiến của Thiên Chúa
hằng sống muốn cứu độ Dân Người. Đây là
hình ảnh báo trước lời chuyển cầu của
Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô. [Back]
2594
Nhờ
các vị mục tử, đặt biệt là vua Đa-vít, và các
ngôn sứ hướng dẫn, kinh nguyện của Dân Chúa được
triển nở dưới bóng nhà Chúa, lúc đầu là Khám Giao ước
và sau này là Đền Thờ. [Back]
2595
Các
ngôn sứ kêu gọi dân chúng hoán cải tâm hồn. Như Ê-li-a,
trong khi nhiệt thành tìm kiếm thánh nhan Thiên Chúa, các
ngài vẫn chuyển cầu cho toàn dân. [Back]
2596
Các
Thánh Vịnh là tuyệt tác về cầu nguyện trong Cựu
Ước, vừa có tính cá nhân vừa có tính cộng đoàn. Các
Thánh Vịnh bao trùm mọi chiều kích của lịch sử:
nhắc nhớ Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa
như thế nào và nói lên niềm hy vọng vào Đấng Mê-si-a sẽ
ngự đến. [Back]
2597
Được
Đức Ki-tô sử dụng để cầu nguyện và kiện
toàn, các Thánh Vịnh là một thành phần thiết yếu
và luôn có mặt trong kinh nguyện của Hội Thánh Người.
Các Thánh Vịnh có thể dùng làm lời cầu nguyện cho
con người mọi thời, mọi hoàn cảnh. [Back]
Khi thời gian đã viên mãn
Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta đã mặc khải trọn vẹn về cầu nguyện. Khi tìm hiểu Chúa Giê-su cầu nguyện qua những gì các nhân chứng kể lại trong Tin Mừng, chúng ta được đến gần Chúa Giê-su Cực Thánh như Mô-sê đến gần Bụi Gai Rực Cháy: trước tiên chúng ta cùng chiêm ngưỡng Người cầu nguyện, rồi lắng nghe Người dạy ta cầu nguyện, và sau cùng, để nhận biết cách Người nhận lời cầu nguyện của chúng ta. [Back]
2599
Đức Giê-su cầu nguyện
Con Một
Thiên Chúa, một khi trở thành Con Đức Trinh Nữ,
đã học cầu nguyện theo tâm tình nhân loại,
Đức Giê-su đã học những công thức cầu nguyện
nơi Mẹ là người hằng ghi nhớ và luôn suy niệm
trong lòng về "những điều cao cả” Đấng
Toàn Năng đã thực hiện (Lc 1,49; 2,19; 2,51). Người đã học từ những lời kinh và những
cách thức cầu nguyện của dân tộc, tại hội
đường Na-da-rét và tại Đền Thờ. Nhưng kinh nguyện
của Người còn phát xuất từ một nguồn
mạch bí ẩn khác, như Người đã hé mở cho thấy
lúc Người lên mười hai tuổi: "Con có bổn phận
ở nhà Cha của con" (Lc 2,49). Từ đây chúng ta được
biết nét mới mẻ của kinh nguyện trong thời
kỳ viên mãn: là lời
cầu của Người Con, lời kinh mà Chúa Cha hằng
mong đợi nơi con cái mình, và sau cùng được chính Người
Con Một duy nhất thể hiện trong nhân tính với con
người và cho mọi người. [Back]
2600
Tin
Mừng theo thánh Lu-ca nhấn mạnh tác động của
Thánh Thần và ý nghĩa cầu nguyện trong thừa
tác vụ của Đức Ki-tô. Đức Giê-su cầu nguyện
trước những thời điểm quyết định của
sứ vụ trước khi Chúa Cha làm chứng về Người
lúc Người chịu phép rửa và Hiển Dung; trước khi
hoàn thành ý định yêu thương của Chúa Cha nhờ cuộc
khổ nạn. Người cũng cầu nguyện trước
những thời điểm quyết định đối với sứ
vụ của các tông đồ : trước khi chọn và gọi
nhóm Mười Hai; trước khi Phê-rô tuyên xưng Người là Đức
Ki-tô của Thiên Chúa; và cầu nguyện cho vị thủ
lãnh các tông đồ khỏi mất lòng tin. Khi cầu
nguyện trước các biến cố cứu độ mà Chúa Cha
trao phó cho Người thực thi, Đức Giê-su khiêm tốn và
tin tưởng hòa hợp ý chí nhân loại của
mình với thánh ý yêu thương của Chúa Cha. [Back]
2601
"Một
hôm, Đức Giê-su cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu
nguyện xong, có một người trong nhóm môn đệ nói với
Người: Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện"
(Lc 11,1). Khi nhìn Thầy
mình cầu nguyện, người môn đệ của Đức
Ki-tô cũng muốn cầu nguyện, và học cầu nguyện
với Thầy. Chính khi chiêm
ngưỡng và lắng nghe Chúa Con, con cái Thiên Chúa học
biết cầu khẩn Chúa Cha. [Back]
2602
Đức
Giê-su thường vào nơi thanh vắng
để cầu nguyện một mình trên núi, thường là
vào ban đêm. Vì đã làm người khi Nhập Thể, Đức
Giê-su mang lấy mọi người
trong lời cầu nguyện và dâng nhân loại lên Chúa Cha khi
hiến dâng chính mình. Ngôi Lời "đã làm Người"
đưa tất cả những gì "anh em Người"
đang sống vào lời cầu nguyện (Dt 2, 12). Người đã cảm thông được những yếu đuối
của họ để giải thoát họ. Chính vì thế
Chúa Cha đã cử Người đến. Những lời nói và
việc làm của Người bộc lộ những gì
Người cầu nguyện trong thầm kín. [Back]
2603
Các
tác giả Tin Mừng ghi lại hai lần Chúa Giê-su cầu
nguyện rõ tiếng trong thời kỳ Người rao giảng.
Cả hai đều khởi đầu bằng lời tạ ơn.
Trong lời nguyện thứ nhất, Đức Giê-su tuyên xưng,
nhìn nhận và chúc tụng Chúa Cha vì điều Chúa
Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết,
thì Cha lại mặc khải cho những người bé mọn
(những người nghèo khó theo các mối phúc). Lời thưa
"Vâng, lạy Cha" bộc lộ những gì tận
đáy lòng Người, bộc lộ ước muốn "làm
đẹp lòng Cha", như vọng lại tiếng xin vâng
của mẹ Người ngày thụ thai và như khúc dạo đầu
cho lời Người sẽ dâng lên Cha trong cơn hấp hối.
Toàn thể kinh nguyện của Đức Giê-su đều chất
chứa tâm tình gắn bó yêu thương đối với "mầu
nhiệm thánh ý Cha" (Ep 1,9), bằng cả trái tim
con người của mình. [Back]
2604
Lời kinh thứ hai được
thánh Gio-an lưu truyền cho chúng ta. Trước khi cho La-da-rô sống
lại, "Đức Giê-su ngước mắt lên và nói: Lạy
Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhận lời
con. Lời cám ơn đi trước biến cố chứng tỏ
Chúa Cha luôn nghe lời cầu xin của Người. Ngay sau đó,
Đức Giê-su thêm: "Con biết Cha hằng nhận lời
Con"; lời này cho thấy Đức Giê-su vẫn luôn cầu
nguyện với Cha, lời cầu nguyện đầy tâm
tình tạ ơn của Đức Giê-su dạy ta cách cầu
xin: trước khi được
nhận ơn, Đức Giê-su đã gắn bó với Đấng ban
ơn, cũng là Đấng ban chính mình qua các hồng ân. Đấng
ban ơn thì quý trọng hơn ơn được ban. Người là
kho báu đích thực và lòng Chúa Con luôn hướng về Người.
Hồng ân chỉ là điều được ban thêm.
Lời nguyện tư tế
của Đức Giê-su có một vị trí độc đáo trong nhiệm
cục cứu độ (chúng ta sẽ suy niệm ở cuối
đoạn thứ nhất). Lời nguyện này cho thấy
kinh nguyện của Đức Ki-tô Thượng Tế luôn là lời
cầu nguyện của ngày hôm nay; đồng thời cũng
dạy ta cách cầu nguyện cùng Chúa Cha, vấn đề sẽ
bàn đến ở đoạn thứ hai. [Back]
2605
Khi đến giờ Người
phải chu toàn ý định yêu thương của Chúa Cha, Đức
Giê-su hé mở cho thấy chiều sâu khôn dò trong kinh
nguyện của người con, không chỉ trước khi tự
nguyện hiến mình. ("Lạy Cha... xin đừng
làm theo ý Con, mà xin theo ý Cha" (Lc 22,42)); mà ngay cả trong những lời cuối cùng của Người trên
thập giá, khi cầu nguyện và tự hiến chỉ
còn là một. ("Lạy Cha, xin tha cho họ, vì
họ không biết việc họ làm....Tôi bảo thật
anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên
đàng" (Lc 23,34;24,43); "Thưa
Bà, đây là con của Bà...Đây là Mẹ của anh...Tôi khát" (Ga
19,26.27.28); "Lạy Thiên Chúa,
Thiên Chúa của con, sao Chúa nỡ bỏ con" (Mc 15,34; Tv
22,2); "Mọi sự đã
hoàn tất" (Ga 19,30); "Lạy
Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23, 46); kể cả "tiếng kêu lớn" của
Người khi trút hơi thở. [Back]
2606
Tất cả những đau khổ của nhân loại ở mọi thời sống dưới ách nô lệ tội lỗi và sự chết, tất cả mọi lời van xin và chuyển cầu trong toàn lịch sử cứu độ, đều được quy tụ trong Tiếng Kêu Lớn của Ngôi Lời Nhập Thể. Chúa Cha đã đón nhận tất cả và Người đã nhận lời vượt quá mọi hy vọng của chúng ta khi cho Chúa Con sống lại. Như thế, toàn thể kinh nguyện trong nhiệm cục sáng tạo và cứu độ đã được thực hiện và hoàn tất. Tập Thánh Vịnh mở ngỏ cho chúng ta cầu nguyện trong Đức Ki-tô. Chính trong "Ngày hôm nay" của cuộc Phục sinh, chúng ta nghe Chúa Cha phán: "Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa" (Tv 2,7-8).
Thư Do Thái dùng những lời tha thiết để diễn tả cách Đức Giê-su đem lại chiến thắng cứu độ: "Khi còn sống kiếp phàm nhân Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền cứu Người khỏi chết. Thiên Chúa đã nhận lời Người, vì Người đã tôn kính Thiên Chúa. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục người" (Dt 5,7-9). [Back]
2607
Đức Giê-su dạy cầu nguyện
Khi Đức Giê-su cầu nguyện, Người đã dạy ta cầu nguyện. Cách Đức Giê-su cầu nguyện với Cha bằng tin cậy mến là mẫu mực cho chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa. Ngoài ra, Tin Mừng còn ghi lại cho chúng ta một lời dạy rõ ràng của Đức Giê-su về cầu nguyện. Với tài sư phạm, Người bắt đầu từ tình trạng hiện tại của chúng ta, để từng bước dẫn chúng ta đến cùng Chúa Cha. Khi nói với đám đông dân chúng đang theo Người, Người bắt đầu từ những gì họ đã biết về cầu nguyện theo Cựu Ước, rồi mở ra cho họ thấy nét mới mẻ của Nước Trời đang đến. Kế đó, Người mặc khải cho họ nét mới này qua các dụ ngôn. Sau cùng, đối với các môn đệ là những người sẽ phải dạy cầu nguyện trong Hội Thánh, Người nói rõ về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. [Back]
2608
Ngay
từ Bài Giảng Trên Núi,
Đức Giê-su đã nhấn mạnh đến việc hoán cải tâm hồn : phải
làm hòa với anh em trước khi đến dâng lễ vật
trên bàn thờ phải yêu thương kẻ thù và cầu nguyện
cho kẻ bách hại mình phải "cầu nguyện
cùng Chúa Cha, Đấng hiện diện nơi kín đáo" (Mt 6, 6); khi cầu nguyện đừng lải nhải
nhiều lời thật lòng tha thứ cho tha nhân, giữ
tâm hồn trong sạch và lo tìm kiếm Nước Trời.
Cuộc hoán cải này hoàn toàn hướng về Chúa Cha, đượm
tình con thảo. [Back]
2609
Khi lòng mình
đã quyết tâm hoán cải, con người sẽ học biết
cầu nguyện trong đức
tin. Tin là gắn bó với Thiên Chúa bằng
tình con thảo, vượt trên những gì thuộc
giác quan và nhận thức. Chúng ta được như thế vì
Con yêu dấu của Thiên Chúa đã mở đường cho ta đến
cùng Chúa Cha. Chúa Con có quyền đòi chúng ta phải
tìm kiếm và gõ cửa, vì chính Người là cửa
và là đường (Mt 7, 7-11.13-14). [Back]
2610
Đức
Giê-su đã cầu nguyện và cảm tạ Chúa Cha trước
khi nhận được ơn, Người cũng dạy cho chúng ta dạn dĩ như người con:
"Tất cả những gì anh em xin khi cầu nguyện,
anh em cứ tin là mình đã được rồi" (Mc 11, 24). Đó chính là sức mạnh của lời cầu
nguyện: "cái gì cũng có thể, đối với
người có lòng tin" (Mc 9,23); sức mạnh của
một đức tin "không chút nghi nan" (Mt 21, 22). Đức Giê-su đã rất buồn khi thấy "đám bà
con thân thuộc Người ... không chịu tin" (Mc 6, 6), và thấy các môn đệ "kém lòng
tin" (Mt 8, 26). Trái lại người thán phục
trước lòng tin mạnh mẽ của viên sĩ quan
Rô-ma và người phụ nữ xứ Ca-na-an (Mt 8,10; 15,28). [Back]
2611
Kinh
nguyện của người tín hữu không chỉ là thưa:
"Lạy Chúa, Lạy Chúa", nhưng chính là sẵn
lòng thi hành thánh ý Chúa Cha (Mt 7, 21). Đức Giê-su dạy các môn đệ
cầu nguyện với tâm tình muốn cộng tác với
thánh ý Chúa. [Back]
2612
Khi Đức Giê-su đến,
triều đại Thiên Chúa đã gần kề, Người kêu
gọi con người hoán cải, tin và tỉnh thức. Trong cầu nguyện, người
môn đệ tỉnh thức đón Đấng Hiện Có và Đang Tới,
vừa tưởng nhớ việc Người đến lần thứ
nhất trong xác phàm khiêm hạ vừa mong đợi Người đến
lần thứ hai trong Vinh Quang. Đối với các môn đệ
của Đức Ki-tô, cầu nguyện là một cuộc chiến
đấu không ngừng; nhờ hiệp thông với Thầy
chí Thánh, người môn đệ sẽ chiến thắng: "Ai
tỉnh thức trong cầu nguyện sẽ không sa chước
cám dỗ." (Lc 22, 40.46) [Back]
2613
Thánh Luca ghi lại cho chúng ta ba dụ ngôn chính về cầu nguyện:
- Dụ ngôn thứ nhất, "người bạn quấy rầy" (Lc 11,5-13), dạy chúng ta kêu cứu "Anh em cứ xin thì sẽ được,..., cứ gõ cửa thì cửa sẽ mở ra". Khi một người kêu cứu như vậy, Cha Trên Trời "sẽ ban cho tất cả những gì anh em cần đến", nhất là Người sẽ ban tặng Thánh Thần, kho tàng mọi hồng ân.
- Dụ ngôn thứ hai, "Bà góa quấy rầy" (Lc 18,1-8), chú trọng đến một đặc tính của cầu nguyện : "phải cầu nguyện luôn, không được nản chí", với đức tin nhẫn nại". Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt dất nữa chăng?"
- Dụ ngôn thứ ba, "Người Pha-ri-sêu và người thu thuế" (Lc 18,9-14), dạy chúng ta phải khiêm cung khi cầu nguyện "Lạy Thiên Chúa, con là kẻ tội lỗi, xin thương xót con". Lời cầu này đã được Hội Thánh nhận làm của mình và không ngừng lặp lại: "xin Chúa thương xót chúng con." [Back]
2614
Lúc dạy các môn đệ
phải cầu nguyện với Chúa Cha, Đức Giê-su
đã dạy các ngài và cả chúng ta cách cầu nguyện
như thế nào một khi Người về cùng Chúa Cha trong Nhân
Tính vinh quang. Từ đây sẽ có một điểm mới là :
"nhân danh Thầy mà cầu xin" (Ga 14,13). Tin vào Người, các môn đệ sẽ nhận
biết Chúa Cha, vì "chính Thầy là Con Đường, là Sự
Thật và là Sự Sống" (Ga 14,6). Đức tin này sẽ trổ sinh những hoa
trái trong đức mến : giữ Lời Người, giữ các
điều răn của Người, ở lại với Người
trong Chúa Cha là Đấng yêu mến chúng ta trong Người đến
độ ở lại với chúng ta. Trong Giao Ước mới
này những lời khẩn cầu của chúng ta chắc chắn
sẽ được Chúa Cha nhận lời vì dựa trên lời
cầu khẩn của Đức Giê-su (Ga 14,13-14). [Back]
2615
Hơn nữa, khi chúng ta hiệp
nhất lời nguyện của mình với lời cầu
của Đức Giê-su, Chúa Cha "sẽ ban cho anh em một Đấng
Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi.
Đó là Thánh Thần Chân Lý" (Ga 14,16-17). Nét mới mẻ này và các điều kiện cần
có khi cầu nguyện được Đức Giê-su đề cập đến
trong diễn từ cáo biệt của Người. Trong Thánh Thần,
kinh nguyện Ki-tô giáo là hiệp thông đầy yêu thương với
Chúa Cha, không chỉ nhờ Đức Ki-tô mà còn trong Người: "Cho đến
bây giờ, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy.
Anh em cứ xin thì sẽ được trọn vẹn" (Ga,16,24).
[Back]
2616
Đức Giê-su nhận lời cầu nguyện
Trong
khi thi hành tác vụ, Đức Giê-su từng nhận lời cầu
khẩn Người, qua những dấu chỉ tiên báo quyền
năng của Đấng chịu chết và sống lại. Người
thương nhận lời cầu xin đầy tin tưởng của
nhiều người, dù họ lên tiếng (người bệnh
phong, ông Giai-rô, người phụ nữ Ca-na-an, người trộm
lành) hay chỉ im lặng (những người khiêng người bất
toại, người đàn bà bị bệnh loạn huyết cố
sờ áo Người, nước mắt và dầu thơm của người
phụ nữ tội lỗi). Lời khẩn cầu tha thiết
của những người mù: "Lạy Con Vua Đa-vít, xin
thương xót chúng tôi" (Mt 9 ,27) hay "Lạy Đức
Giê-su, Con Vua Đa-vít, xin thương xót tôi" (Mc 10,48) sẽ được Hội Thánh lặp lại trong truyền
thống lời nguyện dâng lên Đức Giê-su: "Lạy
Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, Chúa chúng con, xin thương xót con là kẻ
tội lỗi". Dù chữa bệnh hay tha tội, Đức
Giê-su luôn đáp lời kêu cầu của người tin tưởng
khấn xin Người: "Cứ về bình an, lòng
tin anh đã cứu chữa anh."
Thánh
Âu-tinh đã khéo léo tóm tắt ba chiều kích trong kinh nguyện
của Đức Giê-su: Người cầu nguyện cho chúng ta với
tư cách là Đầu; Người được chúng ta kêu cầu với
tư cách là Thiên Chúa. Vậy chúng ta phải nhận biết tiếng
của chúng ta trong Người và tiếng của Người trong
chúng ta. [Back]
2617
Kinh nguyện của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a
Chúng ta được biết Đức Ma-ri-a cầu nguyện vào lúc bình minh của thời Viên Mãn. Trước khi Con Thiên Chúa nhập thể và trước khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, lời cầu nguyện của Mẹ đã cộng tác một cách độc đáo vào kế hoạch nhân hậu của Chúa Cha, trong ngày Truyền Tin để Đức Ki-tô mặc lấy xác phàm và trong ngày lễ Ngũ Tuần để hình thành Hội Thánh là Thân Thể Đức Ki-tô. Trong lòng tin của người nữ tỳ khiêm cung này, Hồng Ân Thiên Chúa đã được tiếp nhận xứng đáng, sự tiếp nhận Người đã chờ đợi từ thuở khai thiên lập địa. Con người được Đấng Toàn Năng ban đầy ân sủng này đã đáp lại bằng việc hiến dâng trọn xác hồn: "Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói". Lời "Xin Vâng" chính là kinh nguyện Ki-tô giáo: xin dâng tất cả cho Chúa vì Chúa là tất cả đối với chúng ta. [Back]
2618
Tin Mừng cho chúng ta thấy
Đức Ma-ri-a đầy tin tưởng khi cầu nguyện và chuyển
cầu cho những người khác: tại Ca-na, Mẹ đã
xin Đức Giê-su lo đến nhu cầu của bữa tiệc
cưới, đây là dấu chỉ về một Bữa Ăn khác, bữa
tiệc cưới của Chiên Con hiến Mình và Máu theo lời
xin của Hiền Thê là Hội Thánh. Trong giờ Giao Ước
Mới, dưới chân thập giá, Đức Ma-ri-a đã được
nhận lời như Người Phụ Nữ, bà E-và mới, người
mẹ đích thực của chúng sinh. [Back]
2619
Do
đó, bài ca của Đức Ma-ri-a (bài Magnificat theo La-tinh hay Megalinaire theo Hy-lạp) vừa là bài ca của
Mẹ Thiên Chúa vừa là bài ca của Hội Thánh, bài ca của
Thiếu Nữ Xi-on và của Dân Mới, bài ca tạ ơn
vì muôn ngàn hồng ân Thiên Chúa đã ban cho con người
trong nhiệm cục cứu độ, bài ca của "hững
người nghèo"thấy hy vọng của mình trở
thành hiện thực vì Thiên Chúa đã thi hành "hư
đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại
lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến
muôn đời. [Back]
2620
Tóm
lược
Trong Tân Ước, khuôn mẫu tuyệt hảo
của cầu nguyện là lời cầu nguyện đầy
tình con thảo của Đức Giê-su. Người thường
cầu nguyện nơi vắng vẻ, kín đáo. Kinh nguyện của
Người đầy tâm tình gắn bó yêu thương, vâng phục
thánh ý Chúa Cha dù phải chấp nhận Thập Giá, và
tuyệt đối tin tưởng là mình sẽ được nhận
lời.
[Back]
2621
Đức Giê-su đã dạy các môn đệ
cầu nguyện với tâm hồn trong sạch, một đức
tin sống động và kiên trì, một sự dạn dĩ
của người con . Người kêu gọi họ tỉnh thức
và muốn họ dâng những lời khẩn cầu lên
Thiên Chúa nhân danh Người. Chính Đức Giê-su Ki-tô cũng nhận
lời chúng ta cầu xin.
[Back]
2622
Kinh nguyện của Đức Ma-ri-a,
trong lời Xin Vâng và bài ca Ngợi Khen, làm nổi bật tâm
tình hiến dâng trọn bản thân trong lòng tin. [Back]
Trong thời gian của Giáo Hội
Ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần được ban xuống cho các môn đệ "đang tề tựu ở một nơi" (Cv 2,1), "tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, siêng năng cầu nguyện" để chờ đón Người (Cv 1,14). Chúa Thánh Thần là Đấng dạy dỗ Hội Thánh và làm cho Hội Thánh nhớ lại mọi điều Đức Giê-su đã nói, Người cũng dạy cho Hội Thánh cầu nguyện. [Back]
2624
Trong
cộng đoàn tiên khởi tại Giê-ru-sa-lem, các tín hữu
"chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn
hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ
bánh và cầu nguyện không ngừng" (Cv 2,42).
Đây là thứ tự điển hình của kinh nguyện Hội
Thánh trên nền tảng đức tin tông truyền, được chứng
thực bằng bác ái huynh đệ, được nuôi dưỡng nhờ
Thánh Thể. [Back]
2625
Trước
hết, các tín hữu nghe và đọc lại những kinh nguyện
trong Sách Thánh, nhưng trong bối cảnh mới là đã được
hoàn tất trong Đức Ki-tô (Lc 24,
27.44), nhất
là các Thánh Vịnh. Chúa Thánh Thần, Đấng nhắc lại
mầu nhiệm Chúa Ki-tô cho Hội Thánh đang cầu nguyện,
cũng dẫn đưa Hội Thánh vào Chân Lý trọn vẹn
và khởi hứng những mẫu kinh mới để diễn
tả mầu nhiệm khôn dò thấu về Chúa Ki-tô, Đấng
đang hoạt động trong cuộc sống, trong các bí tích và
trong sứ vụ của Hội Thánh. Những mẫu kinh
này sẽ được phát triển trong các truyền thống phụng
vụ và linh đạo chính. Những
hình thức kinh nguyện được lưu truyền
trong các văn phẩm chính lục của các tông đồ, sẽ
mãi mãi là chuẩn mực cho kinh nguyện Ki-tô giáo.
[Back]
2626
Chúc tụng và thờ lạy
Thiên
Chúa chúc lành cho con người và tới lượt tâm hồn con
người chúc tụng Đấng
là nguồn mạch mọi phúc lành. Đây là thái độ căn bản
của kinh nguyện Ki-tô giáo. Kinh nguyện chúc tụng là cuộc
gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, Thiên Chúa ban ơn
và con người đáp lại. Kinh nguyện chúc tụng là cách con
người đáp lại những hồng ân của Thiên Chúa. [Back]
2627
Kinh
nguyện chúc tụng có hai hình thức chính : có khi được
dâng lên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần
(chúng ta chúc tụng Thiên Chúa Đấng đã chúc lành cho chúng
ta): có khi xin Chúa Cha ban Chúa Thánh Thần nhờ Chúa Ki-tô (chính
Chúa Cha chúc lành cho chúng ta). [Back]
2628
Thờ lạy
là thái độ đầu tiên của con người khi nhìn nhận
mình là thụ tạo đang đối diện với Đấng
Sáng Tạo. Kinh nguyện thờ lạy là tán dương Thiên Chúa
cao cả, Đấng dựng nên ta (Tv 95,1-6) và là Đấng quyền năng đã giải thoát ta khỏi
sự dữ. Thờ lạy là phủ phục trước Đức
Vua Vinh Quang, là thinh lặng và kính cẩn trước Thiên Chúa, Đấng
muôn trùng cao cả. Thái độ thờ lạy Thiên Chúa chí thánh
và chí ái, giúp chúng ta khiêm tốn và tin tưởng vững vàng Người
sẽ nhận lời chúng ta khẩn cầu. [Back]
Khẩn cầu
Trong Tân Ước, kinh nguyện này có nhiều tên gọi diễn tả những biến thái khác nhau: khẩn cầu, cầu xin, năn nỉ, kêu xin, cầu cứu, kêu la, thậm chí chiến đấu bằng kinh nguyện. Nhưng hình thức thông thường và tự phát nhất là lời khẩn cầu. Trong kinh nguyện khẩn cầu, chúng ta bộc lộ ý thức về tương quan giữa mình với Thiên Chúa. Chúng ta là thụ tạo, không phải tự mình mà có, không làm chủ được những nghịch cảnh trong đời, không phải là cùng đích đời mình; chẳng những vậy, là người Ki-tô hữu, chúng ta biết mình tội lỗi, đã phản nghịch lại Thiên Chúa là Cha chúng ta. Khi khẩn cầu, con người đã quay về với Thiên Chúa. [Back]
2630
Tân Ước ít thấy những
lời than vãn, như thường gặp trong Cựu Ước.
Trong Đức Ki-tô Phục Sinh, lời khẩn cầu của
Hội Thánh luôn tràn đầy hy vọng, cho dù chúng ta vẫn
còn phải chờ đợi và hoán cải mỗi ngày.
Trong Ki-tô giáo, kinh nguyện khẩn cầu còn xuất
phát từ một chiều sâu khác, được thánh Phao-lô gọi
là lời rên xiết;
tiếng rên xiết của "muôn loài thụ tạo quằn
quại như sắp sinh nở" (Rm 8,22); tiếng rên xiết của chúng ta
"còn trông đợi Thiên Chúa cứu chuộc toàn thể
con người chúng ta, vì ơn cứu độ vẫn là điều
phải trông mong" (Rm 8,23-24); cũng
là tiếng rên xiết khôn tả của chính Thánh Thần, Đấng
"giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì
chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải;
nhưng chính Thánh Thần sẽ cầu thay nguyện giúp chúng
ta" (Rm 8,26) [Back]
2631
Kinh
nguyện khẩn cầu đầu tiên của con người là lời
xin ơn tha tội, như lời
người thu thuế trong Tin Mừng Lu-ca: "Xin thương xót con
là kẻ có tội" (Lc 8,13). Muốn cầu nguyện
thực sự và đúng đắn, trước hết phải xin ơn
tha tội. Tâm tình khiêm nhu tín thác cho chúng ta hiệp thông
với Chúa Cha, với con của Người là Đức Giê-su
Ki-tô và với anh em; nhờ đó "bất cứ điều
gì chúng ta xin, thì chúng ta được Người ban
cho" (1Ga 3, 22). Trước khi cử hành Phụng
vụ Thánh Thể cũng như cầu nguyện riêng, chúng ta
phải xin ơn tha tội.
[Back]
2632
Theo
lời Đức Giê-su dạy, khao khát và tìm kiếm Nước Thiên Chúa phải là trọng
tâm kinh nguyện Ki-tô giáo. Vì thế, phải khẩn cầu
theo thứ tự: trước hết là cầu xin "Nước
Cha trị đến", rồi cầu xin Cha ban những ơn cần
thiết để đón nhận Nước Trời và cộng tác vào
việc mở mang Nước Chúa. Cộng tác vào sứ mạng
của Chúa Ki-tô và của Chúa Thánh Thần, tức là sứ
mạng của Hội Thánh hôm nay, là đối tượng của
kinh nguyện cộng đoàn tông đồ . Lời cầu nguyện
của Phao-lô, vị tông đồ tuyệt hảo, cho ta thấy:
ưu tư về mọi giáo đoàn phải nổi bật trong kinh
nguỵện của Ki-tô hữu. Nhờ cầu nguyện,
các tín hữu góp phần vào việc mở mang Nước Chúa.
[Back]
2633
Khi
tham dự vào công trình yêu thương cứu độ của
Thiên Chúa, chúng ta có thể coi mọi
nhu cầu là đối tượng của kinh nguyện khẩn
cầu. Đức Ki-tô, Đấng đã đón nhận tất cả
để chuộc lại tất cả, được tôn vinh qua những
lời chúng ta cầu xin Chúa Cha nhân danh Người. Tin tưởng
như thế, thánh Gia-cô-bê và thánh Phao-lô khuyến khích chúng ta:
hãy cầu nguyện mọi
nơi mọi lúc.
[Back]
Kinh nguyện chuyển cầu
Chuyển
cầu là một kinh nguyện khẩn cầu. Khi chuyển
cầu, chúng ta theo mẫu cầu nguyện của Đức
Ki-tô. Người là Đấng trung gian duy nhất dâng lời chuyển
cầu lên Chúa Cha cho mọi người, nhất là các tội
nhân. Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn
cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần
Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để
chuyển cầu cho họ. Hơn nữa, lại có Thánh Thần
cầu thay nguyện giúp chúng ta là những kẻ yếu
hèn. Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng
ý Thiên Chúa. [Back]
2635
Chuyển
cầu là khẩn cầu cho người khác. Từ thời
Áp-ra-ham, đây là đặc tính của một tâm hồn hòa
theo lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Trong thời
đại của Hội Thánh, lời chuyển cầu của
Ki-tô hữu tham dự vào kinh nguyện chuyển cầu của
Đức Ki-tô, đây là cách diễn tả mầu nhiệm các
thánh thông công. Trong kinh nguyện chuyển cầu, chúng ta
"không tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng tìm lợi
ích cho người khác" (Pl 2,4), ngay cả cầu xin
cho kẻ làm hại mình. [Back]
2636
Những cộng đoàn
Ki-tô hữu tiên khởi đã nhiệt thành sống
hình thức chia sẻ này trong kinh nguyện.
Tông đồ Phao-lô đã kêu gọi các tín hữu tham gia vào
công cuộc rao giảng Tin Mừng bằng lời cầu
nguyện; chính Người cũng luôn cầu nguyện cho họ.
Người Ki-tô hữu chuyển cầu "cho hết mọi
người, cho vua chúa và tất cả những người cầm
quyền" (Tm 2,1), cho những người
bách hại mình, cho những ai khước từ Tin Mừng
cũng nhận được ơn cứu độ. [Back]
2637
Kinh nguyện tạ ơn
Tạ ơn là đặc tính của kinh nguyện Hội Thánh, đặc biệt khi cử hành Thánh lễ. Thật vậy trong công trình cứu độ, Đức Ki-tô giải thoát toàn thể thụ tạo khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự chết, để thánh hiến và qui hướng chúng ta về với Chúa Cha, để tôn vinh Chúa Cha. Lời kinh tạ ơn của các chi thể trong Thân Thể được tham dự vào lời tạ ơn của Đức Ki-tô là đầu. [Back]
2638
Cũng như trong kinh nguyện
khẩn cầu, mọi biến cố và mọi nhu cầu
đều có thể trở thành dịp để dâng lời tạ
ơn. Các thư của thánh Phao-lô thường khởi đầu và kết
thúc bằng một lời tạ ơn, và luôn luôn nhắc tới
Chúa Giê-su. "Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh,
Thiên Chúa muốn anh em làm như vậy, vì anh em đã được
kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su" (Tx 5,18). "Anh em hãy siêng năng cầu nguyện;
trong khi cầu nguyện, hãy tỉnh thức mà tạ
ơn" (Cl 4,2). [Back]
2639
KINH NGUYỆN CA NGỢI
2639. Ca ngợi là hình thức cầu nguyện
nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa Tể một cách trực tiếp
nhất. Lời kinh ca ngợi tán dương Thiên Chúa, tôn vinh Người
không chỉ vì những gì Người đã làm nhưng
còn vì chính Người là Chúa. Khi ca ngợi Thiên Chúa,
chúng ta thông phần hạnh phúc của những tâm hồn trong
sạch, những kẻ yêu mến Người trong đức tin
trước khi được thấy Người trong Vinh Quang. Khi chúng
ta ca ngợi Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần kết hợp với
tâm hồn chúng ta để chứng nhận rằng chúng ta là
con cái Thiên Chúa (Rm 8,16), làm chứng cho
Con Một Thiên Chúa, Đấng làm cho chúng ta được nhận làm
nghĩa tử và có thể dâng lời tôn vinh Chúa Cha. Lời
kinh ca ngợi kết hợp với những hình thức
kinh nguyện khác và dâng tất cả lên Đấng là nguồn
mạch và cùng đích của mọi sự, "Thiên Chúa duy nhất,
Chúa Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của
chúng ta" (1 Cr 8,6). [Back]
2640
Tin Mừng Lu-ca thường
nhắc đến thái độ thán phục và ca ngợi của
con người trước những điềm thiêng dấu lạ của
Đức Ki-tô. Sách Công Vụ Tông Đồ cũng nhấn mạnh
những việc kỳ diệu do tác động của Chúa
Thánh Thần: hình thành cộng đoàn Giê-ru- sa-lem (Cv 2,47), việc Phê-rô và Gio-an chữa lành người bất
toại (Cv 3,9), dân chúng tôn vinh
Thiên Chúa (Cv 4,21) vì việc
đó, dân ngoại ở Pi-xi-đi-a vui mừng suy tôn Lời Chúa. [Back]
2641
Hãy cùng nhau xướng
đáp những bài Thánh Vịnh, thánh thi và những bài ca do Thánh
Thần linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát
chúc tụng Chúa. Như các thánh sử Tân Ước, những cộng
đoàn Ki-tô hữu đầu tiên đọc lại sách Thánh Vịnh
trong cách nhìn mới, để ca ngợi mầu nhiệm
Đức Ki-tô ẩn tàng trong đó. Dưới ánh sáng mới của
Thánh Thần, họ cũng sáng tác những thánh thi và thánh ca
về biến cố khôn dò Thiên Chúa đã thực hiện
nơi Chúa Con: cuộc Nhập Thể, Tử Nạn chiến
thắng sự chết, Phục Sinh và Lên Trời ngự
bên hữu Thiên Chúa. Vì kỳ công đặc biệt này của
công trình cứu độ, các tín hữu dâng lên lời vinh
tụng ca để ca ngợi Thiên Chúa. [Back]
2642
Sách Khải Huyền, lời
mặc khải "về những điều sắp phải
xảy đến, đầy dẫy những bài thánh ca của phụng
vụ trên trời nhưng cũng nhờ kinh nguyện chuyển
cầu của các chứng nhân (các vị tử đạo). Các
ngôn sứ và các thánh nhân, tất cả những người
đã bị sát hại dưới thế để làm chứng
cho Đức Giê-su, đám đông vô số "những người
đã trải qua cơn thử thách lớn lao", tất cả
đã đi trước chúng ta vào trong Nước Thiên Chúa, họ
đang ca ngợi vinh quang của "Thiên Chúa, Đấng ngự
trên ngai và Con Chiên" (Kh 19,1-8). Hiệp
thông với các ngài, Hội Thánh tại thế cũng hát lên
những bài hát thánh ca này, trong đức tin và giữa cơn thử
thách. Trong kinh nguyện khẩn cầu và chuyển cầu,
đức tin làm cho chúng ta vẫn hy vọng dầu có vẻ
đã tuyệt vọng, và dâng lên "lời tạ ơn"
Chúa Cha, Đấng tạo dựng muôn tinh tú và ban xuống mọi
ân huệ tốt lành" (Gc 1,17). Đức tin cũng là một kinh nguyện ca
ngợi tinh tuyền. [Back]
2643
Bí tích Thánh Thể chứa
đựng và diễn tả mọi hình thức kinh nguyện.
Bí tích Thánh Thể là lễ dâng tinh tuyền của toàn Thân
Thể Chúa Ki-tô vì vinh quang Danh Người. Truyền thống
Đông và Tây Phương đều gọi bí tích Thánh Thể là hy tế
ca ngợi. [Back]
2644
Tóm
lược
Chúa
Thánh Thần là Đấng dạy dỗ và nhắc lại cho Hội
Thánh tất cả những gì Đức Giê-su đã nói,
chính Người dạy Hội Thánh cầu nguyện bằng
cách khơi lên những cách diễn tả mới cho các
hình thức kinh nguyện quen thuộc: chúc tụng, khẩn
cầu, chuyển cầu, tạ ơn và ca ngợi.
[Back]
2645
Thiên Chúa đã chúc lành cho con người,
nên tâm hồn con người có thể chúc tụng Đấng là
nguồn mạch mọi phúc lành.
[Back]
2646
Chúng ta dâng lên Thiên Chúa. Kinh nguyện khẩn
cầu để xin ơn tha tội, xin cho chúng ta biết tìm
kiếm Nước Chúa xin Thiên Chúa ban những ơn cần thiết.
[Back]
2647
Chuyển cầu là cầu xin cho người
khác. Lời cầu nguyện của Ki-tô hữu không có biên
giới: chúng ta cầu nguyện cho mọi người, kể
cả kẻ thù.
[Back]
2648
Mọi vui buồn, mọi biến cố
và nhu cầu, đều là dịp để chúng ta dâng lên Thiên Chúa
kinh nguyện tạ ơn. Tham dự vào kinh tạ ơn của Đức
Ki-tô, cả cuộc đời người Ki-tô hữu là bài ca tạ
ơn Thiên Chúa : "Anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa trong mọi
hoàn cảnh" (1Tx
5,18). [Back]
2649
Chúng ta dâng lên Thiên Chúa kinh nguyện ca
ngợi, thuần túy vô vị lợi, để ca khen, tôn vinh
Người, không chỉ vì những việc Người
đã làm cho ta, mà còn vì Người là Thiên Chúa. [Back]
Truyền thống cầu nguyện
Kinh nguyện không chỉ là một ngẫu hứng nội tâm : phải muốn, mới cầu nguyện được. Biết những gì Kinh Thánh mặc khải về cầu nguyện chưa đủ, chúng ta còn phải học cầu nguyện nữa. Trong Hội Thánh là cộng đoàn đức tin và cầu nguyện, chính Chúa Thánh Thần dạy con cái Thiên Chúa biết cầu nguyện, bằng một Thánh Truyền sống động. [Back]
2651
Truyền thống cầu
nguyện Ki-tô giáo là một cách thức để Truyền Thống
đức tin định hình và phát triển đặc biệt
nhờ việc chiêm niệm và học hỏi của các tín
hữu, những người ghi nhớ trong lòng những
lời đã phán trong nhiệm cục cứu độ; ngoài
ra còn nhờ những hiểu biết sâu sắc về
thực tại thiêng liêng mà họ cảm nghiệm được. [Back]
2652
Những nguồn mạch của kinh nguyện
Chúa Thánh Thần là Nước trường sinh,"một mạch nước chảy vọt, đem lại sự sống đời đời" (Ga 4, 14). Nơi tâm hồn người cầu nguyện, Chúa Thánh Thần dạy chúng ta biết đón nhận Người tận Nguồn Mạch đích thực là Đức Ki-tô. Trong đời sống Ki-tô hữu, có những nguồn mạch, ở đó Đức Ki-tô đang chờ để ban Thánh Thần cho chúng ta. [Back]
2653
Lời Chúa
Hội Thánh tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Ki-tô hữu hãy năng đọc Thánh Kinh để học biết khoa học siêu việt của Chúa Giê-su Ki-tô. Nhưng mọi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì "chúng ta ngỏ lời với Người khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Người nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh" (T. Am-rô-xi-ô, nhiệm vụ thừa tác viên 1,88; DV 25) [Back]
2654
Khi trình bày về Mt
7,7, các linh phụ đã tóm tắt thái độ của một
tâm hồn được Lời Chúa nuôi dưỡng trong kinh nguyện
như sau: khi đọc, hãy tìm kiếm, bạn sẽ
tìm thấy khi suy gẫm; khi cầu nguyện, hãy
gõ cửa, bạn sẽ được mở cho nhờ chiêm
niệm. [Back]
2655
Phụng vụ của Hội Thánh
Sứ mạng của Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần là công bố, hiện thực và thông truyền mầu nhiệm cứu độ trong Phụng vụ của Hội Thánh; sứ vụ ấy được tiếp nối nơi tâm hồn người cầu nguyện. Các linh phụ đôi khi so sánh tâm hồn với bàn thờ. Kinh nguyện tiếp nhận Phụng vụ và đồng hóa với phụng vụ trong khi và sau khi được cử hành. Dù con người cầu nguyện "nơi kín đáo" (Mt 6, 6), lời nguyện của họ vẫn là kinh nguyện của Hội Thánh, là sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh. [Back]
2656
Các nhân đức đối thần
Chúng ta đi vào kinh nguyện cũng như đi vào phụng vụ, qua cửa hẹp là đức tin. Qua những dấu chỉ về sự hiện diện thần linh, chúng ta tìm kiếm và trông mong Thánh Nhan Đức Chúa, chúng ta muốn lắng nghe và suy niệm Lời Người. [Back]
2657
Chúa
Thánh Thần dạy chúng ta cử hành phụng vụ đang khi
đợi chờ Đức Ki-tô tái lâm, chính người hướng dẫn
ta biết cầu nguyện trong hy vọng. Ngược
lại , kinh nguyện của Hội Thánh và của cá nhân
nuôi dưỡng hy vọng trong lòng chúng ta. Đặc biệt,
các Thánh Vịnh, với ngôn ngữ cụ thể và đa dạng,
dạy chúng ta biết gắn chặt niềm hy vọng vào
Thiên Chúa: "Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Người
nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu" (Tv 40,2). "Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng ban cho
anh em chan chứa niềm vui và bình an nhờ lòng
tin, để nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, anh
em được tràn trề hy vọng" (Rm 15,13).
[Back]
2658
Trông
cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng,
vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người
vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho
chúng ta" (Rm 5,5). Được huấn luyện bằng
đời sống phụng vụ, kinh nguyện bắt nguồn
từ tình yêu Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta
trong Đức Ki-tô và giúp ta đáp trả như Người đã yêu
thương chúng ta. Tình yêu là nguồn mạch của
kinh nguyện; ai đến với nguồn mạch đó, sẽ đạt
tới tột đỉnh của kinh nguyện:
"Lạy
Thiên Chúa của con, con yêu mến Ngài. Con chỉ mong ước
một điều là được yêu Ngài đến hơi thở cuối
cùng của đời con. Lạy Thiên Chúa vô cùng khả ái, con
yêu mến Ngài. Con thà chết vì yêu Ngài, còn hơn sống
mà không yêu Ngài. Lạy Chúa, con yêu mến Ngài, con chỉ xin
Ngài một ân huệ duy nhất là được yêu Ngài mãi
mãi...Lạy Thiên Chúa của con, nếu mọi lúc con
không thể nói con yêu Ngài, con chỉ mong theo nhịp thở
của con, trái tim không ngừng lập lại: con yêu
Ngài" (T. Gio-an Ma-ri-a Vianey, kinh nguyện). [Back]
2659
Hôm nay
Chúng
ta học biết cầu nguyện vào một số thời
gian nhất định, bằng cách lắng nghe Lời Chúa và
tham dự mầu nhiệm Vượt Qua của Người; Người
còn ban Thánh Thần để giúp chúng ta cầu nguyện
trong mọi lúc, trong mọi biến cố của cuộc sống
hằng ngày. Khi dạy
ta cầu nguyện với Cha Trên Trời, Đức Giê-su cũng
dạy về sự quan phòng của Chúa Cha (Mt 6, 11.34). Thời gian là của Cha; chúng ta gặp được
Người trong hiện tại, không phải hôm qua hay ngày mai,
nhưng chính hôm nay: "Ngày hôm nay, ước gì hôm nay anh em
nghe tiếng Chúa! Người phán: các ngươi, chớ cứng
lòng" (Tv 95,7-8). [Back]
2660
Cầu
nguyện trong mọi biến cố của cuộc sống
hằng ngày, là một trong những điều bí ẩn của
Nước Trời được mặc khải cho nhũng kẻ
bé mọn, những người tôi tớ của Đức Ki-tô,
những người nghèo theo các Mối Phúc. Cầu nguyện cho
Nước công lý và bình an tác động vào diễn tiến
của lịch sử, là việc chính đáng và tốt đẹp;
nhưng phải đem những hoàn cảnh bình thường của
cuộc sống hằng ngày vào kinh nguyện. Mọi
hình thức cầu nguyện đều có thể là thứ
men cần thiết được Chúa nói đến trong dụ ngôn về
Nước Trời (Lc 13, 20-21).
[Back]
2661
Tóm
lược
Qua một truyền thống sống động
trong Hội Thánh là Thánh Truyền. Chúa Thánh Thần dạy
con cái Thiên Chúa biết cầu nguyện.
[Back]
2662
Lời Chúa, Phụng Vụ của Hội
Thánh, các nhân đức Tin Cậy Mến, là những nguồn mạch
của kinh nguyện. [Back]
Con đường cầu nguyện
Trong truyền thống kinh nguyện sống động, mỗi Giáo Hội giới thiệu cho các tín hữu ngôn ngữ kinh nguyện của mình : những lời kinh, bài hát, cử điệu và hình ảnh... tùy theo bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa. Huấn Quyền có trách nhiệm (x. DV 10) nhận định xem những con đường cầu nguyện này có trung thành với đức tin tông truyền không. Các mục tử và những giáo lý viên có trách nhiệm giải thích ý nghĩa của những con đường cầu nguyện này trong tương quan với Đức Giê-su Ki-tô. [Back]
2664
Kinh nguyện dâng lên Chúa Cha
Đức Ki-tô là con đường cầu nguyện duy nhất của người Ki-tô hữu. Kinh nguyện cộng đoàn hay cá nhân, khẩu nguyện hay tâm nguyện, chỉ đạt tới Chúa Cha nếu chúng ta cầu nguyện nhân danh Chúa Ki-tô. Nhân tính thánh thiện của Đức Giê-su chính là con đường, nhờ đó Thánh Thần dạy chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha. [Back]
2665
Kinh nguyện dâng lên Chúa Giê-su
Được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và cử hành phụng vụ, kinh nguyện của Hội Thánh dạy cho ta biết cầu nguyện với Chúa Giê-su. Dù chủ yếu được dâng lên Chúa Cha, trong mọi truyền thống phụng vụ, kinh nguyện này đều có những hình thức kinh nguyện hướng về Chúa Ki-tô. Trong một số Thánh Vịnh và trong Tân Ước, chúng ta có sẵn một số tước hiệu của Đức Ki-tô để kêu cầu và khắc ghi trong lòng: Con Thiên Chúa, Ngôi Lời của Thiên Chúa, Đức Chúa, Đấng Cứu Độ, Chiên Thiên Chúa, Đức Vua, Con Chí Ái của Thiên Chúa, Con Đức Trinh Nữ, Mục Tử nhân lành, Sự Sống, Ánh Sáng, Hy Vọng, và sự Phục Sinh của chúng ta, bạn của loài người. [Back]
2666
Danh hiệu Giê-su mà Con
Thiên Chúa đã tiếp nhận khi nhập thể bao hàm mọi
tước hiệu. Con người không có quyền gọi tên Thiên
Chúa, nhưng khi nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa đã mặc
khải Danh Thánh này và chúng ta có thể xướng lên Danh đó: Giê-su;
Thiên Chúa Cứu Độ (Mt 1, 21). Danh Thánh
Giê-su bao hàm mọi sự: Thiên Chúa và con người cùng với
toàn thể nhiệm cục sáng tạo và cứu độ. Cầu
nguyện với Đức Giê-su là kêu cầu Người, thầm
gọi Người. Danh Người là danh hiệu duy nhất hàm
chứa mọi sự. [Back]
2667
Cách kêu cầu này thật
đơn sơ xuất phát từ lòng tin, đã được khai triển
dưới nhiều hình thức trong truyền thống
kinh nguyện Đông và Tây Phương. Công thức thông dụng nhất,
được các bậc thầy linh đạo tu viện Si-nai, tu viện
Athos và vùng Sy-ri truyền lại, là lời cầu : "Lạy
Đức Giê-su, là Đức Ki-tô, là Con Thiên Chúa, và là Chúa chúng con,
xin thương xót chúng con là kẻ có tội". Lời nguyện
này kết hợp bài thánh thi ca ngợi Chúa Ki-tô trong thư gởi
giáo đoàn Phi-líp (Pl 2,6-11) với lời
van xin của người thu thuế và những người mù
lòa trong Tin Mừng. Nhờ lời nguyện này, tâm hồn
chúng ta hòa nhịp với sự khốn cùng của con
người và lòng thương xót của Đấng Cứu Độ. [Back]
2668
Kêu cầu thánh danh Chúa
Giê-su là con đường đơn giản nhất để cầu nguyện
liên tục. Khi chăm chú và khiêm tốn kêu cầu liên tục
như vậy, chúng ta không "lải nhải nói nhiều" (Mt 6,7), nhưng "nắm giữ Lời Chúa và nhờ
kiên trì mà sinh hoa kết quả" (Lc 8,15). Lời nguyện này có thể thực hiện
mọi lúc, vì đây không phải là một việc khác bên
cạnh công việc ta đang làm, nhưng là công việc duy nhất
: yêu mến Thiên Chúa; nhờ đó mọi hoạt động của
ta được sinh động và có giá trị trong Đức Giê-su. [Back]
2669
Hội Thánh tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su,
y như đã kêu cầu thánh danh Người trong kinh nguyện,
vì đây là trái tim của Ngôi Lời Nhập Thể
đã yêu thương nhân loại đến nỗi bị đâm thâu
vì tội lỗi chúng ta. Ki-tô hữu còn có thói quen
cầu nguyện theo Đường
Thánh Giá:
những chặng đàng, từ dinh Phi-la-tô đến Núi Sọ và
Mộ Đá, đưa chúng ta theo bước Chúa Giê-su, Đấng đã
dùng Thánh Giá mà cứu chuộc nhân loại. [Back]
2670
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến
"Nếu không được Thánh Thần giúp sức cho, không ai có thể nói rằng: "Giê-su là Đức Chúa" (1 Cr12, 3). Mỗi lần chúng ta muốn cầu nguyện với Chúa Giê-su, chính Chúa Thánh Thần dùng ơn tiền sủng đưa chúng ta vào kinh nguyện. Chúa Thánh Thần dạy chúng ta biết cầu nguyện bằng cách nhắc ta nhớ đến Chúa Ki-tô, Vậy tại sao ta không cầu xin chính Chúa Thánh Thần? Vì thế, Hội Thánh kêu gọi chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần mỗi ngày, nhất là khi khởi sự và kết thúc mỗi việc quan trọng.
"Chúa Thánh Thần đã thần hóa chúng ta bằng bí tích Thánh Tẩy, tại sao chúng ta không tôn thờ Người? Nếu Người đáng được tôn thờ, tại sao không dành cho Người một phụng tự riêng biệt?" (T. Ghê-gô-ri-ô thành Nadien Bài giảng thần học 5,28). [Back]
2671
Hình thức truyền thống để cầu khẩn Chúa Thánh Thần là kêu xin Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, để Cha ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ (Lc 11,13). Chúa Giê-su nhấn mạnh phải cầu khẩn nhân danh Người, ngay cả khi Người hứa ban tặng Thánh Thần Chân Lý (Ga 16, 13; 15, 26; 14,17). Lời nguyện đơn giản và trực tiếp nhất trong truyền thống là: "Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến". Mọi truyền thống phụng vụ đều có khai triển lời nguyện này trong các tiền xướng và thánh thi:
"Lạy
Chúa Thánh Thần, Xin Ngài ngự đến tràn ngập tâm hồn
các tín hữu Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong
lòng họ" (Ca tiếp
liên lễ Hiện Xuống).
"Lạy Chúa Thánh Thần là vua thiên quốc, Đấng Bảo
Trợ, là Thần Chân Lý, Đấng hiện diện khắp
nơi và tràn ngập mọi sự, là kho tàng chứa mọi điều
thiện hảo, là Nguồn Mạch Sự Sống, xin Ngài
đến cư ngụ trong lòng chúng con. Lạy Đấng Nhân
Lành, xin thanh tẩy và cứu độ chúng con, (Phụng vụ By-zan-tin, điệp ca kinh chiều
lễ Hiện Xuống) [Back]
2672
Khi
chúng ta được Thiên Chúa xức dầu bằng Thánh Thần,
Chúa Thánh Thần thấm nhập toàn thể con người ta,
trở thành người Thầy nội tâm dạy cho ta biết
cầu nguyện. Người là tác giả truyền thống
kinh nguyện sống động của Hội Thánh. Có bao nhiêu
người cầu nguyện thì cũng có bấy nhiêu cách
cầu nguyện, nhưng chỉ có một Thánh Thần, Đấng
tác động trong mọi người và cùng với mọi người.
Được hiệp thông nhờ Chúa Thánh Thần, khi Ki-tô hữu
cầu nguyện, họ cầu nguyện trong Hội Thánh. [Back]
2673
Hiệp thông với Thánh Mẫu của Thiên Chúa
Trong
kinh nguyện, Chúa Thánh Thần kết hiệp chúng ta với
Ngôi Vị của Chúa Con, nơi nhân tính vinh quang của Người.
Nhờ và trong nhân tính ấy, khi chúng ta cầu nguyện như
những người con Thiên Chúa, chúng ta hiệp thông với Mẹ
của Đức Giê-su trong Hội Thánh. [Back]
2674
Trong
ngày Truyền Tin, Mẹ Ma-ri-a đã tin tưởng mà ưng thuận
và Mẹ không ngần ngại giữ vững sự ưng thuận
ấy dưới chân Thập Giá. Tình mẫu tử của
Đức Ma-ri-a lan rộng đến những anh em của Đức
Giê-su đang lữ hành trên dương thế và đang gặp bao nguy hiểm,
thử thách . Đức Giê-su, Đấng Trung Gian duy nhất, là
con đường chúng ta phải theo khi cầu nguyện. Đức
Ma-ri-a là Mẹ của Người và Mẹ chúng ta; Mẹ là
hình ảnh trong suốt của Người. Các ảnh tượng
thánh truyền thống của Giáo Hội Đông và Tây Phương đều
cho thấy Mẹ là người chỉ đường và là dấu chỉ
về Đức Giê-su. [Back]
2675
Các
Giáo Hội khai triển việc cầu nguyện với
Thánh Mẫu của Thiên Chúa, bằng cách tập trung suy niệm
các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Ki-tô, vì Đức
Ma-ri-a đã cộng tác đặc biệt vào các hoạt động
của Chúa Thánh Thần. Trong vô số thánh thi và tiền xướng
diễn tả tâm tình cầu nguyện này, có hai hướng
thường xuyên xen kẽ nhau: hướng thứ nhất "ngợi
khen" Chúa vì "biết bao điều cao cả"
Người đã ban cho Nữ Tỳ hèn mọn và qua Mẹ,
cho tất cả nhân loại (Lc
1,46-55); hướng
thứ hai dâng lên Thân Mẫu của Đức Giê-su những lời
khẩn cầu và ca ngợi của con cái Thiên Chúa, vì
giờ đây Mẹ đã liên kết chặt chẽ với
Con Thiên Chúa làm người.
[Back]
2676
Cả
hai hướng cầu nguyện với Đức Ma-ri-a được nổi
bật trong kinh Kính Mừng:
"Kính Mừng Ma-ri-a": kinh Kính Mừng mở đầu
bằng lời chào của thiên thần Gáp-ri-en. Qua lời sứ
thần, chính Thiên Chúachào Đức Ma-ri-a. Chúng ta lặp lại
lời Thiên Chúa nói với người nữ tỳ hèn mọn (Lc 1,48) và hân hoan vì niềm vui Thiên Chúa
tìm được nơi Đức Ma-ri-a (Xp 3,17b).
"Bà đầy ân phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà": hai lời chào của
thiên thần bổ túc cho nhau. Đức Ma-ri-a đầy ân sủng
vì "Chúa ở cùng bà". Ân sủng cao quý nhất
nơi Mẹ chính là sự hiện diện của Đấng là
nguồn mạch mọi ân sủng. "Mừng vui lên... thiếu
nữ Giê-ru-sa-lem... Đức Chúa ở với ngươi" (Xp 3,14.17a). Vì Chúa đến ở cùng Mẹ, nên Mẹ
là hiện thân của thiếu nữ Xi-on, là khám Giao Ước,
nơi vinh quang Đức Chúa ngự trị. Đức Ma-ri-a là
"nơi Thiên Chúa ở cùng nhân loại" (Kh 21,3). Đầy ơn phúc, Mẹ đã tận hiến cho Đấng đến
ở cùng Mẹ và Mẹ sắp trao Người lại cho thế
giới.
"Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giê-su con
lòng bà gồm phúc lạ".
Sau lời chào của thiên thần, chúng ta lặp lại lời
của bà Ê-li-sa-bét. "Được tràn đầy ơn Thánh Thần"
(Lc 1,41), bà Ê-li- sa-bét là người đầu
tiên trong chuỗi người muôn thế hệ tuyên xưng Đức
Ma-ri-a là người diễm phúc (Lc 1,48):
"diễm
phúc vì đã tin..." (Lc 1,45). Đức Ma-ri-a "có
phúc lạ hơn mọi người nữ" vì Mẹ
đã tin lời Chúa phán sẽ được thực hiện. Nhờ
tin, ông Áp-ra-ham đã trở nên lời chúc phúc cho "mọi
dân tộc trên mặt đất" (St 12,3).
Nhờ tin, Đức Ma-ri-a trở nên Mẹ của các tín hữu;
nhờ Mẹ, mọi dân tộc trên mặt đất nhận
được Đấng là chính phúc lành của Thiên Chúa: "Giê-su,
con lòng bà gồm phúc lạ." [Back]
2677
Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...
" Cùng
với bà Ê-li-sa-bét chúng ta sửng sốt: "Bởi đâu tôi
được hân hạnh thân mẫu Chúa tôi đến viếng thăm
như vậy?" (Lc 1,43). Vì Mẹ đã đem đến
cho chúng ta Đức Giê-su Con của Mẹ, nên Đức Ma-ri-a là
Mẹ Thiên Chúa và Mẹ của chúng ta: chúng ta có thể phó
thác cho Mẹ mọi nỗi âu lo và mọi lời cầu khẩn.
Mẹ cầu nguyện cho chúng ta như Mẹ đã cầu
nguyện cho chính bản thân: "Xin Chúa làm cho tôi như lời
sứ thần nói" (Lc 1,38). Khi nhờ Mẹ cầu
thay nguyện giúp, chúng ta cùng với Mẹ phó thác cho Thánh
Ý Thiên Chúa: "Nguyện cho ý Cha thể hiện".
"Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ
lâm tử": Khi xin Mẹ cầu thay nguyện giúp, chúng ta nhìn nhận
mình là kẻ tội lỗi khốn cùng và kêu cầu đến
"Mẹ từ bi nhân ái", Mẹ Rất Thánh. Chúng ta
trao phó cho Mẹ cuộc đời ta khi này, trong giây phút hiện
tại này. Lòng tín thác này còn trải dài đến tận
giờ lâm tử. Xin Mẹ hiện diện trong giờ phút
đó như ngày xưa lúc Con của Mẹ chết trên thập giá. Giờ
chúng ta qua đời, ước mong Mẹ đón nhận chúng ta là con
cái và dẫn đưa đến cùng Đức Giê-su Con của Mẹ
trong nước Thiên Đàng. [Back]
2678
Thời
Trung Cổ, các tín hữu Tây Phương phát triển việc lần
hạt Mân côi như một hình thức đạo đức
bình dân thay thế các giờ kinh Phụng Vụ. Trong
Giáo Hội Đông Phương, hình thức kinh cầu Đức Bà
(Acathiste và Paraclisis) còn rất gần với Phụng
Vụ Giờ Kinh dạng hợp xướng của các Giáo Hội
Bi-zan-tin; trong khi đó, những truyền thống Armeni, Copte và
Siriaque lại ưa chuộng các thánh thi và thánh ca bình dân về
Mẹ Thiên Chúa. Nhưng trong kinh Kính Mừng, các kinh cầu Thánh
Mẫu, những thánh thi của thánh Ép-rem hay Ghê-gô-ri-ô thành
Narek, truyền thống cầu nguyện về căn bản vẫn
là một.
[Back]
2679
Đức
Ma-ri-a là Người Cầu Nguyện trọn hảo, là
hình ảnh của Hội Thánh. Khi cầu cùng Mẹ,
chúng ta cùng với Mẹ liên kết vào ý định của
Chúa Cha, Đấng cử Con Một Người đến để cứu
độ toàn thể nhân loại. Mẹ của Đức Giê-su
đã trở thành Mẹ của toàn thể chúng sinh (Ga 19,27), nên như người môn đệ được Chúa yêu,
chúng ta rước Mẹ về nhà mình. Chúng ta có thể cầu
nguyện cùng với Mẹ và kêu cầu Mẹ. Kinh nguyện
của Hội Thánh được lời cầu nguyện của
Đức Ma-ri-a nâng đỡ và được kết hiệp với
kinh nguyện của Mẹ trong niềm cậy trông (LG 68-69).
[Back]
2680
Tóm
lược
Kinh nguyện chủ yếu được
dâng lên Chúa Cha, cũng được hướng về Chúa Giê-su, nhất
là bằng việc kêu cầu Thánh Danh Người: "Lạy
Đức Giê-su Ki-tô, là Con Thiên Chúa và là Chúa chúng con, xin thương xót
chúng con là kẻ có tội." [Back]
2681
“Không ai có thể nói rằng: "Đức Giê-su là
Chúa" nếu không được Thánh Thần giúp sức cho.”
(1 Cr 12, 3) Hội Thánh mời gọi chúng ta kêu cầu
Chúa Thánh Thần như người Thầy nội tâm dạy người
Ki-tô hữu biết cầu nguyện. [Back]
2682
Nhờ sự cộng tác đặc biệt
của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a vào tác động của Chúa
Thánh Thần, Hội Thánh thường kết hợp với Đức
Mẹ trong kinh nguyện, để cùng với Mẹ ngợi
khen Thiên Chúa vì biết bao điều cao cả Người
đã làm cho Mẹ, và dâng lên Mẹ lời khẩn cầu
và ca ngợi. [Back]
Dẫn đến kinh nguyện
Đám mây chứng nhân
Có những chứng nhân đã đi trước chúng ta vào Nước Thiên Chúa, đặc biệt là các vị được Hội Thánh tuyên phong là Thánh. Các ngài tham dự vào truyền thống kinh nguyện sống động của Hội Thánh, bằng gương mẫu đời sống, bằng các văn phẩm để lại, và bằng lời cầu nguyện hiện nay của các ngài. Các ngài đang chiêm ngưỡng Thiên Chúa, đang ca ngợi Người và không ngừng quan tâm đến những kẻ còn ở trần gian. Khi "vào chung hưởng với Chủ", các ngài được "đặt lên coi nhiều việc" (Mt 25,21). Chuyển cầu là công việc cao cả nhất của các ngài theo ý định của Thiên Chúa. Chúng ta có thể và có bổn phận xin các ngài chuyển cầu cho chúng ta và cho toàn thế giới. [Back]
2684
Trong mầu nhiệm các thánh thông công, nhiều trường phái linh đạo khác nhau đã được khai triển theo dòng lịch sử các Giáo Hội. Đặc sủng riêng của một chứng nhân cho tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại, có thể được truyền lại, như Thần Khí của Ê-li-a được truyền lại cho Ê-li-sê và Gio-an Tẩy Giả; nhờ đó, các môn đệ được dự phần vào tinh thần của vị chứng nhân này. Một linh đạo thường xuất phát từ điểm hội tụ các trào lưu khác trong Hội Thánh, về phụng vụ cũng như thần học, và là chứng từ cho việc đức tin hội nhập văn hóa vào một môi trường con người và lịch sử. Các linh đạo Ki-tô giáo tham dự vào truyền thống kinh nguyện sống động và là những phương thế cần thiết dẫn các tín hữu đến với kinh nguyện. Sự đa dạng phong phú của các linh đạo phản chiếu ánh sáng tinh tuyền và duy nhất của Chúa Thánh Thần.
"Thánh Thần chính là môi trường sống của các thánh nhân, mỗi thánh nhân là môi trường hoạt động của Thánh Thần, vì thánh nhân hiến dâng tâm hồn cho Thiên Chúa ngự trị và được gọi là Đền Thờ của Thánh Thần". (Thánh Ba-si-li-ô Cả, Bàn về Thánh Thần 26, 62) [Back]
2685
Những người giúp chúng ta cầu nguyện
Gia đình Ki-tô hữu là nơi đầu tiên để học cầu nguyện. Được xây dựng trên bí tích Hôn Phối, gia đình là Hội Thánh thu nhỏ, là nơi con cái Thiên Chúa học biết cầu nguyện với tư cách là Hội Thánh và kiên trì cầu nguyện. Đặc biệt với các trẻ nhỏ, kinh nguyện hằng ngày của gia đình là chứng từ đầu tiên về ký ức sống động của Hội Thánh luôn được Chúa Thánh Thần nhắc nhở. [Back]
2686
Các thừa tác viên có chức thánh cũng là những người
có trách nhiệm huấn luyện cho anh chị em tín hữu
biết cầu nguyện. Các ngài là tôi tớ của vị
Mục Tử Nhân Lành, được trao tác vụ để hướng
dẫn dân Thiên Chúa đến với các nguồn mạch sống
động của kinh nguyện: Lời Chúa, Phụng Vụ, đời
sống Tin Cậy Mến, sự hiện diện và hoạt
động của Thiên Chúa hiện nay trong những hoàn cảnh
cụ thể. [Back]
2687
Nhiều
tu sĩ đã dâng hiến
trọn đời để cầu nguyện. Từ xa xưa trong sa
mạc Ai-Cập, đã có các ẩn sĩ, các đan sĩ nam
nữ dành thời giờ để ca ngợi Thiên Chúa và chuyển
cầu cho Dân Người. Đời sống thánh hiến không thể
tồn tại và triển nở nếu không có kinh nguyện.
Đời sống thánh hiến là một trong những nguồn
mạch sống động của chiêm niệm và đời sống
thiêng liêng trong Hội Thánh.
[Back]
2688
Huấn giáo dành cho thiếu nhi, thiếu niên và người
trưởng thành đều hướng tới việc suy gẫm Lời
Chúa trong kinh nguyện cá nhân, được hiện tại hóa trong
kinh nguyện phụng vụ, và được nội tâm hóa trong mọi
lúc, để sinh hoa kết quả trong một đời sống
mới. Huấn Giáo cũng nhằm để nhận định
và huấn luyện các việc đạo đức. Việc học
thuộc lòng các kinh căn bản rất cần cho đời
sống cầu nguyện; nhưng điều quan trọng là phải
làm cho Ki-tô hữu cảm nhận được ý nghĩa của
những kinh nguyện này. [Back]
2689
Ngày nay, các nhóm và các khóa cầu nguyện
là dấu chỉ và là một trong những sức năng động
để canh tân kinh nguyện trong Hội Thánh, nếu được
rút ra từ những nguồn mạch đích thực của
kinh nguyện Ki-tô giáo. Quan tâm đến hiệp thông là dấu
chỉ của kinh nguyện chân thực trong Hội Thánh. [Back]
2690
Một số tín hữu được Chúa Thánh Thần ban cho những hồng ân đặc biệt : khôn ngoan, đức tin và khả năng nhận định, để phục vụ lợi ích chung bằng việc hướng dẫn người khác sống đời cầu nguyện. Những người được đặc sủng này thực sự phục vụ cho truyền thống cầu nguyện sống động trong Hội Thánh:
Thánh Gio-an Thánh Giá khuyên:
linh hồn nào muốn tiến triển trên đường trọn
lành, phải suy xét kỹ khi chọn vị linh hướng,
vì thầy nào trò nấy, cha nào con nấy. Vị
hướng dẫn phải là người khôn ngoan thông thái, và giàu
kinh nghiệm. Nếu vị linh hướng không có kinh nghiệm
về đời sống thiêng liêng, thì không có khả năng
đưa dẫn các linh hồn được Thiên Chúa kêu gọi đến
với đời sống cầu nguyện và ngài cũng không
hiểu được họ nữa. [Back]
2691
Những địa điểm thuận lợi để cầu nguyện
Nhà Thờ là nhà Chúa, nơi dành riêng cho kinh nguyện phụng vụ của cộng đoàn giáo xứ. Nhà Thờ cũng là nơi đặc biệt để tôn thờ Đức Ki-tô đang hiện diện thực sự trong Thánh Thể. Chọn một nơi thích hợp để cầu nguyện cũng là điều quan trọng:
- Để
cầu nguyện riêng, có thể chọn một chỗ cầu
nguyện trong nhà, có ảnh tượng và Sách Thánh; ở đó
chúng ta đóng cửa lại cầu nguyện cùng Cha, Đấng
hiện diện nơi kín đáo (Mt 6,6). Trong các gia đình
Ki-tô hữu, một chỗ cầu nguyện đơn sơ như thế
rất thuận lợi cho việc cầu nguyện chung.
- Những cộng đoàn đan sĩ có trách nhiệm tạo thuận
lợi cho các tín hữu được tham gia những Giờ Kinh
Phụng Vụ và có được sự cô tịch cần thiết
để cá nhân cầu nguyện sâu lắng hơn.
- Những cuộc hành hương nhắc nhở chúng ta về thân phận lữ hành nơi trần thế. Theo truyền thống, hành hương là những thời điểm đặc biệt để canh tân kinh nguyện. Đối với những khách hành hương đi tìm nguồn sống, các thánh điện là những địa điểm đặc biệt để họ thực hành những cách thức cầu nguyện trong Hội Thánh. [Back]
2692
Tóm
lược
Trong
kinh nguyện, Hội Thánh lữ hành được liên kết với
toàn thể các thánh và nhờ các ngài chuyển cầu cho
mình.
[Back]
2693
Các
trường phái linh đạo Ki-tô giáo đều góp phần vào truyền
thống kinh nguyện sống động của Hội Thánh,
và là những con đường quý giá dẫn đến đời
sống thiêng liêng. [Back]
2694
Gia đình Ki-tô hữu là nơi đầu
tiên giáo dục con người cầu nguyện. [Back]
2695
Trong Hội Thánh, các tín hữu tìm
được sự giúp đỡ cho việc cầu nguyện nơi các
thừa tác viên có chức thánh, đời sống thánh hiến,
huấn giáo, các nhóm cầu nguyện việc linh hướng. [Back]
2696
Những nơi xứng hợp nhất để
cầu nguyện là chỗ cầu nguyện cho cá nhân hay gia
đình, các đan viện, các địa điểm hành hương, và nhất
là nhà thờ, nơi dành riêng cho kinh nguyện phụng vụ của
cộng đoàn giáo xứ và nơi đặc biệt để tôn thờ
Thánh Thể. [Back]
Đời sống cầu nguyện
Cầu nguyện là sống với một tâm hồn đã được Thiên Chúa đổi mới. Cầu nguyện phải làm cho đời sống chúng ta sinh động mọi lúc. Tuy nhiên chúng ta thường quên Đấng là Sự Sống và là Tất Cả đối với chúng ta. Vì thế, tiếp nối truyền thống Đệ Nhị Luật và các ngôn sứ, những bậc thầy linh đạo đều nhấn mạnh : cầu nguyện là nhớ đến Chúa, là thường xuyên hướng tâm hồn lên Chúa. Phải nhớ đến Chúa nhiều hơn cả nhịp thở của mình. Nhưng chúng ta không thể cầu nguyện trong mọi lúc, nếu không có những thời điểm chủ ý dành để cầu nguyện, đây là những giờ phút cao điểm của đời sống cầu nguyện, chuyên chú hơn và kéo dài hơn. [Back]
2698
Truyền
thống của Hội Thánh đề ra cho các tín hữu những
dịp cầu nguyện để nuôi dưỡng đời sống
nội tâm. Nhịp cầu nguyện hằng ngày là: kinh sáng
và kinh tối, trước và sau các bữa ăn, các giờ kinh Phụng
Vụ. Hằng tuần, Ki-tô hữu phải thánh hóa ngày Chúa
nhật chủ yếu bằng kinh nguyện, mà trọng tâm
là Thánh Lễ. Hằng năm, chu kỳ phụng vụ và các đại
lễ là những nhịp căn bản cho đời sống cầu
nguyện của Ki-tô hữu.
[Back]
2699
Chúa
hoàn toàn tự do hướng dẫn mỗi người một
cách. Mỗi tín hữu cũng đáp lại theo quyết tâm và
những hình thức cầu nguyện riêng của
mình. Tuy nhiên, truyền thống Ki-tô giáo truyền lại
ba hình thức cầu nguyện chính: Khẩu nguyện,
suy gẫm và chiêm niệm. Cả ba cùng có một nét căn bản
chung: tịnh tâm. Tỉnh thức, để giữ lấy Lời
Chúa và để hiện diện trước nhan thánh Người. Để
ba hình thức này trở thành những thời điểm
đặc biệt trong đời sống cầu nguyện, chúng
ta phải tỉnh thức.
[Back]
2700
Những cách thức cầu nguyện
Khẩu nguyện
Thiên
Chúa dùng Ngôi Lời của Người để nói với loài người.
Kinh nguyện của chúng ta cũng được hình thành bằng
lời: trong lòng trí hay ra ngoài miệng. Điều quan trọng
nhất là tâm hồn hướng về Đấng chúng ta thân thưa
khi cầu nguyện. "Lời cầu nguyện của ta
được Chúa nhậm lời, không tùy thuộc vào việc nói
nhiều hay ít, nhưng tùy thuộc vào nhiệt tâm của linh hồn"
(T. Gio-an Kim Khẩu,7) [Back]
2701
Đời
sống Ki-tô hữu không thể thiếu khẩu nguyện.
Việc Chúa Giê-su thinh lặng cầu nguyện đã thu
hút các môn đệ, nhưng Người đã dạy họ một
lời khẩu nguyện: Kinh Lạy Cha. Như Tin Mừng cho
thấy, Đức Giê-su không chỉ đọc kinh chung theo phụng
vụ của hội đường, mà còn lớn tiếng cầu
nguyện riêng, từ lời hân hoan chúc tụng Chúa Cha cho đến
lời xao xuyến trong vườn Cây Dầu (Mc 14, 36).
[Back]
2702
Bản
tính con người đòi hỏi kết hợp giác quan với
tâm tình khi cầu nguyện. Con người có hồn và xác
nên cảm thấy cần bộc lộ những tâm
tình ra bên ngoài. Lời cầu nguyện tha thiết nhất
là lời khẩn cầu với cả tâm hồn và thể
xác.
[Back]
2703
Nhu
cầu này của con người cũng đáp lại đòi hỏi
của Thiên Chúa. Thiên Chúa tìm những kẻ thờ phượng
Người trong Thần Khí và Sự Thật, nên Người muốn
chúng ta dâng lên kinh nguyện sống động tự đáy
lòng. Người còn muốn có những hình thức
bên ngoài liên kết thân xác với kinh nguyện nội tâm,
vì chúng ta có bổn phận dâng lên Người lời ca ngợi
hoàn hảo như thế. [Back]
2704
Khẩu
nguyện là cầu nguyện thành tiếng, cách diễn tả
rất phù hợp với con người, nên thích hợp nhất
cho đám đông. Ngay cả khi cầu nguyện trong lòng, chúng
ta không được xao lãng khẩu nguyện. Kinh nguyện
trở thành tâm tình bên trong khi chúng ta ý thức về
Đấng "chúng ta đang thưa chuyện" (T. Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su). Lúc đó, khẩu nguyện biến thành
hình thức đầu tiên của cầu nguyện chiêm niệm. [Back]
Suy gẫm
Suy gẫm trước hết là tìm hiểu. Tâm trí ta tìm hiểu lý do và cách thức sống đời Ki-tô hữu, để đón nhận và đáp lại những gì Chúa đòi hỏi ta. Điều khó trong suy gẫm là phải cầm trí. Thông thường, chúng ta có thể dùng đến sách để được giúp đỡ mà loại sách này không thiếu : các Sách Thánh đặc biệt là Tin Mừng, các ảnh tượng thánh, bản văn phụng vụ theo ngày và theo mùa, tác phẩm của các Linh Phụ, các sách linh đạo, cuốn sách vĩ đại là vạn vật và lịch sử với trang "Ngày Hôm Nay" của Thiên Chúa. [Back]
2706
Suy gẫm là đối diện
với điều mình đọc và đối chiếu với bản
thân. Nhờ đó, cuốn sách cuộc đời được mở
ra. Chúng ta chuyển từ những tư tưởng sang thực tại.
Tùy theo lòng khiêm tốn và đức tin, chúng ta nhận thức
những chuyển động nội tâm nhận định để
biết ý Chúa. Điều chính yếu là phải thực
thi chân lý để đến cùng Ánh Sáng: "Lạy Chúa, Chúa
muốn con làm gì?"
[Back]
2707
Có
bao nhiêu bậc thầy linh đạo thì có bấy nhiêu
phương pháp suy gẫm. Mỗi Ki-tô hữu phải chọn cho
mình một phương pháp thích hợp để suy gẫm đều
đặn; nếu không, tâm hồn họ sẽ giống như ba
loại đất đầu tiên trong dụ ngôn Người Gieo Giống.
Nhưng phương pháp chỉ là người hướng dẫn, điều
quan trọng là chúng ta phải để Chúa Thánh Thần hướng
dẫn mà tiến bước, theo Đức Ki-tô trên con đường cầu
nguyện. [Back]
2708
Muốn
suy gẫm chúng ta phải vận dụng khả năng suy tư,
trí tưởng tượng, cảm xúc và ước muốn, để
đào sâu xác tín, khơi dậy lòng hoán cải và củng cố
quyết tâm theo Đức Ki-tô. Nên ưu tiên suy gẫm về các mầu
nhiệm của Đức Ki-tô như trong sách thiêng liêng hay kinh Mân
Côi. Hình thức miệng đọc lòng suy này có giá trị
rất lớn, nhưng kinh nguyện Ki-tô giáo còn phải
vươn xa hơn nữa: vươn tới việc nhận biết
tình yêu Chúa Giê-su và kết hiệp với Người. [Back]
2709
Chiêm niệm
Chiêm niệm là gì?
Thánh nữ Tê-rê-sa Cả cho biết: "Theo tôi, chiêm niệm
chính là một cuộc trao đổi thân tình giữa hai
người bạn, thường chỉ là một mình đến
với Thiên Chúa mà ta biết là Đấng yêu thương ta.”
Trong chiêm niệm, chúng ta
đi tìm "Đấng lòng ta yêu mến" (Dc 1,7), nghĩa là chính Đức Giê-su, và trong Người,
chúng ta tìm đến Chúa Cha. Chúng ta đi tìm Người,
vì ta yêu mến nên khao khát Người. Phải tìm kiếm
Người với một đức tin tinh tuyền, đức tin
này làm cho ta được sinh ra nhờ Người và được sống
trong Người. Trong chiêm niệm, có thể chúng ta vẫn suy
gẫm, nhưng tâm trí hướng thẳng về Chúa.
[Back]
2710
Chiêm
niệm lúc nào và bao lâu tùy thuộc
vào quyết tâm của ta, quyết tâm này bộc lộ
các điều kín nhiệm trong lòng. Không phải khi nào có
thời giờ ta mới cầu nguyện, nhưng phải dành
thời giờ cho Chúa, với quyết tâm không rút lại thời
gian này, dù gặp thử thách và khô khan khi cầu nguyện.
Không phải lúc nào cũng có thể suy gẫm, nhưng lúc nào cũng
có thể chiêm niệm, bất chấp những tình trạng
về sức khỏe, công việc và tâm tình. Nơi mà ta
tìm kiếm và gặp gỡ Thiên Chúa, trong khiêm nhu và tín
thác chính là lòng ta.
[Back]
2711
Tương
tự như khi cử hành phụng vụ Thánh Thể, khi chiêm niệm chúng ta phải
cầm trí, hoàn toàn phó thác cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn,
ý thức Chúa ngự trong tâm hồn, giục lòng
tin đến trước nhan Chúa Đấng đang đợi chờ ta, phải
rũ bỏ mọi thứ giả dối và hướng
lòng mình về Chúa, Đấng yêu thương ta, để phó
dâng bản thân cho Người như một lễ vật cần
Người thanh luyện và biến đổi.
[Back]
2712
Chiêm
niệm là kinh nguyện của con cái Thiên Chúa, của tội
nhân đã được tha thứ nay sẵn sàng đón nhận
tình yêu được ban tặng và mong đáp lại tình yêu
đó bằng cách yêu mến nhiều hơn. Người đó cũng biết
rằng mình có thể yêu thương, đáp trả được là nhờ
Thánh Thần trong tâm hồn, vì tất cả đều là
ân sủng Thiên Chúa ban. Chiêm niệm là tâm tình của người
nghèo khó và khiêm tốn phó thác cho thánh ý yêu thương của
Chúa Cha, trong hiệp nhất ngày càng sâu xa hơn với Con Yêu Dấu
của Người.
[Back]
2713
Như
thế, chiêm niệm là hình thức đơn sơ nhất của
kinh nguyện. Chiêm niệm là một hồng ân, một món quà Thiên Chúa ban tặng;
chúng ta chỉ có thể đón nhận với tâm tình của
người khiêm tốn và nghèo khó. Chiêm niệm là một tương
quan giao ước
Thiên Chúa thiết lập nơi đáy lòng ta (Gr 31, 33). Chiêm niệm là hiệp thông, nhờ đó, Ba Ngôi Chí Thánh làm cho
con người mang hình ảnh Thiên Chúa trở nên giống
Thiên Chúa. [Back]
2714
Chiêm
niệm là cao điểm của
đời cầu nguyện. Trong chiêm niệm Chúa Cha ban cho chúng
ta được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí
của Người, để con người nội tâm nơi chúng ta được
vững vàng; cho chúng ta, nhờ lòng tin, được Đức
Ki-tô ngự trong tâm hồn; cho chúng ta được bén rễ sâu
và xây dựng vững chắc trên đức mến. [Back]
2715
Chiêm
niệm là lấy đức tin mà chiêm
ngắm Đức Giê-su. Người dân quê làng Ars đã từng
nói với thánh Gio-an Vianê, cha sở của ông, về những
lúc cầu nguyện trước Nhà Tạm: "Tôi nhìn
Chúa và Chúa nhìn tôi". Muốn chiêm ngắm Chúa phải
biết quên đi cái tôi của mình. Cái nhìn của
Chúa thanh luyện tâm hồn ta; ánh sáng tôn nhan Người soi sáng
con mắt linh hồn, dạy cho ta biết nhìn tất
cả trong ánh sáng của chân lý và lòng thương xót Người
dành cho mọi người. Khi chiêm niệm ta cũng nhìn
vào các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Ki-tô; nhờ đó, ta
hiểu biết thâm sâu về Chúa hơn để yêu mến và đi
theo Người hơn nữa.
[Back]
2716
Chiêm
niệm là lắng nghe Lời
Chúa. Đây không phải là một thái độ thụ động,
nhưng là thái độ vâng phục của người tin Chúa, sự
đón nhận vô điều kiện của người tôi tớ, sự
gắn bó yêu thương của người con. Khi đó, cùng với Chúa
Con, Đấng đã trở thành người tôi tớ, và với
Đức Ma-ri-a, Người Nữ Tì khiêm tốn của
Thiên Chúa, chúng ta thưa với Chúa Cha "xin vâng" [Back]
2717
Chiêm niệm là thinh lặng,
biểu tượng của thế giới đang tới, hay của
tình yêu thầm lặng. Trong tâm nguyện lời nói
không phải là diễn từ, nhưng chỉ là những cọng
rơm giữ cho ngọn lửa tình yêu luôn cháy sáng. Trong sự
thinh lặng này, sự thinh lặng mà kẻ hướng ngoại
không thể giữ nổi, Chúa Cha sẽ nói với ta Lời
của Người: Ngôi Lời đã nhập thể, chịu
đau khổ, chịu chết và sống lại; và Thần Khí
nghĩa tử sẽ dạy ta cùng cầu nguyện với
Chúa Giê-su. [Back]
2718
Chiêm niệm cho ta hiệp
nhất với Đức Ki-tô trong kinh nguyện theo mức độ
cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người. Mầu
nhiệm Đức Ki-tô được Hội Thánh cử hành trong bí
tích Thánh Thể, và được Chúa Thánh Thần làm cho sống động
trong chiêm niệm, để chúng ta bày tỏ các mầu nhiệm
đó qua hành vi đức mến.
[Back]
2719
Chiêm
niệm là một hiệp thông tình yêu có sức đem lại
sự sống thần linh cho nhiều người, nếu
chúng ta chấp nhận bước đi trong đêm tối đức tin.
Đức Ki-tô đã trải qua Đêm hấp hối và Đêm âm phủ
để bước vào Đêm Phục Sinh. Đây là ba đỉnh cao của
Đức Giê-su. Chúa Thánh Thần chứ không phải xác thịt
yếu đuối đã giúp Đức Giê-su sống Giờ ấy
trong chiêm niệm. Chúng ta phải sẵn lòng thức một
giờ với Người.
[Back]
2720
Tóm
lược
Hội Thánh mời gọi các tín hữu
cầu nguyện đều đặn qua các kinh nguyện hằng
ngày và các Giờ Kinh Phụng Vụ, qua thánh lễ Chúa nhật
và qua các lễ trọng của năm phụng vụ. [Back]
2721
Truyền thống Ki-tô giáo có ba
hình thức cầu nguyện quan trọng : khẩu
nguyện, suy gẫm và chiêm niệm. Cả
ba đòi hỏi ta phải tịnh tâm.
[Back]
2722
Dựa vào bản tính con người có hồn
có xác, khẩu nguyện kết hợp thái độ bên ngoài với
tâm tình bên trong theo gương Đức Giê-su, Đấng cầu
nguyện với Thiên Chúa Cha và dạy các môn đệ kinh Lạy
Cha.
[Back]
2723
Suy gẫm là tìm hiểu trong khi cầu
nguyện, bằng cách vận dụng khả năng suy tư, trí
tưởng tượng, cảm xúc và ước muốn. Nhờ suy gẫm
chúng ta hấp thụ được đề tài trong đức tin và đối
chiếu với thực tại cuộc sống. [Back]
2724
Chiêm
niệm là hình thức đơn sơ của kinh nguyện, là lấy
đức tin mà chiêm ngắm Đức Giê-su, là lắng nghe Lời
Chúa, là yêu mến Chúa trong thinh lặng. Chiêm niệm cho ta hợp
nhất với Đức Ki-tô trong kinh nguyện của Đức
Ki-tô theo mức độ chúng ta tham dự vào mầu nhiệm
của Người. [Back]
Cầu nguyện là một chiến đấu
Đối với chúng ta, cầu nguyện là một hồng ân của Thiên Chúa và là một lời đáp quyết liệt. Cầu nguyện luôn đòi phải nỗ lực. Các thánh nhân trong Cựu Ước, Đức Ma-ri-a, các thánh, và chính Đức Ki-tô đều dạy chúng ta: cầu nguyện là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu chống lại ai? Chiến đấu với bản thân ta và chống lại các mưu chước của ma quỷ cám dỗ, vì chúng làm mọi cách để con người bỏ cầu nguyện, không kết hợp với Thiên Chúa. Người ta cầu nguyện thế nào thì cũng sống như vậy, vì ta sống như ta cầu nguyện. Khi ta không muốn thường xuyên hành động theo Thánh Thần của Đức Ki-tô, thì ta không thể thường xuyên cầu nguyện nhân danh Người. Cuộc chiến đấu thiêng liêng để người Ki-tô hữu sống đời sống mới, không thể tách rời khỏi cuộc chiến trong cầu nguyện. [Back]
2726
Những trở ngại cho việc cầu nguyện
Trước hết, để có thể cầu nguyện, chúng ta phải đương đầu với những quan niệm sai lạc của mình cũng như của những người xung quanh. Có người coi cầu nguyện chỉ đơn thuần là một hoạt động tâm lý; có người lại cho là một nỗ lực tập trung tư tưởng để tâm trí được an định. Người khác lại giản lược cầu nguyện vào những thái độ và lời kinh theo nghi thức. Trong thâm tâm, nhiều Ki-tô hữu cho rằng cầu nguyện là mất giờ, không thể dung hợp với những gì họ đang phải làm: họ không có giờ để cầu nguyện. Có những người mong tìm kiếm Thiên Chúa bằng cầu nguyện, nhưng lại sớm nản lòng, vì họ không biết rằng cầu nguyện không phải là việc của riêng họ mà còn do ơn Chúa Thánh Thần. [Back]
2727
Kế đến chúng ta phải cảnh giác để khỏi bị lây nhiễm những não trạng của thế gian này, chẳng hạn:
- Có người cho rằng chỉ những gì lý trí và khoa học chứng minh được mới là chân lý, trong khi cầu nguyện là một mầu nhiệm vượt quá ý thức và vô thức của con người.
- Có người đánh giá mọi sự theo sản phẩm và thành quả nên cho việc cầu nguyện là vô ích vì phi sản xuất.
- Có người lấy khoái lạc và tiện nghi làm thước đo chân thiện mỹ; thực ra cầu nguyện chính là yêu mến chân thiện mỹ đích thực, là say mê Vinh Quang của Thiên Chúa hằng sống và chân thật.
- Có người coi cầu nguyện là một cách trốn đời, tránh cuộc sống hiếu động; thật ra cầu nguyện không phải là trốn khỏi dòng đời, cắt đứt với cuộc sống. [Back]
2728
Cuối cùng, chúng ta cần
phải đương đầu với những gì chúng ta cảm
nhận được như những
thất bại trong việc cầu nguyện:
chán nản vì khô khan, buồn phiền vì mình
không tiến dâng tất cả cho Chúa, (vì chúng ta có nhiều
của cải) , thất vọng vì Chúa không theo ý
mình, kiêu ngạo nên chai lỳ trong tình trạng bất
xứng của tội nhân, dị ứng với việc cầu
nguyện vì cho rằng cầu nguyện là xin xỏ và
việc cho không của Chúa. Những điều này luôn luôn dẫn
đến cùng một kết luận: cầu nguyện để
làm gì? Muốn thắng được những trở ngại
này, chúng ta phải chiến đấu để biết khiêm nhường,
tín thác và kiên trì. [Back]
Tâm hồn khiêm tốn và tỉnh thức
Đương đầu với những khó khăn khi cầu nguyện
Khó khăn thường gặp trong việc cầu nguyện là chia trí. Chúng ta không tập trung vào lời đọc và ý nghĩa của lời kinh trong khẩu nguyện; sâu xa hơn, vào chính Đấng mà ta đang gặp gỡ trong khẩu nguyện (phụng vụ hay cá nhân), suy gẫm và chiêm niệm. Nguyên việc xua đuổi sự chia trí này là đã mắc bẫy. Lúc đó chúng ta chỉ cần trở về với chính lòng mình: chia trí cho thấy điều lòng ta đang bận tâm; ý thức được điều đó, chúng ta sẽ khiêm tốn hơn trước mặt Chúa; lòng khiêm tốn này sẽ nhắc nhở chúng ta phải yêu mến Người trên hết mọi sự và dâng tâm hồn ta để xin Người thanh tẩy. Như thế, đây là lúc phải chiến đấu: chọn lựa phục vụ ông chủ nào (Mt 6, 21-24). [Back]
2730
Về
mặt tích cực, cuộc chiến đấu chống lại
cái tôi thích chiếm hữu và thống trị đòi hỏi
phải tỉnh thức
và tiết độ. Khi kêu gọi các môn đệ tỉnh thức,
Đức Giê-su luôn đặt điều này trong mối quan hệ với
Người, và với việc Người đến vào ngày sau hết
cũng như mỗi ngày: vì ngày nào cũng là Ngày Hôm Nay của
Thiên Chúa. Chàng Rể đến vào nửa đêm, nên ta không được
để cho ánh sáng đức tin tàn lụi: "Nghĩ về
Ngài lòng con tự nhủ: hãy tìm kiếm Thánh
Nhan" (Tv 27,8).
[Back]
2731
Những
người thành tâm muốn cầu nguyện thường gặp
khó khăn là sự khô khan.
Tình trạng khô khan thường xảy đến trong chiêm
niệm; khi ta cảm thấy xa cách Chúa, không còn hứng
thú với những ý nghĩ hoài niệm và tâm tình
thiêng liêng. Đây là lúc chúng ta chỉ còn lấy đức tin
mà gắn bó với Đức Ki-tô trong cơn hấp hối và
trong mồ tối. "Hạt lúa gieo vào lòng đất, nếu
chết đi nó mới sinh nhiều hạt khác" (Ga 12, 24). Nếu tình trạng khô khan xảy ra
vì đức tin của ta thiếu nền tảng vững
chắc, vì Lời Chúa đã rơi xuống đá sỏi,
chúng ta cần chiến đấu để hoán cải nội tâm.
[Back]
2732
Đương đầu với những cám dỗ khi cầu nguyện
Cơn
cám dỗ thường gặp nhất, được che đậy khéo
léo nhất, là thiếu
lòng tin. Đây chưa phải là thái độ dứt khoát không
tin Chúa, nhưng trong thực tế nghiêng chiều về một
cái gì khác. Khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện,
chúng ta thấy có trăm ngàn công việc và lo toan, có lẽ cần
phải làm ngay, cần phải ưu tiên hơn; một lần nữa,
chúng ta thấy rõ lòng mình và sự chọn lựa
ưu tiên của mình. Có khi ta chạy đến Thiên Chúa như hy
vọng cuối cùng, nhưng liệu ta có thực lòng tin
Người không. Có khi chúng ta kêu xin Chúa cứu giúp, nhưng
lòng vẫn đầy tự cao. Trong mọi trường hợp,
thái độ thiếu lòng tin chứng tỏ chúng ta chưa thực
sự khiêm tốn: "Không có Thầy, anh em không làm gì được" (Ga 15,5). [Back]
2733
Tính
tự cao còn dẫn đến một cám dỗ khác là sự
nguội
lạnh. Các bậc thầy
linh đạo coi đây là một hình thức suy nhược do
thiếu khổ chế, chểnh mảng canh thức, lơ là
đời sống nội tâm. "Tinh thần hăng say nhưng thể
xác lại yếu hèn" (Mt 26, 41). Trèo cao té nặng. Thất vọng, đau khổ
là mặt trái của lòng tự cao. Ngược lại,
người khiêm tốn không lạ gì về sự khốn
cùng của mình, nhờ vậy họ càng thêm lòng
trông cậy và kiên trì trong cầu nguyện. [Back]
Lòng tin tưởng của người con
Lòng tin tưởng của con cái Thiên Chúa sẽ bị thử thách và được chứng thực "khi gặp gian truân" (Rm 5,3-5). Khó khăn lớn nhất xảy ra khi ta khẩn cầu cho chính mình hay chuyển cầu cho người khác. Có người thôi không cầu nguyện nữa, vì nghĩ rằng Thiên Chúa không nhận lời mình cầu xin. Ở đây, có hai vấn nạn: Tại sao chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa không nhận lời? Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được linh nghiệm, được Thiên Chúa nhận lời? [Back]
2735
Tại sao phàn nàn Chúa không nhận lời?
Nghĩ cũng lạ! Khi ngợi khen hay tạ ơn Thiên Chúa vì các ơn lành Người ban, ta không hề để ý xem những lời đó có đẹp lòng Người hay không; trái lại khi xin gì chúng ta đòi phải được ngay. Vậy chúng ta nghĩ Thiên Chúa là ai khi cầu nguyện: Người là phương tiện để ta sử dụng hay Người là Cha của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta? [Back]
2736
Chúng ta có xác tín rằng:
"Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải" (Rm 8,26). Những điều chúng ta cầu xin Thiên Chúa
có đúng là những ơn lành cần thiết không? Cha trên trời
biết rõ điều chúng ta cần, trước khi chúng ta
xin Người (Mt 6, 8); nhưng Người
chờ chúng ta kêu xin Người, vì phẩm giá của con
cái Thiên Chúa đòi chúng ta phải có tự do. Vậy chúng
ta phải cầu nguyện với Thần khí Tự Do của
Người, để có thể thực sự nhận biết ước
muốn của Người (Rm 8, 27).
[Back]
2737
"Anh
em không có là vì anh em không xin. Anh em xin mà không được là
vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc
hưởng lạc" (Gc 4, 2-3). Nếu chúng ta cầu
xin với một tấm lòng chia năm xẻ bảy như hạng
"bất trung" (Gc 4,4), Thiên Chúa không thể
nhận lời, vì Người muốn điều tốt
lành cho ta, muốn ta được sống. "Hay anh em nghĩ là
Lời Kinh Thánh sau đây là vô nghĩa: Thần khí mà Thiên Chúa
đã đặt trong chúng ta ước muốn đến phát ghen
lên?" (Gc 4,5). Thiên Chúa "phát ghen"
vì chúng ta, đó là dấu cho thấy Người thật
lòng yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy ước muốn theo
Chúa Thánh Thần và chúng ta sẽ được nhậm lời; Bạn
đừng buồn nếu bạn không được Thiên Chúa ban ngay
điều bạn xin; vì Người muốn cho bạn được
nhiều ích lợi hơn nữa, nhờ bạn kiên trì kết
hiệp với Người trong cầu nguyện. Người muốn
tôi luyện những ước muốn của chúng ta trong cầu
nguyện, để chúng ta có khả năng đón nhận những
gì Người sẵn lòng ban. [Back]
2738
Làm thế nào để lời cầu nguyện của chúng
ta được Thiên Chúa chấp nhận?
Mặc
khải về cầu nguyện trong nhiệm cục cứu
độ cho biết chúng ta có thể tin vì dựa vào hành
động của Thiên Chúa trong lịch sử. Hành động tuyệt
vời của Người, cuộc Khổ Nạn và Phục
Sinh của Đức Ki-tô đã khơi lên trong chúng ta lòng
tin tưởng phó thác của người con thảo. Đối với
người Ki-tô hữu, cầu nguyện là cộng tác với
Chúa Quan Phòng, với ý định yêu thương Người
dành cho nhân loại. [Back]
2739
Theo
thánh Phao-lô, chúng ta dám tin tưởng như thế,vì Chúa Thánh
Thần cầu nguyện trong lòng chúng ta và vì Chúa
Cha, Đấng đã ban Con Một của Người cho chúng ta,
hằng trung tín yêu thương ta. Ơn đầu tiên Chúa ban cho người
cầu nguyện là tâm hồn họ được biến đổi.
[Back]
2740
Nhờ
Đức Giê-su cầu nguyện mà lời cầu xin của
chúng ta được Thiên Chúa nhận lời. Chẳng những là
gương mẫu, Người còn cầu nguyện trong chúng ta
và với chúng ta nữa. Chúa Con chỉ tìm kiếm những
gì đẹp lòng Chúa Cha, không lẽ chúng ta là nghĩa
tử lại bận tâm về các quà tặng hơn cả Đấng
ban tặng sao? [Back]
2741
Đức
Giê-su cũng đứng vào vị trí của chúng ta và vì lợi
ích của chúng ta mà cầu nguyện cho chúng ta. Mọi lời
khẩn cầu của chúng ta đều được thâu tóm lại
một lần trong tiếng kêu lớn của Người trên
Thập Giá, và đã được Chúa Cha nhận lời khi cho
Người sống lại; vì thế Người không ngừng
chuyển cầu cho chúng ta bên tòa Chúa Cha. Khi cầu nguyện
nếu chúng ta kết hiệp với lời cầu nguyện
của Đức Giê-su trong lòng tín thác và dạn dĩ của
người con thảo, chúng ta sẽ nhận được mọi
điều cầu xin nhân danh Người; hơn thế nữa, chúng
ta không những nhận ơn này tới ơn khác mà còn nhận
được chính Thánh Thần là nguồn mạch mọi hồng
ân.
[Back]
Kiên trì trong tình yêu
"Hãy
cầu nguyện không ngừng" (1Tx 5,17). "Hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm
tạ Thiên Chúa là Cha, trong mọi hoàn cảnh và về mọi
sự" (Ep 5,20). "Theo ơn Thần khí hướng
dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng
van nài mà cầu nguyện luôn mãi. Anh em hãy chuyên cần
tỉnh thức và cầu xin cho toàn thể Dân Thánh" (Ep 6,18). Chúng ta không được truyền dạy là phải
lao động, phải canh thức và giữ chay liên lỉ,
nhưng chúng ta có luật là phải cầu nguyện không ngừng.
Nhiệt tình cầu nguyện không ngừng chỉ có
thể phát xuất từ tình yêu. Cầu nguyện là
cuộc chiến của tình
yêu khiêm tốn, tin tưởng và kiên trì, chống lại
thân xác nặng nề và ươn lười của chúng ta. Tình
Yêu này mở lòng ta đón nhận ba thực tại hiển
nhiên của đức tin, rất rõ ràng và sống động. [Back]
2743
Lúc nào chúng ta cũng có thể cầu
nguyện:
dù đời chúng ta có nhiều bão tố, thời giờ
của người tín hữu là thời giờ của Đức
Ki-tô Phục Sinh, Đấng "đang ở với chúng ta mỗi
ngày" (Mt 28,20). Thời giờ của ta ở
trong tay Thiên Chúa:
"Bạn
có thể cầu nguyện thường xuyên và sốt sắng
khi đang ở ngoài chợ hay đi dạo một mình, khi
đang mua bán ở cửa hàng hay đang làm bếp" (T.Gio-an Kim Khẩu, ecl. 2) [Back]
2744
Cầu nguyện là một nhu cầu sống
còn.
Chúng ta có thể thấy ngay bằng chứng ngược lại:
nếu không để Thánh Thần hướng dẫn, chúng ta sẽ
lại rơi vào ách nô lệ của tội lỗi; làm sao Thánh
Thần có thể trở thành sự sống của ta, nếu
lòng ta xa Người? "Không có gì sánh được với
cầu nguyện : nhờ cầu nguyện, chúng ta làm những
điều tưởng chừng không thể làm nổi, làm dễ
dàng những điều tưởng chừng khó khăn. Người cầu
nguyện thì không thể phạm tội.” (T. Gio-an Kim Khẩu, Anna 4,5)
"Ai
cầu nguyện chắc chắn sẽ được cứu độ;
ai không cầu nguyện chắc chắn sẽ bị án phạt"
(T. An-phong-sô Li-gô-ri) [Back]
2745
Cầu
nguyện và sống đạo
là hai việc không thể tách rời. Cả hai cùng xuất
phát từ tình yêu và sự quên mình vì yêu; cả
hai cùng nhắm đến chỗ hòa hợp với ý
định yêu thương của Chúa Cha trong tâm tình mến yêu của
người con thảo; cả hai cùng giúp tín hữu hiệp
thông với Chúa Thánh Thần để được biến đổi
ngày càng nên giống Đức Giê-su Ki-tô; cả hai cùng thể
hiện tình yêu thương mọi người, bắt nguồn
từ tình yêu Đức Ki-tô đã yêu thương ta. "Tất
cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy
thì Người sẽ ban cho anh em. Điều Thầy truyền
cho anh em là hãy yêu thương nhau" (Ga 15,16-17).
Ai
cầu nguyện liên lỉ cũng biết kết hiệp
kinh nguyện với việc làm và việc làm với kinh
nguyện. Chỉ như vậy, chúng ta mới thực hiện
được nguyên tắc cầu nguyện liên lỉ. [Back]
Kinh nguyện của Đức Giêsu vào giờ của
Người
Khi
đến Giờ, Đức Giê-su cầu nguyện cùng Chúa Cha. Đây
là kinh nguyện dài nhất của Người được Tin Mừng
ghi lại; Kinh Nguyện này bao hàm toàn thể nhiệm cục
Sáng Tạo và Cứu Độ, cả cuộc Tử Nạn và
Phục Sinh của Người. Cũng như cuộc vượt qua
đã diễn ra một lần dứt khoát, kinh nguyện
vào Giờ của Đức Giê-su luôn luôn là của riêng Người,
luôn hiện diện trong phụng vụ của Hội
Thánh. [Back]
2747
Truyền
thống Ki-tô giáo gọi kinh nguyện này là lời nguyện
tư tế"của Đức Giê-su. Đây là kinh nguyện của
Vị Thượng Tế. Kinh nguyện này gắn liền với
Hiến Tế và cuộc Vượt Qua, trong đó Người tự
hiến trọn vẹn cho Chúa Cha. [Back]
2748
Với
lời cầu nguyện Vượt Qua và Hiến Tế này, tất
cả đã được thâu tóm trong Người: Thiên Chúa và vũ
trụ, Ngôi Lời và xác phàm, sự sống vĩnh cửu
và thời gian; tình yêu tự hiến và tội lỗi
phản bội tình yêu, các môn đệ đang hiện diện
và những người sẽ tin vào Người nhờ lời của
các ngài, mầu nhiệm tự hạ và vinh quang của Con
Thiên Chúa. Đây
là Kinh Nguyện Hiệp Nhất. [Back]
2749
Đức
Giê-su đã hoàn thành công trình của Chúa Cha; cũng như
hiến tế, lời nguyện của Người trải rộng
đến ngày tận thế. Kinh nguyện vào giờ của
Người hoàn tất thời gian cuối cùng và đưa tới
ngày viên mãn. Với tư cách là Con Một đã được
Chúa Cha ban cho mọi sự. Chúa Giê-su tự hiến trọn
vẹn cho Chúa Cha; như thế, Người chứng tỏ
mình hoàn toàn tự do nhờ quyền năng Chúa Cha đã
ban cho Người trên mọi xác phàm. Chúa Con, Đấng đã tự
hạ mang thân phận tôi đòi, chính là Đức Chúa, Chúa Tể
muôn loài. Vị Thượng Tế chuyển cầu cho chúng ta,
cũng là Đấng cầu nguyện trong ta và là Thiên Chúa nhận
lời chúng ta cầu xin.
[Back]
2750
Khi
đã thuộc về Đức Giê-su, trong Người chúng ta có
thể đón nhận từ bên trong, lời cầu nguyện
Người dạy: "Lạy Cha". Lời nguyện tư tế
hoàn tất tự bên trong những lời nguyện xin chính
của kinh Lạy Cha: nguyện Danh Cha cả sáng, Nước
Cha trị đến, ý Cha thể hiện, xin cho con người
được cứu độ và thoát khỏi sự dữ (Ga 17,15).
[Back]
2751
Cuối
cùng, chính trong kinh nguyện này, Đức Giê-su mặc khải
và dạy chúng ta: Ai biết Chúa Cha cũng nhận biết
Chúa Con; ai nhận biết Chúa Con cũng nhận biết
Chúa Cha; nhận biết này chính là mầu nhiệm của đời
sống cầu nguyện. [Back]
2752
Tóm
lược
Cầu nguyện đòi hỏi chúng
ta phải nỗ lực và chiến đấu với bản
thân và chống lại các mưu chước của ma quỷ cám dỗ.
Cuộc chiến trong cầu nguyện không thể tách rời
khỏi cuộc chiến đấu thiêng liêng cần thiết
để người Ki-tô hữu thường xuyên hành động theo
Thánh Thần của Đức Ki-tô: người ta cầu nguyện
thế nào thì cũng sống như vậy, vì ta sống
như ta cầu nguyện.
[Back]
2753
Để
có thể cầu nguyện, chúng ta phải chiến đấu
chống lại những quan niệm sai lầm, với những
não trạng lệch lạc, và kinh nghiệm về những
lần thất bại. Những cám dỗ này làm chúng ta nghi
ngờ về lợi ích cũng như khả năng cầu nguyện;
để đối phó, chúng ta cần phải khiêm tốn, phó thác
và kiên trì.
[Back]
2754
Những khó khăn chính khi cầu nguyện
là chia trí và khô khan. Để chữa trị, chúng ta cần đến
đức tin, hoán cải tâm hồn và tỉnh thức. [Back]
2755
Hai cám dỗ thường làm chúng ta bỏ
việc cầu nguyện là thiếu lòng tin và nguội
lạnh. Nguội lạnh là một hình thức suy nhược
xảy ra vì thiếu khổ chế nên chán nản thất
vọng.
[Back]
2756
Lòng tin tưởng phó thác của người
Con Thiên Chúa bị thử thách khi chúng ta cảm thấy
mình không được Người nhận lời. Tin Mừng mời
gọi chúng ta hãy xét xem lời cầu nguyện của
ta có hợp với đòi hỏi của Thánh Thần không.
[Back]
2757
"Hãy cầu nguyện không ngừng"
(1Tx 5,17). Lúc
nào chúng ta cũng có thể cầu nguyện. Cầu nguyện
là một nhu cầu sống còn và không thể tách rời
việc sống đạo.
[Back]
2758
Lời cầu nguyện của Đức
Giê-su trong Giờ của Người được gọi là Lời
cầu nguyện "tư tế". Kinh nguyện này thâu tóm
toàn thể nhiệm cục Sáng Tạo và Cứu Độ và
hoàn tất những nguyện xin chính của kinh Lạy Cha. [Back]
Lời kinh Chúa dạy - Kinh Lạy Cha
Một hôm, Đức Giê-su cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: "Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gio-an đã dạy môn đệ của ông" (Lc 11,1). Đáp lại, Đức Giê-su đã dạy các môn đệ và Hội Thánh lời kinh căn bản của Ki-tô giáo. Thánh Lu-ca ghi lại bản kinh Lạy Cha ngắn (có năm lời nguyện xin), còn thánh Mat-thêu ghi lại bản dài hơn (có bảy lời nguyện xin). Truyền thống Phụng Vụ của Hội Thánh sử dụng bản văn Mat-thêu (Mt 6,9-13):
Lạy Cha chúng con ở trên trời,
chúng con nguyện danh Cha cả sáng,
Nước Cha trị đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày
và tha nợ chúng con,
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con,
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. [Back]
2760
Ngay
từ buổi đầu, Phụng Vụ quen kết thúc Lời
Kinh Chúa dạy bằng một vinh tụng ca. Theo sách DIDAKHÊ,
vinh tụng ca này là: "Vì Cha là Đấng quyền năng,
và vinh hiển muôn đời". Bản quy chế tông đồ
thêm vào đầu câu: "Vì Cha là Vua"; đây là công thức
chúng ta đang sử dụng theo bản đại kết. Truyền
thống Phụng Vụ By-zan-tin thêm "Vì Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần" vào sau chữ "vinh hiển".
Sách Lễ Rô-ma khai triển lời xin cuối cùng của
kinh Lạy Cha theo viển ảnh của thư Ti-tô: "đang
khi chúng con đợi chờ ngày hồng phúc, ngày Đức Giê-su
Ki-tô, Đấng Cứu Độ chúng con ngự đến"; tiếp
theo là lời cộng đoàn tung hô theo vinh tụng ca của bản
Quy Chế Tông Đồ.
[Back]
2761
Bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng
Lời
kinh Chúa dạy thực sự là bản tóm lược toàn bộ
Tin Mừng. Sau khi dạy mẫu kinh này, Chúa Giê-su thêm:
"Anh em cứ xin thì sẽ được" (Lc 11,9). Vậy mỗi người có thể dâng lên
Chúa những lời kinh khác nhau tùy nhu cầu, nhưng luôn phải
bắt đầu bằng kinh nguyện căn bản là Lời
Kinh Chúa dạy. [Back]
2762
Kinh Lạy Cha là tâm điểm của Thánh Kinh
Sau
khi cho thấy các Thánh Vịnh là chất liệu chính cho kinh
nguyện của Ki-tô hữu và tất cả được thâu
tóm trong những lời nguyện xin của kinh Lạy Cha,
thánh Âu-tinh kết luận: "Cứ đọc hết các kinh
nguyện trong Sách Thánh, chúng ta không thể tìm thấy một
điều gì không được thâu tóm trong Lời Kinh Chúa dạy." [Back]
2763
Toàn
bộ Cựu Ước (Lề Luật, các Ngôn Sứ và các
Thánh Vịnh) đều được ứng nghiệm nơi Đức
Ki-tô (Lc 24,44). Đây là Tin Mừng được các
sách Tin Mừng công bố. Thánh Mat-thêu tóm lược lời loan
báo Tin Mừng đầu tiên trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5-7). Kinh Lạy Cha được thánh Mat-thêu đặt ở
tâm điểm của lời loan báo này. Chúng ta phải hiểu
các lời nguyện xin của kinh Lạy Cha trong văn mạch
đó:
"Kinh
Lạy Cha là kinh tuyệt hảo...với lời kinh này,
không những chúng ta nguyện xin tất cả những
gì chúng ta có thể ao ước cách chính đáng, mà còn
theo trật tự những gì nên ao ước. Vì thế,
kinh nguyện này không chỉ dạy chúng ta nguyện xin, mà
còn huấn luyện tâm tình của ta nữa" (T.Tô-ma Aquinô 2-2,83,9) [Back]
2764
Với
Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giê-su dạy ta sống, với kinh Lạy
Cha, Người dạy ta cầu nguyện. Trong cả hai, Thần
Khí của Chúa Giê-su đem lại khuôn mẫu mới cho những
ước muốn là những tâm tình tác động đến
cách sống của ta. Chúa Giê-su dùng lời nói để dạy
ta phải sống cuộc đời mới và dùng lời kinh
xin Chúa Cha ban ơn giúp ta sống như vậy. Khi cầu nguyện
đúng, chúng ta sẽ biết sống trong Chúa. [Back]
2765
Lời kinh Chúa dạy
Truyền thống Ki-tô giáo gọi kinh Lạy Cha là Lời Kinh Chúa dạy, vì chính Chúa Giê-su đã soạn và truyền lại. Lời kinh nầy độc đáo vì chính là lời kinh của Chúa. Qua những lời trong kinh này, Con Một Thiên Chúa trao cho chúng ta những Lời Người đã nhận được từ Chúa Cha: Người là Thầy dạy chúng ta cầu nguyện. Mặt khác, vì là Ngôi Lời nhập thể, Người biết rõ những nhu cầu của chúng ta, những anh chị em của Người theo nhân tính, và Người đã nêu cho ta thấy những nhu cầu đó: Người là Mẫu Mực hướng dẫn chúng ta cầu nguyện. [Back]
2766
Đức
Giê-su không dạy ta một công thức để chúng ta lặp
đi lặp lại như cái máy. Cũng như mọi khẩu nguyện
khác, Chúa Thánh Thần dùng Lời Chúa để cho con cái Thiên Chúa
biết cầu nguyện cùng Chúa Cha. Đức Giê-su không những
dạy chúng ta lời kinh của người con mà còn ban
Thánh Thần để nhờ đó những lời kinh này trở
nên "thần khí và sự sống" (Ga 6, 63)
trong chúng ta. Hơn nữa, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của
Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên:
"Áp-ba, Cha ơi" (Gl 4,6); điều này chứng
tỏ chúng ta có khả năng dâng lên Chúa Cha kinh nguyện của
người con. Khi cầu nguyện chúng ta nói lên những ước
nguyện của mình trước mặt Thiên Chúa, nhưng thật
ra, Chúa Cha thấu suốt tâm can, Người biết Thần
khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện
giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa (Rm 8,27). Dạy cầu nguyện cùng Cha Trên Trời là một phần
trong sứ mạng huyền diệu của Chúa Con và Chúa
Thánh Thần.
[Back]
Lời cầu nguyện của Hội Thánh
Ngay
từ đầu, Lời Kinh Chúa dạy và Thánh Thần, Đấng
làm cho lời kinh sống động trong lòng các tín hữu,
đã được Hội Thánh lãnh nhận và sống như một
hồng ân duy nhất. Những cộng đoàn Ki-tô hữu tiên
khởi đọc kinh Lạy Cha ba lần mỗi ngày, thay
vì đọc mười tám lời chúc tụng theo thói quen đạo
đức Do Thái. [Back]
2768
Theo
truyền thống các tông đồ, lời kinh Chúa dạy
đã ăn sâu vào kinh nguyện phụng vụ.
"Chúa
dạy chúng ta cầu nguyện chung cho mọi anh chị em.
Vì Người không nói "Lạy Cha của con, ngự
trên trời", nhưng là "Lạy Cha chúng con", để chúng
ta một lòng một ý cầu nguyện cho toàn
Thân Thể Hội Thánh" (T.Gio-an
Kim Khẩu).
Trong
mọi truyền thống phụng vụ, kinh Lạy Cha là
thành phần tất yếu của các giờ kinh phụng vụ
chính. Đặc biệt, trong ba bí tích khai tâm Ki-tô giáo, kinh Lạy
Cha càng nỗi rõ đặc tính là kinh của Hội Thánh. [Back]
2769
Trong
bí
tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, nghi thức
trao kinh Lạy Cha nói lên ý nghĩa việc tái sinh vào đời
sống thần linh. Trong Ki-tô giáo, cầu nguyện là nói với
Thiên Chúa bằng chính Lời Chúa, nên những ai "đã
được tái sinh nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống" (1Pr 1,23) sẽ học biết
kêu cầu Chúa Cha, bằng chính Lời duy nhất mà Cha luôn
đón nhận. Họ có thể kêu cầu như thế, vì
Chúa Thánh Thần đã để lại ấn tích, không thể
tẩy xóa được, trong lòng họ, trên tai họ, trên
môi miệng, trên toàn thân người con cái Thiên Chúa. Vì thế,
đa số các bài giải thích kinh Lạy Cha của giáo phụ
đều dành riêng cho các dự tòng và tân tòng. Khi đọc
kinh Lạy Cha, Hội Thánh luôn luôn đọc với tư cách là
dân được tái sinh, dân cầu nguyện và được Thiên Chúa
xót thương (1Pr 2,1-10). [Back]
2770
Trong
phụng vụ Thánh Thể
, chúng ta thấy rõ kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện
của toàn Hội Thánh, với đầy đủ ý nghĩa
và hiệu năng. Được đặt giữa kinh Tạ Ơn và phần
hiệp lễ, kinh Lạy Cha một mặt thâu tóm toàn bộ
những lời khẩn nguyện và chuyển cầu
đã nêu lên trong phần "xin ban Thánh Thần"; mặt
khác, dẫn ta đến Bàn Tiệc Thánh Thể như tiền dự
vào Bàn Tiệc Nước Trời.
[Back]
2771
Trong
Thánh Lễ, các lời nguyện xin của kinh Lạy Cha
còn cho thấy đặc tính cánh chung. Kinh Lạy Cha
đúng là kinh nguyện của thời sau hết, thời cứu
độ đã bắt đầu với việc Thánh Thần được
ban xuống và sẽ kết thúc vào ngày Chúa Quang Lâm. Khác với
các kinh nguyện trong Cựu Ước, những lời nguyện
xin trong kinh Lạy Cha dựa trên mầu nhiệm cứu độ
đã được thực hiện, một lần dứt khoát
trong Chúa Ki-tô, Đấng đã chịu khổ nạn và phục
sinh.
[Back]
2772
Vì
tin tưởng vững vàng vào Đức Ki-tô, Đấng đã chết
và sống lại, chúng ta tràn đầy hy vọng khi xướng
lên từng điều trong bảy lời nguyện xin của
kinh Lạy Cha. Những lời nguyện xin này là tiếng
than van của những người đang sống giữa trần
thế hôm nay trong nhẫn nại và đợi chờ, vì
chúng ta đã là con Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế
nào, điều ấy chưa được bày tỏ (1 Ga 3,2). Thánh Lễ và kinh Lạy Cha đều hướng về ngày
Chúa quang lâm "cho tới khi Chúa lại đến" (1Cr 11,26)
[Back]
2773
Tóm
lược
Đáp lại lời xin của các môn đệ:
"Thưa Thầy xin dạy chúng con cầu nguyện" (Lc 11,1), Đức
Giê-su đã dạy các ngài lời kinh căn bản của
Ki-tô giáo là kinh Lạy Cha. [Back]
2774
Lời Kinh Chúa dạy thực là bản
tóm lược toàn bộ Tin Mừng, là tuyệt hảo, là tâm
điểm của Thánh Kinh.
[Back]
2775
Kinh Lạy Cha được gọi là
"kinh của Chúa" vì do chính Chúa Giê-su dạy. Người
là Thầy mẫu mực hướng dẫn chúng ta cầu nguyện.
[Back]
2776
Hơn mọi kinh khác, kinh Lạy Cha là lời
cầu nguyện của Hội Thánh. Kinh Lạy Cha là thành
phần tất yếu của các giờ kinh phụng vụ
chính và của các bí tích khai tâm Ki-tô Giáo: Thánh Tẩy, Thêm Sức
và Thánh Thể. Khi đọc lên trong thánh lễ, các lời nguyện
xin của kinh Lạy Cha còn cho thấy đặc tính cánh
chung: cộng đoàn Ki-tô hữu cầu nguyện và chờ đợi
"cho tới khi Chúa lại đến" (1Cr 11,26). [Back]
Lạy Cha chúng con ở trên trời
Chúng ta dám nguyện rằng
Trong phụng vụ Rô-ma, cộng đoàn tham dự thánh lễ được mời đọc kinh Lạy Cha với sự dạn dĩ của người con; phụng vụ Đông Phương cũng sử dụng và khai triển các kiểu nói tương tự: "Chúng ta dám tin tưởng nguyện rằng", "xin Chúa cho chúng con xứng đáng nguyện rằng". Trước Bụi Gai Rực Cháy, có tiếng phán bảo Môi-sê: "Chớ lại gần, cởi dép ra" (Xh 3,5). Chỉ một mình Đức Giê-su có thể vượt qua ngưỡng cửa thánh thiện để đến gần Thiên Chúa, vì Người là Đấng "đã tẩy trừ tội lỗi" (Dt 1, 3), chính Người dẫn chúng ta đến trước Thánh Nhan Chúa Cha: "Này Con đây, cùng với những con cái mà Cha đã ban cho Con" (Dt 2,13).
"Ý
thức tình trạng nô lệ của mình lẽ
ra chúng ta phải độn thổ, kiếp phàm nhân phải tan
thành cát bụi, nếu như uy quyền của chính Cha chúng ta
và Thần Khí của Chúa Con không thúc đẩy chúng ta kêu lên:
"Áp-ba, Cha ơi!" (Rm 8,15). Có khi nào một phàm
nhân yếu hèn lại dám gọi Thiên Chúa là Cha, nếu con người
không được Quyền Năng từ trời cao tác động?"
(T.Gio-an Phê-rô Rít-sô-lô-gơ, bài giảng
71).
[Back]
2778
Chính
Chúa Thánh Thần giúp chúng ta đọc kinh Lạy Cha. Phụng vụ
Đông và Tây Phương diễn tả điều này bằng từ "Parrhésia", một thuật ngữ đặc
biệt Ki-tô giáo muốn diễn tả tâm tình đơn sơ
chân thành, lòng tin tưởng của người con, vui mừng
an tâm, dạn dĩ nhưng khiêm nhu, xác tín là mình được
yêu thương. [Back]
2779
Lạy Cha
Trước khi bắt đầu nguyện xin, chúng ta phải loại bỏ một số hình ảnh sai lạc của thế gian này." Chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận rằng: "Không ai biết Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho", nghĩa là "cho những người bé mọn" (Mt 11,25-27). Chúng ta phải thanh luyện tâm hồn, nghĩa là đừng để những hình ảnh của Thiên Chúa như người cha hay người mẹ, theo kinh nghiệm bản thân hay văn hóa, ảnh hưởng đến tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha chúng ta, Người siêu việt trên mọi phạm trù của thế giới thụ tạo. Khi gán cho Người hay loại bỏ khỏi Người những ý tưởng của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có nguy cơ tạo ra những ngẫu tượng để tôn thờ hay đạp đổ. Cầu nguyện cùng Chúa Cha là đón nhận mầu nhiệm của Người, như Người hằng hữu và như Chúa Con đã mặc khải cho chúng ta:
Cách gọi Thiên Chúa là Cha trước đây chưa hề mạc khải. Khi ông Mô-sê hỏi danh tánh Thiên Chúa, ông đã được nghe một danh xưng khác. Đối với chúng ta, Danh Thiên Chúa đã được mặc khải trong Chúa Con; vì Chúa Giê-su nhận mình là Con nên Thiên Chúa được gọi là Cha. [Back]
2780
Chúng ta có thể kêu cầu
Thiên Chúa là Cha, vì Con Thiên Chúa làm người mặc khải
như vậy, và vì Thần Khí của Chúa Con đã làm cho
chúng ta nhận biết như vậy. Chúng ta tin Đức Giê-su là
Đấng Ki-tô và chúng ta "đã được Thiên Chúa sinh
ra" (1Ga 5,1), nên Thần Khí của Chúa Con cho chúng ta tham
dự vào tương quan ngã vị giữa Chúa Con và Chúa Cha;
đây là điều con người không thể nghĩ ra được và thần
thánh trên trời cũng không hiểu được (1 Ga 5,1). [Back]
2781
Khi
cầu nguyện cùng Chúa Cha, chúng ta được hiệp thông với Người, và với
Chúa Con là Đức Giê-su Ki-tô (1 Ga 1,3). Lúc đó, chúng ta mới
nhận biết và nhận ra Người, với lòng thán
phục không ngơi. Với lời đầu tiên của kinh Lạy
Cha, chúng ta chúc tụng thờ lạy Chúa Cha trước khi nguyện
xin Người. Thiên Chúa được tôn vinh khi chúng ta nhìn nhận
Người là Cha và là Thiên Chúa thực. Chúng ta tạ ơn Người
vì đã mặc khải Danh Thánh, đã cho chúng ta tin
vào Danh Người và Người hiện diện trong chúng ta. [Back]
2782
Chúng
ta có thể thờ lạy Chúa Cha vì Người đã
tái sinh chúng ta trong sự sống của Người khi nhận chúng ta là nghĩa tử
trong Con Một nhờ bí tích Thánh Tẩy. Người tháp nhập
chúng ta vào Thân Thể Chúa Ki-tô, và nhờ bí tích Thêm Sức,
Người cho chúng ta trở thành những "người được
xức dầu bằng Thánh Thần.
Thực
vậy, Thiên Chúa đã tiền định cho chúng ta được
làm nghĩa tử, được đồng hình đồng dạng
với Thân Thể vinh quang của Đức Ki-tô. Từ nay,
anh em được dự phần với Đức Ki-tô, anh em đương
nhiên được gọi là những "người được xức
dầu" (T.Xy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem
3,1). Con người mới, sau khi được tái sinh và
trả về cho Thiên Chúa nhờ ân sủng, trước hết
sẽ thưa: "Lạy Cha" vì đã trở nên con
Thiên Chúa (T. Xy-ri-an 9). [Back]
2783
Như
thế với kinh Lạy Cha, chúng
ta được mặc khải về Thiên Chúa là Cha, đồng
thời được biết thiên chức của mình:
"Con
người ơi, ngươi không dám ngước mặt lên trời, chỉ
cúi nhìn xuống đất. Rồi thình lình,
ngươi nhận được ân sủng của Đức Ki-tô: mọi
tội lỗi ngươi đã được tha. Từ một tên đầy
tớ gian ác, ngươi trở thành đứa con ngoan... Hãy ngước
mắt nhìn lên Chúa Cha, Đấng đã chuộc ngươi nhờ
Con của Người, và thưa: lạy Cha... Nhưng ngươi đừng
đòi hỏi một đặc quyền nào. Người là Cha
cách đặc biệt, của riêng Đức Ki-tô, nhưng Người cũng
còn là Cha của tất cả chúng ta, vì Người
chỉ sinh ra; còn chúng ta là thụ tạo do một
mình Đức Ki-tô nhưng Người đã dựng nên chúng
ta. Vậy nhờ ân sủng, ngươi cũng hãy thưa: Lạy
Cha chúng con, để xứng đáng là con của Người" (T.Am-rô-xi-ô 5,19) [Back]
2784
Ơn
nghĩa tử đòi chúng ta phải hoán cải không ngừng
để sống cuộc đời
mới. Khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta phải có hai
tâm tình căn bản:
Tâm
tình thứ nhất là ước
muốn được nên giống Người. Dù được dựng
nên theo hình ảnh Thiên Chúa, nhưng phải nhờ ân sủng
chúng ta mới được phục hồi nét giống Thiên Chúa
hơn, nên chúng ta có bổn phận đáp lại ân sủng này.
"Phải nhớ rằng: khi gọi Thiên Chúa là Cha, chúng
ta có bổn phận sống như con Thiên Chúa" (T. Xy-ri-an 11).
"Anh
em không thể gọi Thiên Chúa Chí Nhân là Cha, nếu anh em
còn giữ lòng độc ác và bất nhân; vì khi
đó, anh em không còn giữ được dấu tích lòng
nhân lành của Cha Trên Trời" (T.Gio-an Kim Khẩu).
"Hãy
luôn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Cha Trên Trời, để
tâm hồn mình thấm nhuần vẻ đẹp đó" (T.Ghê-gô-ri-ô thành Nít). [Back]
2785
Tâm
tình thứ hai là lòng
khiêm tốn và tin tưởng nơi Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta
"trở nên như trẻ em" (Mt 18,3); vì Chúa Cha "mặc khải cho những người
bé mọn" (Mt 11,25).
Khi
đọc kinh Lạy Cha, chúng ta phải chiêm ngắm Thiên Chúa,
lòng chúng ta bừng cháy lửa yêu mến. Nhờ đó,
linh hồn tan biến và hướng tới việc yêu mến
Thiên Chúa, thân tình trò chuyện với Thiên Chúa như
người Cha ruột, với lòng yêu mến thảo kính
đặc biệt (T. Gio-an Cát-xi-ô 9,18).
"Lạy
Cha chúng con: danh hiệu này gợi lên trong lòng chúng ta
tình yêu và sự tha thiết khi cầu nguyện... đồng
thời tin tưởng sẽ được Thiên Chúa nhận lời.
Thiên Chúa từ chối sao được, khi chính Người vừa
nhận họ là con." (T. Âu-tinh 2,4,
16). [Back]
Lạy Cha chúng con
Khi
gọi Thiên Chúa là Cha của chúng ta, chúng ta không nghĩ rằng
mình chiếm hữu được Thiên Chúa, nhưng có một
tương quan mới mẻ với Người. [Back]
2787
Khi
gọi Thiên Chúa là Cha của chúng ta, trước hết chúng ta
nhìn nhận rằng mọi lời Thiên Chúa yêu thương hứa
qua các ngôn sứ đã được thực hiện nơi Đức
Ki-tô trong Giao ước Mới
và Vĩnh cữu: Chúng ta đã trở thành Dân của
Người và từ nay Người là Thiên Chúa của chúng ta. Thiên
Chúa và chúng ta thuộc về nhau: tương quan mới này là quà tặng
của Thiên Chúa. Chúng ta phải đáp lại ân sủng và sự
thật mà Người ban tặng "nhờ Đức Giê-su
Ki-tô" (Ga 1,17) bằng lòng yêu mến
và trung thành.
[Back]
2788
Kinh
Lạy Cha là kinh nguyện của Dân Chúa trong thời sau hết,
nên khi đọc của chúng con chúng ta hy vọng vững vàng
vào lời hứa tối hậu của Thiên Chúa. Trong thành
thánh Giê-ru-sa-lem mới, Người sẽ phán với kẻ chiến
thắng: "Ta sẽ là Thiên Chúa của người ấy và
người ấy sẽ là con của Ta" (Kh 21,7).
[Back]
2789
Khi
đọc "Lạy Cha chúng con", chúng ta thân thưa với Cha
của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Chúng ta không phân chia thần
tính, vì Chúa Cha là "nguồn mạch và căn nguyên" của
thần tính. Nhưng ở đây, chúng ta muốn tuyên xưng: từ
muôn thuở, Chúa Con được Chúa Cha sinh ra và Chúa Thánh Thần
phát xuất từ Chúa Cha. Chúng ta cũng không hề lẫn
lộn các Ngôi Vị, vì chúng ta tuyên xưng rằng: chúng ta
được hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Con là Đức Giê-su
Ki-tô, trong Thánh Thần duy nhất. Ba Ngôi Chí Thánh đồng bản tính và không thể
phân chia. Khi cầu nguyện cùng Chúa Cha, chúng ta thờ lạy
và tôn vinh Người cùng với Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
[Back]
2790
Khi
đọc "Lạy Cha chúng con", chúng ta tuyên xưng Người
là Cha của nhiều người. Chỉ có một Thiên Chúa và Người
được nhìn nhận là Cha của những kẻ
đã được tái sinh bởi nước và Thánh Thần (nhờ
tin vào Con Một Thiên Chúa). Hội
Thánh chính là hiệp thông mới giữa Thiên Chúa và loài
người: Hội Thánh hiệp nhất với Con Một
Thiên Chúa là "trưởng tử giữa một đàn em đông
đúc" (Rm 8,29), nên Hội Thánh được hiệp
thông với Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần. Khi thưa "Lạy
Cha chúng con", mỗi Ki-tô hữu cầu nguyện trong sự
hiệp thông này: "các tín hữu tuy đông đảo, mà chỉ
có một lòng một ý" (Cv 4,32).
[Back]
2791
Do
đó, dù các Ki-tô hữu còn chia rẽ, kinh Lạy Cha vẫn
là tài sản chung và là một lời mời gọi khẩn
thiết cho mọi Ki-tô hữu. Được hiệp thông với
Chúa Ki-tô nhờ đức tin và nhờ bí tích Thánh Tẩy, họ
phải cùng cầu nguyện với Chúa Giê-su để các môn đệ
được hiệp nhất. [Back]
2792
Sau
cùng, nếu thật lòng cầu nguyện "Lạy
Cha chúng con", chúng ta thoát được chủ nghĩa cá nhân,
vì khi đón nhận Thiên Chúa yêu thương, chúng ta được giải
thoát. Từ "chúng con" ở đầu kinh Lạy Cha, cũng
như từ "chúng con" trong bốn lời xin cuối
kinh, không loại trừ một ai. Để thật lòng
đọc kinh Lạy Cha, chúng ta phải vượt qua mọi chia
rẽ và chống đối.
[Back]
2793
Các
tín hữu không thể cầu nguyện "Lạy Cha chúng
con", mà không dâng lên tất cả những ai Chúa đã
ban tặng Con yêu dấu. Tình yêu của Thiên Chúa không có
biên giới, nên lời cầu nguyện của chúng ta cũng
phải như vậy. Khi đọc "Lạy Cha chúng con",
lòng chúng ta được mở rộng theo tình yêu của
Chúa Cha được biểu lộ trong Đức Ki-tô: cầu nguyện
với và cho tất cả những ai chưa nhận biết
Chúa, để họ "được quy tụ về một mối"
(Ga11,52). Sự chăm sóc của Thiên
Chúa dành cho mọi người và muôn loài đã thôi thúc các thánh
nhân, chúng ta phải mở rộng lời cầu nguyện
theo tình thương này khi chúng ta dám đọc "Lạy Cha
chúng con." [Back]
Ở trên trời
Khi
gọi Thiên Chúa là "Đấng ngự trên trời", Thánh
Kinh không muốn nói Người đang ở một nơi nào đó trong
không gian, nhưng nói đến một cách hiện hữu; không muốn
nói Người ở xa ta, nhưng muốn nói Người rất uy
nghi cao cả. Thiên Chúa không ở một nơi nào đó, nhưng Người
là Đấng Thánh vượt trên mọi sự chúng ta có thể
quan niệm. Vì Người là Đấng Chí Thánh, nên rất gần
gũi với những tâm hồn khiêm cung và thống hối:
Thật
có lý khi ta hiểu "Lạy Cha chúng con ở trên trời"
là Người hiện diện nơi tâm hồn những người
công chính, như trong đền thờ của Người. Câu kinh đó cũng
có nghĩa là người cầu nguyện ước mong Đấng
mình kêu cầu ngự trong lòng mình (T. Âu-tinh, Bài giảng Chúa nhật 2,5,17).
"Ở
đây, chúng ta có thể hiểu "trời" là những ai
mang hình ảnh thiên quốc, Thiên Chúa vui thích cư ngụ
nơi tâm hồn họ" (T. Xy-ri-lô
thành Giê-ru-sa-lem 5,11). [Back]
2795
Biểu
tượng "trời" nhắc chúng ta nhớ đến mầu
nhiệm Giao Ước chúng ta đang sống, khi đọc kinh Lạy
Cha. Trời là nơi Thiên Chúa ngự, là Nhà Cha, nên là quê hương của
ta. Vì tội lỗi, chúng ta bị lưu đày xa miền đất
Giao Ước; nhờ hoán cải tâm hồn, chúng ta được về
"trời", về cùng Cha. trong Đức Ki-tô, trời đất
được giao hòa, vì chỉ Chúa Con là Đấng từ
trời xuống thế và đưa chúng ta lên trời với Người,
nhờ cuộc Khổ Nạn, Phục Sinh và Thăng Thiên. [Back]
2796
Khi kêu cầu "Lạy Cha chúng con ở trên trời", Hội Thánh tuyên xưng: chúng ta là Dân Thiên Chúa, "đã được cùng ngự trị với Đức Ki-tô Giê-su trên cõi trời" (Eph 2,6), "hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa" (Cl 3,3), đồng thời, "chúng ta rên siết là vì những ước mong được thấy ngôi nhà thiên quốc của chúng ta phủ lên chiếc lều ở dưới đất này" (2 Cr 5,2):
"Các tín hữu có xác phàm, nhưng không sống theo xác phàm. Họ sống trên dương thế, nhưng là công dân Nước Trời" (Epitre á Diognète 5, 8-9) [Back]
2797
Tóm
lược
Chúng
ta phải đọc kinh Lạy Cha với lòng tin tưởng
đơn sơ và trung thành, khiêm tốn và vui mừng phó thác nơi Thiên
Chúa.
[Back]
2798
Chúng ta có thể kêu cầu Thiên Chúa là
"Cha", vì Con Thiên Chúa làm người đã dạy
chúng ta như thế. Trong Đức Ki-tô, nhờ bí tích Thánh Tẩy,
chúng ta được tháp nhập vào Thân Thể Người và được
nhận là con Thiên Chúa.
[Back]
2799
Khi đọc
kinh Lạy Cha, chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha và
với Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, đồng thời
chúng ta được biết thiên chức của mình (GS 22,1).
[Back]
2800
Khi đọc kinh "Lạy Cha", chúng
ta phải ước muốn được nên giống Thiên Chúa, và phải
có lòng khiêm tốn và tin tưởng. [Back]
2801
Khi đọc Lạy Cha của chúng con,
chúng ta nhắc đến Giao Ước Mới trong Đức Giê-su
Ki-tô, sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa và tình
yêu Thiên Chúa bao trùm cả thế giới nhờ Hội Thánh. [Back]
2802
Khi gọi Thiên Chúa là Đấng ở trên
trời, chúng ta không nghĩ rằng Người đang ở một
nơi nào đó, nhưng muốn nói Người rất uy nghi cao cả và
đang hiện diện nơi tâm hồn những người công
chính. "Trời" là Nhà Cha, là quê hương đích thực, nơi
chúng ta hy vọng sẽ tới và hiện nay chúng ta đã
là thành viên. [Back]
Bảy lời cầu xin
Sau khi đã đặt mình trước tôn nhan Thiên Chúa là Cha để thờ lạy, yêu mến và chúc tụng Người, Thần Khí Nghĩa Tử khơi lên trong lòng chúng ta bảy lời nguyện xin, bảy lời chúc tụng. Ba lời đầu tiên, trực tiếp hướng về Thiên Chúa hơn, hướng lòng ta đến Vinh Quang Thiên Chúa. Bốn lời sau, như những con đường đến với Thiên Chúa, xin Người nhìn đến thân phận khốn cùng của chúng ta mà ban Ân Phúc. "Kìa vực thẳm kêu gào vực thẳm,... Chúa quên con sao đành?" (Tv 42,8-10). [Back]
2804
Ba
lời nguyện đầu tiên hướng chúng ta về Thiên Chúa
và vì Thiên Chúa: Danh Cha, Nước
Cha, Ý Cha. Đặc tính của tình yêu là trước
hết nghĩ đến người mình yêu. Ba lời nguyện
này, không nói gì đến chúng ta; nhưng chúng ta bị lôi cuốn
theo lòng khát khao mong mỏi đến khắc khoải của
Chúa Con vì lo cho Vinh Quang của Cha Người: "nguyện
Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể
hiện..." Ba lời nguyện này được Thiên Chúa nhận
lời trong hy tế cứu độ của Đức Ki-tô; nhưng
từ nay, những lời nguyện này chứa chan hy vọng,
còn đang hướng về ngày thực hiện chung cuộc,
bao lâu Thiên Chúa chưa hoàn tất chương trình cứu độ của
Người (1Cr 15, 28).
[Back]
2805
Bốn
lời cầu xin sau đó diễn ra giống như trong một số
lời nguyện xin ban Thánh Thầ" trong thánh lễ:
Chúng ta dâng lên những hy vọng của mình và mong được
Thiên Chúa là Cha Đầy Lòng Thương Xót nhìn đến. Chúng
ta dâng lên Thiên Chúa những lời này, xin cho chính mình, ở
đời này trong hiện tại "xin Cha cho chúng con...
xin tha nợ cho chúng con... xin chớ để chúng con...
xin cứu chúng con..." Lời xin thứ tư và thứ
năm liên quan đến cuộc sống thực tế của ta:
xin lương thực và xin tha tội. Với hai lời cầu
xin cuối, chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa giúp sức trong
cuộc chiến để Sự Sống chiến thắng,
đây cũng là cuộc chiến trong cầu nguyện. [Back]
2806
Nhờ
ba lời nguyện đầu tiên, chúng ta được củng cố
đức tin, tràn đầy đức cậy và nung nóng đức mến.
Chẳng những là thụ tạo mà còn là tội nhân,
chúng ta phải khẩn cầu cho chúng ta, cho toàn thể nhân
loại trong thế giới và lịch sử. Chúng ta dâng tất
cả cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Vì chính nhờ
Danh Đức Ki-tô và triều đại của Thánh Thần Người,
Chúa Cha hoàn thành kế hoạch cứu độ của Người,
cho chúng ta và cho toàn thế giới. [Back]
2807
Nguyện Danh Cha cả sáng
Khi
đọc "nguyện Danh Cha cả sáng", chúng ta không chúc
tụng Thiên Chúa được thánh thiện hơn; nhưng nguyện xin
cho nhân loại nhận biết Người là Đấng Thánh, nhận
ra sự Vinh Hiển của Người. Như thế, với tâm
tình thờ lạy, lời nguyện này đôi khi được
hiểu như một lời ca ngợi và tạ ơn. Đức
Giê-su dạy chúng ta lời nguyện này như một ước
nguyện: một khẩn cầu, một khao khát và mong đợi
mà Thiên Chúa và loài người cùng cam kết. Lời nguyện đầu
tiên này đưa chúng ta ngay vào mầu nhiệm thâm sâu của Thiên Chúa
và công trình cứu độ nhân loại. Khi "nguyện
Danh Cha cả sáng" chúng ta tham dự vào "kế hoạch
yêu thương Người đã định từ trước, để trước
thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ
tình thương của người" (Ep 1,9.4). [Back]
2808
Vào
những thời điểm quyết định của nhiệm
cục cứu độ, Thiên Chúa mặc khải danh thánh Người,
nhưng mặc khải bằng công trình Người thực
hiện. Công trình này chỉ được thực hiện
nơi chúng ta và cho chúng ta, nếu danh Chúa được cả sáng nhờ
chúng ta và nơi chúng ta. [Back]
2809
Trọng
tâm của mầu nhiệm cứu rỗi nơi Thiên Chúa là sự
thánh thiện không ai vươn tới được. Tất cả những
gì bộc lộ sự thánh thiện này qua công
trình sáng tạo và lịch sử được Thánh Kinh gọi
là Vinh Quang của Thiên
Chúa, là Uy Nghi cao cả của Người chiếu tỏa ra
cho ta thấy. Khi tạo dựng nhân loại theo hình ảnh
Người và giống như Người, Thiên Chúa "ban cho con người
vinh quang danh dự làm mũ triều thiên" (Tv 8,3). Khi phạm tội, họ bị tước mất
vinh quang Thiên Chúa (Rm 3,23). Bởi vậy, Thiên Chúa sẽ
bày tỏ sự Thánh Thiện bằng cách mặc khải và
ban tặng Thánh Danh, để phục hồi con người
"theo hình ảnh của Đấng Tạo Hóa" (Cl 3,10).
[Back]
2810
Khi
thề hứa với tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa kết
ước nhưng không cho biết Thánh Danh. Với Mô-sê, Người bắt
đầu mặc khải danh thánh, và cho toàn dân thấy vinh hiển
của danh thánh Người, khi cứu họ khỏi tay Người
Ai Cập: "Đức Chúa là Đấng cao cả uy hùng" (Xh 15,1). Kể từ Giao Ước Xi-nai, dân này là dân của
Người và họ phải là một dân thánh, vì danh thánh
ở nơi họ. [Back]
2811
Thiên
Chúa Chí Thánh đã ban cho dân này Lề Luật và không ngừng
nhắc nhở họ. Hơn nữa, "vì danh thánh Người",
Đức Chúa luôn nhẫn nại với họ. Nhưng dân Chúa
đã bất trung với Đấng Thánh của Ít-ra-en và
"xúc phạm đến danh thánh Người trước mắt các
dân tộc" (Ed 20,14). Ý thức được những
điều đó, những người công chính thời Cựu Ước,
những người nghèo trở về sau cuộc lưu đày và các
ngôn sứ luôn hết lòng tôn kính danh thánh Chúa. [Back]
2812
Sau
cùng danh thánh Thiên Chúa được mặc khải và ban tặng
cho chúng ta nơi Đức Giê-su như Đấng Cứu Độ mang xác
phàm: nơi bản thân Đức Giê-su, qua lời và Hy Tế của
Người. Đó cũng là trọng tâm của lời nguyện
tư tế: "Lạy Cha chí thánh,... Con xin thánh hiến chính
mình con cho họ, để họ cũng được thánh hiến
nhờ sự thật" (Ga 17,19). Vì muốn Danh
Cha cả sáng, Đức Giê-su đã "cho họ biết
danh Cha" (Ga 17,6). Khi hoàn tất cuộc vượt
qua, Đức Giê-su được Chúa Cha ban cho một danh hiệu vượt
trên mọi danh hiệu: "Đức Giê-su Ki-tô là Chúa, để
tôn vinh Thiên Chúa Cha" (Pl 2,11).
[Back]
2813
Trong
nước Thánh Tẩy, chúng ta đã được tẩy rửa,
được thánh hóa, được nên công chính nhờ danh Chúa Giê-su
Ki-tô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta (1 Cr 6,11). Thiên Chúa kêu gọi chúng ta sống thánh thiện
(1 Th 4,7) trọn đời. "Chính nhờ
Thiên Chúa mà chúng ta được hiện hữu trong Đức Ki-tô
Giê-su, Đấng đã trở nên sự thánh hóa cho chúng
ta" (1Cr 1,30), nên vinh quang của Người
và sự sống của ta tùy thuộc việc danh Chúa được
cả sáng nơi chúng ta và do chúng ta. Vì thế lời nguyện
đầu tiên của kinh Lạy Cha rất khẩn thiết:
"Thiên
Chúa là Đấng Thánh Hóa, ai có thể thánh hóa Thiên Chúa? Nhưng
vì lời Chúa dạy "các ngươi phải thánh thiện,
vì Ta, Đức Chúa, Ta là Đấng Thánh" (Lv 20,26), nên chúng ta cầu xin để sau khi được
thánh hóa nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được vững bền
trong đời sống thánh thiện đã khởi đầu. Hằng
ngày chúng ta phải cầu xin như thế, vì ngày nào chúng
ta cũng phạm lỗi và phải thanh tẩy tội lỗi
nhờ không ngừng thánh hóa bản thân...Như vậy, chúng ta
phải cầu nguyện để có thể sống thánh thiện"
(T. Xýp-ri-a-nô 12) [Back]
2814
Nhờ chúng ta sống đạo và cầu
nguyện mà
danh thánh Cha được cả sáng giữa chư dân:
Chúng
ta nguyện cho danh Cha cả sáng, vì nhờ Danh Thánh Người
mà toàn thể thụ tạo sa ngã được cứu độ
và thánh hóa, nhưng chúng ta nguyện cho danh thánh Chúa được cả
sáng nơi chúng ta, nhờ đời sống của ta. Nếu ta sống
tốt lành, mọi người sẽ chúc tụng danh Thiên Chúa,
nếu ta sống tệ hại, họ sẽ xúc phạm đến
danh Người. Thánh Phao lô nói : "chính vì các ngươi mà danh
Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân" (Rm 2,24). Do đó, chúng ta cầu xin để có được
trong tâm hồn sự thánh thiện danh Cha cả sáng (T. Phê-rô Kim Ngôn, bài giảng 71).
"Để
thực thi lời Chúa dạy: phải cầu nguyện cho
mọi người kể cả kẻ thù. Khi đọc "nguyện
danh Cha cả sáng", chúng ta cầu xin cho danh Chúa được
tôn vinh nơi chúng ta là những người đang sống trong Người,
và cả nơi những người Thiên Chúa đang chờ đợi để
ban ơn cho họ; chính vì thế, chúng ta không đọc: nguyện
danh Cha cả sáng nơi chúng con, vì ta muốn Danh Thánh được
cả sáng nơi mọi người (Tertuliano
3) [Back]
2815
Lời
nguyện đầu tiên này thâu tóm cả sáu lời nguyện
xin tiếp theo; tất cả đã được Thiên Chúa ưng nhận
qua lời
nguyện của
Chúa Ki-tô. Lời kinh dâng lên Chúa Cha là lời
nguyện của chúng ta nếu được dâng lên nhân danh Đức
Giê-su. Trong lời nguyện tư tế, Đức Giê-su đã cầu
xin: "Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ trong danh Cha những
người mà Cha đã ban cho con."
(Ga 17,11) [Back]
Nước Cha trị đến
Trong
Tân Ước, cùng một từ Hy-lạp BASILEIA có thể
dịch nhiều cách: vương quyền (danh từ trừu tượng),
vương quốc (danh từ cụ thể), vương triều (danh từ
chỉ việc cai trị). Nước Thiên Chúa đang ở trước
chúng ta, đã đến gần trong Ngôi Lời Nhập Thể,
được loan báo trong Tin Mừng, đã đến trong cuộc
Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Ki-tô. Từ bữa
Tiệc Ly và trong bí tích Thánh Thể, Nước Thiên Chúa đã
đến và đang ở giữa chúng ta. Vào ngày quang lâm, Nước
Thiên Chúa đến trong vinh quang và Đức Ki-tô trao lại cho Chúa
Cha:
"Có thể nói, Nước Thiên Chúa là chính Đức Ki-tô, Người
là Đấng chúng ta kêu cầu mọi ngày và đang nóng lòng
mong đợi Người quang lâm. Người là sự phục sinh của
chúng ta, vì chúng ta được phục sinh trong Người. Cũng
thế, Người là Nước Thiên Chúa, vì chúng ta được
hiển trị trong Người" (T. Xýp-ri-a-nô 13) [Back]
2817
Lời
nguyện này là lời "MA-RA-NA-THA", là tiếng kêu cầu
của Thần Khí và Hội Thánh "Lạy Chúa Giê-su, xin ngự
đến":
"Dù
lời cầu nguyện này không đòi chúng ta cầu cho Nước
Chúa trị đến, nhưng chúng ta vẫn kêu lên như thế, để
sớm đạt được những gì chúng ta kỳ vọng.
Sách Khải Huyền cho biết từ dưới bàn thờ,
linh hồn các vị tử đạo lớn tiếng kêu cầu
Chúa: "Lạy Chúa, cho đến bao giờ Ngài còn
trì hoãn, không xét xử và không bắt những người
sống trên mặt đất phải đền nợ máu chúng
con?" (Kn 6,10). Chắc chắn các ngài sẽ
được xét xử công bằng vào ngày tận thế. Lạy
Cha, nguyện Nước Cha trị đến (Tertulien 5)! [Back]
2818
Khi
đọc "Nước Cha trị đến", chúng ta mong đợi
ngày Nước Chúa hoàn tất khi Chúa Ki-tô quang lâm. Ước mong
này không làm cho Hội Thánh xao lãng sứ mạng nơi trần
thế, trái lại càng thúc giục chúng ta dấn thân hơn nữa.
Vì từ ngày Hiện Xuống, việc làm cho Nước
Chúa trị đến là công trình của Chúa Thánh Thần,
Đấng kiện toàn sự nghiệp của Chúa Ki-tô trên trần
gian và hoàn tất công trình thánh hóa muôn loài. [Back]
2819
"Nước
Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh
Thần" (Rm 14,17). Thời đại cuối cùng
mà chúng ta đang sống là thời Thánh Thần được ban tràn
đầy cho muôn người. Kể từ đó, cuộc chiến đấu
quyết định giữa xác thịt và Thần Khí đã khởi
đầu:
"Chỉ
người có tâm hồn trong sạch mới có thể tin tưởng
xướng lên: nguyện Nước Cha trị đến. Ai nghe lời
thánh Phao-lô dạy: "Đừng để tội lỗi thống
trị thân xác phải chết của chúng ta nữa" (Rm 6,12) và biết giữ tư tưởng, lời nói và
hành vi của mình trong sạch, người đó mới có thể
nói với Thiên Chúa: "nguyện Nước Cha trị đến"
(T. Xy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem 5,13) [Back]
2820
Được
Thánh Thần hướng dẫn, các tín hữu phải biết
phân biệt giữa sự thăng tiến của Nước Thiên
Chúa và sự tiến bộ văn hóa và xã hội trong môi
trường họ sinh sống. Phân biệt chứ không phải
tách biệt, vì ơn gọi sống đời đời không miễn
trừ nhưng đòi buộc con người phải sử dụng
những năng lực và phương tiện được Đấng Tạo
Hóa ban tặng, để phục vụ công lý và hòa
bình trên trần gian.
[Back]
2821
Lời
nguyện xin này được ghép vào và được Thiên Chúa nhận lời
trong lời nguyện của Đức Giê-su đang hiện
diện và hữu hiệu trong bí tích Thánh Thể. Lời
nguyện xin này sinh hoa kết quả trong đời sống mới
theo các mối phúc. [Back]
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời
Cha
chúng ta muốn "mọi người được cứu độ
và nhận biết chân lý" (1Tm 2,3-4). "Người kiên nhẫn đối với chúng ta, vì
Người không muốn cho ai phải diệt vong" (2 Pr 3,9). "Chúng ta hãy yêu thương nhau như Người
đã yêu thương chúng ta" (Ga 13,34). Đó là điều răn tóm lược
mọi điều răn khác và cho chúng ta biết rõ ý
Chúa. [Back]
2823
"Người
cho ta được biết Thiên ý nhiệm mầu: Thiên
ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định
từ trước là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới
quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô. Cũng trong
Đức Ki-tô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết
định và ý muốn của Người, đã tiền định
cho chúng ta đây làm cơ nghiệp riêng" (Ep1,9-11). Chúng ta khẩn xin Người cho kế hoạch yêu thương này
được thực hiện trọn vẹn dười đất, như
đã thực hiện trên trời.
[Back]
2824
Ý
Cha được thực hiện trọn vẹn và một lần
dứt khoát trong Đức Ki-tô và qua ý muốn nhân loại
của Người. “Khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: Lạy
Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý
Ngài" (Dt 10,7). Chỉ mình Đức
Giê-su mới có thể nói: "Tôi hằng làm những điều
đẹp ý Người" (Ga 8,29).
Trong giờ
hấp hối, Người cũng hoàn toàn vâng phục ý
Cha: "Xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha"
(Lc 22,42). Vì thế, "Đức
Ki-tô đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta,
theo ý muốn của Thiên Chúa" (Gl 1,4).
"Theo ý đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Đức
Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế"
(Dt 10,10). [Back]
2825
“Đức Giê-su, dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục" (Dt 5,8); phương chi chúng ta là những thụ tạo và là tội nhân, đã được nhận làm nghĩa tử của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô. Chúng ta cầu xin Chúa Cha cho ý muốn của ta nên một với ý muốn của Chúa Con để chúng ta chu toàn ý Cha và thực hiện ý định cứu độ của Cha là cho thế gian được sống. Trong công việc này, chúng ta hoàn toàn bất lực, nhưng nhờ kết hiệp với Đức Giê-su và nhờ quyền năng của Thánh Thần, chúng ta có thể dâng cho Cha ý muốn của ta và quyết định chọn điều Chúa Con luôn chọn: làm điều đẹp lòng Cha (Ga 8,29).
Khi gắn bó với Chúa Ki-tô, chúng ta có thể một lòng một ý với Người, và nhờ đó thực thi ý muốn của Người; như thế, ý Chúa sẽ được chu toàn dưới đất cũng như trên trời.
Hãy xem cách Đức Giê-su Ki-tô dạy chúng ta sống khiêm tốn, khi cho ta thấy rằng đức độ của ta không tùy thuộc công sức của mình nhưng nhờ ân sủng Thiên Chúa. Ở đây Người ra lệnh cho mỗi tín hữu: khi cầu nguyện, phải cầu nguyện chung cho toàn thế giới. Vì Người không dạy: "Xin cho ý Cha thể hiện" nơi tôi hay nơi anh em, nhưng là trên khắp địa cầu; nghĩa là chúng ta cầu nguyện: Xin Cha xóa bỏ mọi sai lầm, cho chân lý ngự trị, nết xấu bị hủy diệt, nhân đức được nảy nở và đất không còn khác với trời nữa. [Back]
2826
Nhờ
cầu nguyện, chúng ta "có thể nhận ra đâu là
ý Chúa" (Rm 12,2), và có được lòng
"kiên nhẫn để thi hành ý Thiên Chúa" (Dt 10,36). Đức Giê-su đã dạy: người ta
vào được Nước Trời, không phải nhờ nói, nhưng nhờ
việc "thi hành ý muốn của Cha trên trời"
(Mt 7,21).
[Back]
2827
"Ai
làm theo ý Thiên Chúa, thì Người nhậm lời kẻ
ấy" (Ga 9,31). Lời Hội Thánh cầu
nguyện nhân danh Chúa có được sức mạnh ấy, nhất
là trong Thánh Lễ. Lời cầu nguyện của Hội
Thánh còn là một lời chuyển cầu hiệp thông
với Thánh Mẫu của Thiên Chúa và với toàn thể các
thánh, những người đẹp lòng Chúa vì luôn thi
hành thánh ý Người:
Chúng
ta có thể không sợ sai khi dịch câu "Ý Cha thể
hiện dưới đất cũng như trên trời" là nguyện
cho Ý Cha được thể hiện trong Hội Thánh cũng
như nơi Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng con, nơi Hiền Thê của Người
cũng như nơi Phu Quân là Đấng đã chu toàn Ý Cha. [Back]
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày
"Xin
Cha cho chúng con" còn gì đẹp hơn lòng
tin tưởng của con cái trông chờ Cha ban cho mọi sự.
"Người cho mặt trời mọc lên, soi sáng kẻ xấu
cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người
công chính cũng như kẻ bất chính" (Mt 5,45). Hết mọi loài ngửa trông lên Chúa, đợi chờ
Ngài đến bữa cho ăn. Đức Giê-su dạy chúng ta lời
xin này vì đây là lời tôn vinh Chúa Cha, nhìn nhận
Người là Đấng Tốt Lành, vượt xa mọi lòng tốt
của con người. [Back]
2829
“Xin
Cha cho chúng con" cũng là lời cầu xin trong tinh thần
Giao Ước: chúng ta thuộc về Người và Người thuộc
về chúng ta, lo cho chúng ta. Nhưng "chúng con" cũng
nhìn nhận Người là Cha của mọi người, nên
cầu xin Cha cho mọi người, lời chúng con cùng chia sẻ
mọi nhu cầu và đau khổ của họ.
[Back]
2830
Khi
xin "lương thực", chúng ta muốn nói: Cha là Đấng
ban cho chúng con sự sống, không lẽ Cha lại không ban
cho chúng con lương thực cần thiết để sống, cùng
với mọi của cải xứng hợp cả tinh thần
lẫn vật chất. Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức
Giê-su nhấn mạnh đến lòng tín thác của con cái:
cộng tác với Cha là Thiên Chúa Quan Phòng. Người không
khuyến khích chúng ta thụ động, nhưng muốn giải
thoát ta khỏi mọi lo lắng và bận tâm. Người dạy
ta sống tâm tình phó thác của con cái Thiên Chúa:
Đối
với những ai lo tìm kiếm Nước Trời và sự
công chính của Thiên Chúa, Người hứa sẽ ban cho họ
đủ mọi sự. Mọi sự đều là của Chúa: ai
có được Thiên Chúa thì có mọi sự, miễn là Thiên
Chúa có người ấy. [Back]
2831
Chung
quanh ta còn có những người đói vì thiếu ăn. Điều
này mở ra cho chúng ta một ý nghĩa sâu xa hơn của
lời cầu xin này. Cảnh nghèo đói trên thế giới mời
gọi các Ki-tô hữu đang thật lòng cầu nguyện
phải có trách nhiệm thực tế đối với anh em,
cả trong đời sống cá nhân cũng như trong tình
liên đới với các gia đình nhân loại. Lời cầu
xin này trong kinh Lạy Cha gắn liền với giáo huấn
của dụ ngôn Người Nghèo Khó La-da-rô và dụ ngôn Ngày
Phán Xét Chung (Mt 25,31-46). [Back]
2832
Như
men trong bột, nét mới mẻ của Nước Trời phải
được Thần Khí của Chúa Ki-tô khơi dậy trên khắp địa
cầu. Nét mới mẻ này phải được thể hiện
qua việc thiết lập công bình trong các tương quan cá
nhân cũng như xã hội, kinh tế và quốc tế.
Chúng ta đừng bao giờ quên rằng không thể có cơ cấu
xã hội công bình nếu không có những con người
muốn sống công bình.
[Back]
2833
Chúng
ta xin lương thực cho chúng ta: ít lương thực cho nhiều người.
Mối phúc thứ nhất về tinh thần nghèo khó dạy
chúng ta biết chia sẻ: hiệp thông và chia sẻ của
cải vật chất cũng như tinh thần, không phải
vì bó buộc nhưng vì yêu thương, "Anh em có được
dư giả là để giúp đỡ những người đang lâm cảnh
túng thiếu" (2 Cr 8,15).
[Back]
2834
Thánh
Biển Đức dạy các đan sĩ: "Cầu nguyện và
làm việc" (T. Benoit 20,48). Chúng ta phải cầu
nguyện như thể tất cả đều tùy thuộc vào
Thiên Chúa và phải làm việc như thể tất cả tùy
thuộc vào mình. Lương thực nhận được sau khi
chúng ta đã vất vả làm việc vẫn là quà tặng
của Cha Trên Trời; nên chúng ta vẫn phải cầu xin
Cha ban lương thực và phải tạ ơn Người vì lương
thực có được. Vì thế, các gia đình Ki-tô hữu
đọc kinh khi dùng bữa. [Back]
2835
Lời
cầu xin này trong kinh Lạy Cha và trách nhiệm kèm theo, cũng
áp dụng vào một cái đói khác mà con người phải chịu,
đói Lời Chúa và Thánh Thần như Sách Thánh nói: "người ta
sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ
mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra" (Đnl 8,3; Mt 4,4). Các Ki-tô hữu phải vận dụng mọi nỗ lực
để loan Tin Mừng cho những người nghèo khó. Con người
trên trái đất còn một thứ đói khát, "không phải
đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói
khát được nghe Lời Đức Chúa" (Am 8,11). Vì thế, người Ki-tô hữu đặc biệt hiểu
lời xin thứ tư về Bánh Hằng Sống: đó là Lời
Chúa ta đón nhận trong đức tin và Mình Thánh Chúa ta
lãnh nhận trong bí tích Thánh Thể (Ga 6,26-58). [Back]
2836
Khi
đọc "hôm nay", chúng ta cũng nói lên lòng tín thác.
Chúa dạy như vậy chứ chúng ta không dám đặt ra. Khi nói
đến Lời và Mình Thánh Chúa, chữ "hôm nay"
không chỉ nói đến ngày hôm nay của thời gian mau qua
này, mà muốn nói đến Ngày Hôm Nay của Thiên Chúa:
"Nếu
bạn nhận được lương thực mỗi ngày, thì mỗi
ngày đối với bạn đều là ngày hôm nay. Nếu Đức
Ki-tô thuộc về bạn hôm nay, thì mỗi ngày Người
sống lại cho bạn. Làm sao lại như thế được?
Thiên Chúa phán: "Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã
sinh ra con" (Tv 2,7). Ngày Hôm Nay nghĩa là Ngày Đức
Ki-tô Phục Sinh. [Back]
2837
"Hằng
ngày": Tân Ước không có chỗ nào khác sử dụng từ
ngữ này. Hiểu theo nghĩa thời gian, chữ "hằng
ngày" lặp lại chữ "hôm nay" theo ý giáo
dục giúp chúng ta khẳng định lòng tin tưởng tuyệt
đối nơi Thiên Chúa. Gắn với từ "lương thực",
đây là những gì cần để sống, hay hiểu rộng
hơn là những gì cần để sống đầy đủ.
Nguyên ngữ Hy lạp (épiousios: vượt trên cái cốt yếu)
trực tiếp chỉ về Bánh Hằng Sống,
Mình Thánh Chúa, phương dược trường sinh, nếu thiếu
chúng ta không có Sự Sống. Cuối cùng, liên kết với
những gì vừa nói trên đây, ý nghĩa Nước Trời
rất rõ: "hằng ngày" là Ngày của Chúa, Ngày của
Tiệc Nước Trời đã được cho thấy trước
trong Thánh Lễ để chúng ta nếm trước Nước Trời
đang đến. Vì thế nên cử hành Thánh Thể "hằng
ngày"
"Thánh
Thể là lương thực hằng ngày của chúng ta. Đặc
tính của lương thực thần thiêng này là sức mạnh
hiệp nhất : hiệp nhất chúng ta với Thân Thể
Đấng Cứu Độ và làm cho chúng ta trở nên chi thể
Người, để chúng ta trở thành Thân Thể của Đấng
chúng ta lãnh nhận...Lương thực hằng ngày cũng được
ban trong các bài đọc chúng ta nghe mỗi ngày ở nhà thờ,
trong các thánh thi chúng ta nghe và hát. Tất cả đều cần
thiết cho chúng ta trên đường lữ hành" (T. Âu-tinh).
Cha Trên Trời khuyến khích chúng ta là con cái Nước Trời hãy xin Bánh Bởi Trời. Đức Ki-tô là tấm bánh: Thiên Chúa gieo trong lòng Đức Trinh Nữ, cho lớn lên trong xác phàm, nhào nắn trong cuộc Khổ Nạn, nướng trong mộ đá, cất giữ trong Hội Thánh, dọn ra trên các bàn thờ, và mỗi ngày cung cấp cho các tín hữu làm lương thực trường sinh. [Back]
Xin tha nợ chúng con như chúng con
cũng tha kẻ có nợ chúng con
Lời cầu xin này thật lạ lùng. Nếu chỉ có phần đầu "xin tha nợ chúng con", lời xin này lẽ ra đã hàm chứa trong ba lời nguyện đầu kinh Lạy Cha, vì Đức Ki-tô tự hiến tế để "cho mọi người được tha tội". Phần thứ hai của lời xin cho thấy: Thiên Chúa chỉ nhận lời nếu trước đó chúng ta đáp ứng một đòi buộc. Lời xin này sẽ được Thiên Chúa ban với điều kiện chúng ta phải đáp ứng điều Chúa đòi buộc trước: Thiên Chúa sẽ tha cho chúng ta "như" chúng ta tha cho anh em. [Back]
2839
Xin tha nợ chúng con
Chúng ta đã bắt đầu xin Cha trên trời với
lòng tin tưởng dạn dĩ. Khi "nguyện Danh Cha
cả sáng", chúng ta đã xin Người luôn thánh hóa chúng ta
hơn nữa. Nhưng dù đã được mặc áo trắng tinh tuyền
khi Rửa Tội, chúng ta vẫn tiếp tục phạm tội,
quay lưng lại với Thiên Chúa. Giờ đây, trong lời xin
này, chúng ta như người con hoang đàng trở về với Cha,
và như người thu thuế nhận mình là tội nhân trước
nhan Người. Lời xin này bắt đầu bằng một lời
thú tội, vừa thú nhận tình trạng khốn cùng
của mình vừa tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng hay thương
xót. Niềm hy vọng này được bảo đảm trong Con Một
Người, "chúng ta đã được cứu chuộc, được
thứ tha tội lỗi" (Cl 1,14; Ep 1,7). Trong các bí tích của Hội Thánh, chúng ta
gặp được dấu chỉ hữu hiệu và chắc chắn
về ơn tha tội. [Back]
2840
Nhưng thật đáng sợ, nguồn ơn thương xót của
Thiên Chúa không vào được lòng ta nếu chúng ta không tha cho
những người có lỗi với chúng ta. Cũng như Thân Thể
Đức Ki-tô, Tình yêu không thể phân chia: chúng ta không thể
yêu mến Thiên Chúa mà ta không thấy, nếu ta không yêu mến
anh chị em mà ta đang thấy được. Khi từ chối tha
thứ cho anh chị em mình, lòng chúng ta đóng lại
và trở nên chai đá không thể đón nhận tình thương tha
thứ của Cha. Khi thú nhận tội lỗi, chúng ta mở
rộng tâm hồn để đón nhận ân sủng của Người. [Back]
2841
Lời xin này quan trọng đến nỗi đây là lời
duy nhất, trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giê-su phải trở
lại chủ đề này và khai triển thêm. Con người
không có khả năng chu toàn đòi hỏi quyết liệt
này của mầu nhiệm giao ước, nhưng Thiên Chúa có thể
làm được mọi sự. [Back]
2842
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con
Khi giảng dạy, Đức Giê-su nhiều lần dùng
chữ "như": "anh em hãy nên hoàn thiện
"như" Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện"
(Mt 5,48); "Anh em hãy có
lòng nhân từ "như" Cha anh em là Đấng nhân từ"
(Lc 6,36); "Thầy ban cho anh em
một điều răn mới: anh em hãy yêu thương nhau
"như" Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34). Chúng ta không thể giữ được điều răn của
Chúa, nếu chỉ bắt chước Chúa bằng những
hành vi bên ngoài. Chúng ta phải hiệp thông sống động
và hết lòng với sự thánh thiện, lòng
thương xót và yêu thương của Thiên Chúa. Chỉ có Thánh Thần,
"nhờ Người mà chúng ta sống" (Ga 5,25), mới có thể làm cho chúng ta có được
tâm tình của Đức Giê-su Ki-tô (Pl 2,1-5). Khi được hiệp thông với Thiên Chúa đầy
lòng tha thứ, "chúng ta biết tha thứ cho nhau "như"
Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta trong Đức Ki-tô" (Ep 4,32). [Back]
2843
Như
thế, lời Chúa dạy về tha thứ mang sức sống
vì dạy chúng ta sống đến tận cùng của
tình yêu (Ga 13,1). Khi đưa ra dụ ngôn người
đầy tớ không biết thương xót là đỉnh cao của giáo
huấn về hiệp thông trong Hội Thánh, Đức Giê-su kết
luận: "Cũng vậy, Cha của Thầy ở trên trời
cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu
mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ
cho anh em mình" (Mt 18, 23-35). Tội lỗi của
chúng ta bị cầm buộc hay được tháo gỡ đều
tùy vào việc hết lòng tha thứ của ta. Chúng ta
không có khả năng bỏ qua hay quên đi lỗi của anh em;
nhưng ai sống theo Thánh Thần sẽ biết cảm thương
người bị xúc phạm đến mình và thanh luyện
ký ức bằng cách chuyển cầu cho người có lỗi.
[Back]
2844
Việc
cầu nguyện giúp người Ki-tô hữu biết tha thứ
cho cả kẻ thù, và biến
đổi người môn đệ nên đồng hình đồng dạng
với Thầy của mình. Tha thứ là một đỉnh
cao của kinh nguyện Ki-tô giáo; Thiên Chúa chỉ ban ơn cầu
nguyện cho tâm hồn nào biết hòa nhịp với
lòng thương xót của Người. Tha thứ còn minh chứng
rằng trong thế giới này, tình yêu mạnh hơn tội
lỗi. Các vị tử đạo, trong quá khứ cũng như
hiện tại, đều làm chứng cho Đức Giê-su bằng
cách này. Tha thứ là điều kiện căn bản để có sự
giao hòa giữa con người với Thiên Chúa và giữa
con người với nhau. [Back]
2845
Sự tha thứ này bắt nguồn từ Thiên Chúa nên không có giới hạn hay mức độ. Nếu đề cập đến xúc phạm (hay "tội" theo Lc 11,4; "nợ" theo Mt 6,12), trong thực tế chúng ta luôn luôn là kẻ mắc nợ: "anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái" (Rm 13,8). Sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Chí Thánh là nguồn mạch và tiêu chuẩn chân thực cho mọi tương quan. Chúng ta sống hiệp thông này trong cầu nguyện, nhất là trong bí tích Thánh Thể.
"Thiên Chúa không nhận lễ vật của kẻ gây bất hòa. Người dạy họ để của lễ lại bàn thờ về giao hòa với anh em trước đã; Thiên Chúa chỉ vui nhận những lời cầu nguyện trong an hòa. Đối với Thiên Chúa, lễ dâng đẹp nhất là chúng ta sống an bình, hòa thuận, và toàn dân thánh hiệp nhất trong Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (T. Cyprien 23) [Back]
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ
Lời xin này đề cập đến gốc rễ của lời xin trước, vì chúng ta phạm tội khi chiều theo chước cám dỗ. Do đó, chúng ta xin: chớ để chúng con "sa" chước cám dỗ. Theo nguyên ngữ Hy Lạp, chữ "sa" này có nghĩa là "lâm vào", khỏi sa ngã theo chước theo cám dỗ. "Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Người cũng không cám dỗ ai" (Gc 1,13). Trái lại, Người muốn giải thoát chúng ta khỏi cơn cám dỗ. Chúng ta cầu xin Người đừng để ta đi vào con đường dẫn đến tội lỗi. Chúng ta đang bị giằng co giữa xác thịt và Thần Khí. Với lời nguyện cầu này, chúng ta muốn xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để biết nhận định và có sức mạnh chống lại cơn cám dỗ. [Back]
2847
Chúa Thánh Thần giúp chúng ta biết "nhận định" đâu là thử thách cần thiết để con người nội tâm tăng trưởng nhờ "quen chịu đựng gian truân" (Rm 5,3-5), và đâu là cám dỗ dễ dẫn đến tội lỗi và sự chết. Chúng ta còn phải biết phân biệt giữa bị cám dỗ và chiều theo chước cám dỗ. Nhờ nhận định, chúng ta có thể vạch trần sự dối trá của chước cám dỗ: bề ngoài, đối tượng có vẻ "ngon lành, trông đẹp mắt, đáng quý" (St 3,6), nhưng kết quả của nó là sự chết.
Thiên Chúa không muốn áp đặt điều tốt, Người muốn chúng ta tự do. Cám dỗ cũng có cái lợi. Ngoại trừ Thiên Chúa, không ai biết được những gì hồn ta đã nhận được từ Thiên Chúa, kể cả chính bản thân ta. Nhưng cơn cám dỗ bộc lộ cho chúng ta biết nhận ra con người của mình; nhờ đó, chúng ta khám phá ra tình trạng tệ hại của mình, và buộc chúng ta phải tạ ơn Chúa vì những ơn lành được cơn cám dỗ làm lộ ra. [Back]
2848
Muốn khỏi "sa
chước cám dỗ", chúng ta phải có quyết tâm:
"Kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở
đó... Không ai có thể làm tôi hai chủ" (Mt 6,21.24). "Nếu chúng ta sống nhờ Thần
Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà hành động"
(Gl
5,25). Khi biết chiều theo Thánh
Thần, chúng ta được Chúa ban sức mạnh. "Không một
cám dỗ nào đã xảy đến cho anh em mà lại vượt
quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín: Người
sẽ không để anh em bị cám dỗ quá sức; nhưng khi để
anh em bị cám dỗ, Người sẽ cho anh em phương thế
để thoát khỏi và sức mạnh để chịu đựng"
(1
Cr 10,13). [Back]
2849
Trong
cuộc chiến đấu này, chúng ta chỉ có thể chiến
thắng nhờ cầu nguyện. Nhờ cầu nguyện,
Đức Giê-su đã chiến thắng Tên Cám Dỗ, lúc khởi
đầu sứ vụ và trong cuộc chiến cuối cùng vào
giờ hấp hối. Đức Ki-tô kết hiệp chúng ta với
Người trong cuộc chiến đấu và cơn hấp hối của
Người để xin Chúa Cha "chớ để chúng con sa chước
cám dỗ". Người khẩn nài chúng ta cùng canh thức với Người.
Canh thức là giữ tâm hồn mình. Đức Giê-su xin
Chúa Cha "gìn giữ chúng ta trong danh Cha" (Ga 17,11). Chúa Thánh Thần luôn tìm cách giúp chúng ta
canh thức. Lời cầu xin này càng trở nên quan trọng
hơn nữa, khi cuộc chiến đấu trên trần thế của
ta bước vào cơn cám dỗ cuối cùng; chúng ta phải xin ơn bền đỗ đến cùng:
"Đây, Ta đến như kẻ trộm. Phúc
thay kẻ đang canh thức" (Kh 16,15). [Back]
2850
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ
Lời xin cuối cùng dâng lên Cha cũng được bao hàm trong kinh nguyện của Đức Giê-su: "Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần" (Ga 17,15). Lời xin này liên hệ đến từng người chúng ta, nhưng bao giờ cũng là "chúng con" đang cầu nguyện, trong hiệp thông với toàn Hội Thánh và xin Thiên Chúa cứu toàn thể gia đình nhân loại. Kinh Lạy Cha không ngừng mở ra cho chúng ta thấy những chiều kích của nhiệm cục cứu độ. Chúng ta từng liên đới với nhau trong tội lỗi và sự chết, nay được liên đới trong Thân Thể Chúa Ki-tô, trong mầu nhiệm các thánh thông công. [Back]
2851
Trong
lời xin này, Sự Dữ không là một điều trừu
tượng, nhưng là một nhân vật, là Xa-tan, Ác thần, thiên
thần đã chống lại Thiên Chúa. Sự Dữ ở
đây là ma quỷ (tiếng Hy Lạp là Dia-Bolos: kẻ phá
ngang), kẻ tìm cách ngăn cản kế hoạch của
Thiên Chúa và công trình cứu độ trong Chúa Ki-tô.
[Back]
2852
Ma quỷ "ngay từ
đầu đã là tên sát nhân, là kẻ nói dối và là cha sự
gian dối" (Ga 8,44), "là Xa-tan, tên chuyên mê hoặc toàn thể
nhân loại" (Kh 12,9). Do thần
dữ, tội lỗi và sự chết đã xâm nhập
thế giới, và khi nó bị đánh bại hoàn toàn, mọi thụ
tạo sẽ được giải thoát khỏi tội
lỗi và sự chết. "Chúng ta biết rằng phàm ai
đã được Thiên Chúa sinh ra, thì không phạm tội
nhưng có Đấng Thiên Chúa đã sinh ra gìn giữ người
ấy và Ác Thần không đụng đến người ấy được.
Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Thiên Chúa,
còn tất cả thế gian đều nằm dưới ách
thống trị của Ác Thần" (1Ga 5,18-19):
"Chúa là Đấng xóa tội và tha lỗi cho chúng ta; Người
bảo vệ và gìn giữ chúng ta khỏi những mưu
kế của Ma Quỷ hãm hại, để kẻ thù
quen dẫn đường tội lỗi không lừa dối được
chúng ta. Ai trông cậy Chúa thì không sợ ma quỷ.
"Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, còn ai chống lại
được chúng ta?" (Rm 8,31) [Back]
2853
Thần
Dữ là thủ lãnh thế gian đã bị đánh bại,
một lần dứt khoát, vào Giờ Đức Giê-su tự hiến
thân chịu chết để ban cho chúng ta Sự Sống của
Người. Đó là lúc Người phán xét thế gian này và "thủ
lãnh thế gian này bị tống ra ngoài" (Ga 12,31; Kh 12,11). "Sách Khải Huyền
cho biết: "Khi đó, nó đuổi bắt Người Phụ Nữ"
(12,13), nhưng không bắt được Bà;
Bà là E-và mới, "đầy ân sủng" của Thánh Thần,
được gìn giữ khỏi tội lỗi và sự hư
nát do cái chết. Hội Thánh hiểu Người Phụ Nữ
này là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa, trọn đời
đồng trinh, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội và được ơn Hồn
Xác Lên Trời. Người Phụ Nữ này cũng là hình
ảnh của Hội Thánh. "Lúc đó, nó nổi giận với
Người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người
còn lại trong dòng dõi Bà" (Kh 12,17). Vì thế Thánh Thần và Hội Thánh
cùng cầu nguyện: "Lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến"
(Kh 22,17-20), vì khi Người quang lâm sẽ
giải thoát chúng ta khỏi tay Ác Thần.
[Back]
2854
Khi
xin Thiên Chúa giải thoát khỏi Ác Thần, chúng ta cũng
xin cứu khỏi mọi sự dữ trong quá khứ, hiện
tại và tương lai, do ma quỷ là thủ phạm hay kẻ chủ
mưu. Trong lời cầu xin cuối cùng này, Hội Thánh
trình lên Cha mọi nỗi khốn cùng của thế giới.
Hội Thánh không những xin được gìn giữ khỏi mọi sự
dữ đang hoành hành nơi nhân loại, mà còn van xin
Cha ban ơn bình an và ơn bền vững đang khi trông đợi
ngày Đức Ki-tô quang lâm. Khi cầu nguyện như thế,
Hội Thánh khiêm tốn và tin tưởng tiền dự vào ngày
mọi người và mọi loài được quy tụ trong Đức
Ki-tô Đấng nắm quyền trên "Tử Thần và Âm Phủ,
Chủ Tể của mọi sự, Đấng hiện
có, đã có và đang đến" (Kh 1,4.8.18):
Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi
mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng
con đang sống được bình an. Nhờ Cha rộng
lòng thương cứu giúp, chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi
tội lỗi, và được an toàn khỏi mọi biến
loạn, đang khi chúng con đợi chờ ngày hồng phúc, ngày
Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ chúng con ngự
đến. [Back]
Vinh tụng ca kế̉ thúc
Ðể kết thúc, Vinh tụng ca
"Vì Cha là Vua, là Chúa quyền năng, là Ðấng vinh hiển
muôn đời" lặp lại ba lời nguyện đầu
tiên dâng lên Cha trên trời: danh Cha cả sáng, Nước Cha trị
đến, Ý Cha thể hiện. Nhưng câu lặp lại này
mang hình thức thờ lạy và tạ ơn, như lời cộng
đoàn chư thánh trên trời. Xa-tan là thủ lãnh thế gian
này đã dối gạt người đời, tự gán cho
mình ba tước hiệu: Vua, quyền năng và vinh quang.
Ðức Ki-tô là Ðức Chúa, Người hoàn lại các tước
hiệu này về cho Cha của Người cũng là Cha của
chúng ta, cho tới ngày Người trao Vương Quốc lại cho
Cha, khi mầu nhiệm cứu độ được hoàn tất
chung cuộc, khi Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài. [Back]
2856
Sau khi đọc
kinh xong, chúng ta thưa: A-MEN, nghĩa là "Xin Chúa cứ làm cho
con như vậy" (Lc 1,38). Qua lời A-men, chúng ta quyết tâm đón
nhận những điều Thiên Chúa dạy trong lời kinh
này. [Back]
Tóm lược
Trong kinh Lạy Cha, ba lời nguyện đầu hướng
về Vinh Quang của Cha: Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị
đến, Ý Cha thể hiện. Bốn lời xin sau
trình lên Người những ước vọng của chúng
ta. Chúng ta xin những gì cần thiết cho đời sống
của mình: lương thực nuôi sống, ơn tha tội, và
ơn phù trợ trong cuộc chiến để đạt tới điều
thiện và thắng được Sự Ác.
[Back]
2858
Khi "nguyện danh Cha cả sáng", chúng ta tham dự
vào chương trình của Thiên Chúa: làm cho Danh Người -
đã mặc khải cho Mô-sê, sau đó được biểu lộ
nơi Ðức Giê-su được cả sáng, được tôn vinh nơi
chúng ta và do chúng ta, cũng như nơi mỗi người và nơi muôn dân.
[Back]
2859
Với lời nguyện thứ hai, Hội Thánh mong đợi
ngày Ðức Ki-tô quang lâm và Nước Chúa hoàn tất. Triều
Ðại Thiên Chúa đến lần cuối cùng khi Ðức
Ki-tô tái lâm. Chúng ta cũng cầu xin cho Nước Thiên Chúa lớn
mạnh trong "ngày hôm nay" của đời sống ta.
[Back]
2860
Trong lời nguyện thứ ba, chúng ta xin Cha trên trời
cho ý của ta được nên một với ý của
Chúa Con để chu toàn chương trình Cứu Ðộ của
Người trong cuộc sống trần thế.
[Back]
2861
Trong lời xin thứ tư, khi đọc "xin cho chúng
con", chúng ta hiệp thông với anh em, nói lên lòng tín
thác của con cái đối với Cha trên trời. Chữ
"lương thực" vừa chỉ thức ăn cần để
nuôi sống thân xác, vừa chỉ về Bánh Hằng Sống
là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa Ki-tô. Chúng ta được
lãnh nhận lương thực thiên quốc này trong "Ngày
Hôm Nay" của Thiên Chúa, như của ăn không thể thiếu,
của ăn cốt yếu của Bàn Tiệc Nước Trời
mà chúng ta được nếm trước trong bí tích Thánh Thể. [Back]
2862
Lời xin thứ năm khẩn cầu Thiên Chúa xót thương
tha thứ những gì ta xúc phạm đến Người.
Nguồn ơn thương xót của Chúa chỉ vào được lòng
ta nếu ta biết tha thứ cho kẻ thù, theo gương mẫu
và với sự trợ giúp của Chúa Ki-tô.
[Back]
2863
Khi đọc "xin chớ để chúng con sa chước cám
dỗ", chúng ta cầu xin Thiên Chúa đừng để chúng ta
theo con đường dẫn đến tội lỗi. Với lời
cầu này, chúng ta muốn xin Thiên Chúa ban Thánh Thần để
biết nhận định và có sức mạnh, biết canh thức
và bền đỗ đến cùng. [Back]
2864
Trong lời xin cuối cùng "nhưng cứu chúng con cho
khỏi sự dữ", cùng với Hội Thánh chúng ta xin
Thiên Chúa biểu dương chiến thắng mà Ðức Ki-tô
đã đạt được trên thủ lãnh thế gian là
Xa-tan, kẻ chống đối Thiên Chúa và chương trình cứu
độ của Người.
[Back]
2865
Với tiếng A-men cuối cùng, chúng ta thưa "xin
Chúa cứ làm cho con" như bảy lời nguyện xin,
"ước gì được như vậy... " [Back]